“Ngoài ra, tôi hy vọng cô tiếp tục giúp tôi ghi chép và—”
“Đương nhiên rồi, Maud.” Cô vui mừng vì mẹ chồng lại cần đến mình đến vậy. “Trên thực tế, tôi đã cảm thấy công việc làm không xuể.”
“Tốt.” Maud đứng dậy từ ghế ngồi. “Nào, Claire, chúng ta xem đến đâu rồi.”
Claire đứng lên, vượt qua Maud ra lối đi. Trong khoang máy bay mờ ảo, họ đi dọc lối đi, lướt qua khoang thiết bị hạ cánh, qua khu vực túi thư, hành lý và nhà vệ sinh, qua lối cửa chính, bất ngờ xuất hiện bên cạnh Rasmussen và Hape trong buồng lái ngập khói thuốc.
Nghe thấy tiếng động, Rasmussen nhanh chóng quay người từ bảng điều khiển, giống như một đứa trẻ nghịch ngợm bị đinh tán chích một phát phía sau nhà kho, lập tức lấy điếu xì gà ra khỏi miệng. Anh ta dùng tay kia xua đi một đám mây khói, gật đầu chào hỏi.
“Hây da, đến rồi đấy,” anh ta nói, nghiêng người ấn điếu xì gà vào chiếc gạt tàn kim loại trên sàn.
“Tôi hy vọng anh không phiền vì sự tò mò của chúng tôi.” Maud lên tiếng.
“Không sao đâu thưa phu nhân, không sao. Các vị đã trả tiền, các vị có quyền ngó nghiêng tùy thích.”
Claire đứng chen vào phía sau chiếc ghế lái bên cạnh Maud. Đôi mắt cô chuyển từ bảng đồng hồ phức tạp sang tấm kính chắn gió, tìm kiếm khung cảnh phía xa qua hai động cơ. Vẫn là màn đêm, tuy không tối đen như mực nhưng vẫn xám đợt, sương mù dày đặc như đang lơ lửng lên xuống, đại dương bên dưới vẫn chưa thể nhìn thấy.
“Sắp sáng rồi,” Claire nói với Maud.
“Đúng vậy, nhưng tôi không thấy—”
“Hãy để cô ấy đợi thêm 15 phút nữa, thưa phu nhân,” Rasmussen cắt lời cô, “các vị sẽ thấy tia nắng đầu tiên, và cũng sẽ thấy Thái Bình Dương.”
“Ồ, thuyền trưởng,” ngay cả Maud cũng cảm thấy việc gọi chức danh của anh ta thật khó khăn. “Còn bao xa nữa?”
“Tôi nói 15 phút nữa trời sáng, thì thêm 5 phút nữa sẽ thấy Đảo Hải Yêu.”
Trò chuyện với Rasmussen cứ như lội qua một đầm lầy vô cùng chật vật, nhưng dẫu vậy, Maud vẫn tiếp tục gặng hỏi. “Cái tên Hải Yêu này bắt nguồn từ đâu vậy?”
Rasmussen lấy tay che miệng nấc một cái, lầm bầm xin lỗi. “Chuyện này phải hỏi Tom-Courtney, nhưng nói thật, tôi cũng biết được khối thứ từ lão ta. Tối từ năm 1796, lão Wright là người đầu tiên xuất phát từ Townsville, đang tìm một nơi để nghỉ chân, trong lúc hành trình lão đọc rất nhiều sách, đọc mấy cuốn sổ cũ đó. Đột nhiên nhân viên quan sát hét lớn phát hiện ra mấy hòn đảo mới—chính là mấy hòn đảo mà các vị sắp thấy đây—lúc này lão Wright vẫn đang nằm trên giường đọc một cuốn sách do người tên là—Homer—viết, các vị biết Homer chứ?”
Maud và Claire nghiêm túc gật đầu.
“Lão đang đọc cuốn sách đó, không nhớ rõ tên sách nữa, đọc đến đoạn gã đó đang lang thang khắp nơi, chịu không ít khổ sở, muốn về nhà, về với mụ già đó.”
“Là sử thi Odyssey,” Maud hào phóng nói.
“Hừ, mặc thây cái tên gì đi, dù sao thì lão Wright đang đọc đến đoạn đó, đọc đến việc gã này đang lái thuyền vượt qua mấy hòn đảo, nơi có mấy con yêu nữ đang hát hò dụ dỗ bọn họ, xin lỗi nhé, thế là lão liền dùng sáp niêm phong nhét chặt tai lại để không nghe thấy, còn mẹ kiếp tự trói mình vào ván giường—quên mất đoạn sau thế nào rồi.”
Anh ta đăm chiêu suy nghĩ về cốt truyện, Claire lấy hết can đảm lên tiếng. “Circe nói với Ulysses rằng: 'Đầu tiên các ngươi sẽ gặp những con hải yêu, chúng quyến rũ bất cứ kẻ nào đến gần chúng, giả như bất kỳ người đàn ông nào vô tình đến gần và nghe chúng hát, hắn sẽ vĩnh viễn không thể trở về nhà được nữa.'”
“Á, đúng thế đấy!” Rasmussen kêu lên. Anh ta liếc nhìn Claire, như thể cô là một phát hiện mới vô cùng đáng ngưỡng mộ. “Cô thật thông minh, thưa phu nhân, thông minh giống như Courtney vậy.”
Cô rất đắc ý vì được nhìn nhận là thông minh giống như Courtney. “Cảm ơn anh, thuyền trưởng.”
“Dù sao thì,” Rasmussen nói tiếp, “lão già Wright lên boong tàu nói rằng, 3 hòn đảo này trông rất đẹp, không biết có phải là những hòn đảo trong sách nói hay không, chi bằng cứ lấy tên trong sách để đặt cho chúng, chính là cái tên mà cô vừa nhắc tới—Hải Yêu—bởi vì có 3 hòn đảo, lão cứ gọi chúng là 'Tam Hải Yêu', đó là lời giải thích đấy.”
Đối với Claire, xét đến bối cảnh của cả hai bên đối thoại và vị trí cao từ 6.000 đến 10.000 feet mà họ đang ở, cuộc thảo luận vô cùng khập khiễng này thực sự khiến cô cảm thấy thú vị và vui vẻ.
“Thuyền trưởng Rasmussen,” Maud nói, “hỏi một câu chuyện cá nhân chắc anh không phiền chứ?”
Khuôn mặt thô ráp, từng trải gió sương của anh ta tối sầm lại, đầy vẻ hoài nghi, miệng mím chặt. “Còn tùy đó là câu hỏi gì,” anh ta đáp.
“Giáo sư Ethelday, hay bất cứ ai, đều phủ lên Đảo Hải Yêu một lớp màn thần bí,” Maud nói, “nhưng tôi vẫn luôn không hiểu, một số người ngoài đảo làm sao lại biết đến chúng, ví dụ như Courtney này, và cả anh nữa, các anh làm sao mà biết được?”
Rasmussen cau mày, như thể anh ta phải kiểm tra lại câu trả lời rồi mới có thể đáp. Rõ ràng, việc suy nghĩ đối với anh ta là một quá trình chậm chạp và tốn sức, anh ta cần thời gian để chuẩn bị câu trả lời. Cuối cùng, anh ta đáp. “Không nói đến Tom-Courtney, đó là chuyện của cậu ta, và cậu ta cũng sẽ không nói cho người khác biết cậu ta đến đây bằng cách nào đâu, cô cứ đi mà hỏi cậu ta, cô sẽ có cơ hội thôi. Cậu ta là người dễ nói chuyện, giống như tất cả bọn tôi đang ở đây vậy, nhưng bản thân cậu ta thì chẳng nói nhiều đâu, thế nên, cô cứ đi mà hỏi cậu ta nhé!”
“Thế còn anh thì sao?” Maud kiên trì không buông tha.
“Tôi á? Chuyện này tôi chẳng có bí mật gì phải giữ cả, nhất là khi cô sắp đến đó rồi. Tôi á? À, có lẽ cả thế kỷ rồi tôi không nhớ lại nó nữa. Khoảng 30 năm trước, tôi vẫn là một thằng nhóc chưa thành niên, đi lang thang khắp nơi, thậm chí đôi khi còn đâm đầu vào bụi rậm đến sứt đầu mẻ trán, cô tin không. À, tôi từng làm việc cho công ty thiết bị cơm dừa khô lớn của họ, thiết bị lấy từ công ty bố con Godefroy, còn có cả của người Anh, công ty Lever Brothers nữa, tôi cũng nhúng tay vào, tôi là kẻ ngồi không yên mà. Tôi mua một chiếc thuyền buồm—nó đẹp lắm đấy, và bắt đầu tự làm ăn. À, trong một chuyến hành trình buôn bán, tôi đã rời khỏi hải trình thông thường, muốn đi vòng quanh ngó nghiêng chút—vào một buổi sáng, chúng tôi nhìn thấy tên nhóc người Polynesia này đang trôi dạt bập bềnh trên một chiếc độc mộc, trên thuyền có một cánh buồm lá dứa đang xoay mòng mòng dưới nước. À, chúng tôi vớt hắn lên, đánh thức hắn tỉnh lại, hóa ra hắn đang muốn đi đến chỗ nào đó, kết quả là bị đau bụng—xin lỗi nhé, thưa phu nhân—hắn ngất lịm đi, cứ nằm đờ ra đó, hắn bị say nắng rồi. Tôi thực sự không biết phải xử lý thế nào. Hắn nói nếu chúng tôi không đưa hắn về nhà thì hắn sẽ chết, hắn nói nhà hắn ở gần đây thôi. Hắn nói họ có thể chữa khỏi cho hắn. Hắn bảo chúng tôi vị trí nhà hắn ở đâu, nhưng ban đầu tôi tưởng hắn bệnh nên nói sảng, bởi vì tôi chưa từng nghe nói có nơi nào như thế cả, mà mấy chỗ này hầu như tôi đều biết rõ. Dù sao thì, chúng tôi cũng đưa hắn đến đó, theo phương hướng—khá chắc chắn, chúng tôi đã phát hiện ra Đảo Hải Yêu, và thả neo xuống. Đến lúc tôi đưa cậu nhóc này lên bờ thì hắn đã đỡ hơn nhiều rồi, hắn sợ chết khiếp, bởi vì lúc hôn mê hắn đã chỉ đường cho tôi, cho đến lúc đó vẫn chưa ai biết đến nơi này, người lạ bị nghiêm cấm tuyệt đối vào đây. Nhưng bản thân tôi lúc đó cũng chỉ là một tên nhóc lông bông, hoàn toàn chẳng coi mấy lời nhảm nhí của người bản địa ra gì, tôi thấy cậu nhóc đó hoảng loạn đến mức rời khỏi bờ biển thôi cũng đã khó khăn lắm rồi. Thế là tôi gặng hỏi hắn đường đi, nửa đẩy nửa kéo hắn đi vào trong làng. À, tôi nói cho cô nghe, dân làng không những không chặt đầu tôi, mà ngược lại còn coi tôi như đại anh hùng, bởi vì cậu nhóc mà tôi cứu chính là người thân huyết thống của tù trưởng. Hắn cũng là—thôi, hắn chết rồi—hắn chính là bố của Dick Hape đấy.”
Maud và Claire nhìn theo ngón tay của Rasmussen hướng về phía người thanh niên tóc đen, da nâu nhạt đang cúi người vận hành bảng điều khiển. Cậu ta hơi quay người lại, nhanh chóng trao đổi ánh mắt với họ rồi gật đầu. “Vâng, đúng vậy,” cậu ta nói.
“Lắm chuyện làm gì,” Rasmussen nói, “thầy lang trong bộ tộc đã cứu bố của Hape, ông ấy mới mất cách đây vài năm thôi. Tôi—họ không cho tôi đi, bắt tôi ăn uống say sưa cho đến khi tôi gần như chẳng bước nổi nữa. Họ phá bỏ điều cấm kỵ, cử hành nghi lễ, khiến tôi trở thành thành viên danh dự của bộ tộc. Cô có thích những thứ này không?”
“Có chứ, thỉnh thoảng cũng có cách xử lý như vậy,” Maud nói.
“Đó là nghi lễ tổ chức cho tôi đấy, nhưng họ vẫn thấy chưa đủ, tôi muốn gì họ cho nấy. À, một, hai năm sau tôi hình thành thói quen hay đến thăm, chỉ để rèn luyện thôi—đó là một sân chơi khổng lồ, đâu đâu cũng rộn tiếng cười đùa, sau này các cô sẽ thấy—tôi không ngừng tìm hiểu về nơi này và con người nơi đây. Sau đó, có một hôm tôi phát hiện ra một số đặc sản của họ, theo mắt nhìn của tôi thì còn ngon hơn cả cơm dừa khô, ngọc trai hay vỏ ốc Trochus, tôi xin phép được độc quyền kinh doanh xuất khẩu và mậu dịch những sản phẩm này, đổi lại bằng những hàng hóa bên ngoài mà họ cần. Từ đó đến nay tôi vẫn làm việc này. Ban đầu, tôi đi thuyền buồm đến đây, chắc là một năm 4 chuyến, sau Thế chiến thứ hai tôi phát hiện mọi ngành nghề đều chuộng tốc độ, nhờ vào máy bay, thế là nhân cơ hội có được chiếc máy bay cổ này, tôi liền mua nó luôn. Tôi nhớ những ngày tháng chậm chạp thảnh thơi khi lái thuyền buồm quá—”
“Còn thuộc hạ của anh thì sao?” Maud hỏi. “Tại sao họ không ra ngoài nói cho người khác biết về Đảo Hải Yêu?”
Rasmussen khịt mũi. “Thuộc hạ? Thuộc hạ nào chứ? Tôi chỉ mang theo hai tên bợm nhậu người Chinquac, hiểu chứ? Chúng thậm chí còn chẳng biết xem la bàn, chưa từng biết chúng ta đang ở đâu, mỗi lần đến gần đây là tôi chuốc say chúng, chúng chưa từng được lên bờ. Sau đó, người Chinquac chết, Baudy bắt đầu đòi tôi dùng người của chính mình để đảm bảo an toàn, đó là lý do Hape có mặt ở đây, trước cậu ta tôi từng thuê anh họ của cậu ta, đều là những đứa trẻ ngoan. Đó là lý do tại sao bí mật có thể giữ kín, tôi chưa từng tiết lộ cho bất kỳ ai, ngoại trừ một lần duy nhất, đó là việc làm ăn của tôi. Tôi luôn ngậm miệng chặt như hến, bởi vì nó mang lại cho tôi quyền độc quyền kinh doanh sản phẩm xuất khẩu, nhưng đó không phải là nguyên nhân thực sự đâu, thưa phu nhân. Cô thấy đấy, bây giờ tôi là một thành viên trong số những con người này, là đồng bào vinh quang, đến chết cũng sẽ không phản bội họ—cũng không để vùng đất này bị người ngoài tàn phá. Đó là lý do tại sao vị giáo sư đó, lão Ethelday, tình cờ đụng độ và ép buộc tôi làm thế khiến tôi phát điên.”
“Thuyền trưởng Rasmussen,” Maud nói, “anh không cần phải lo lắng cho chúng tôi. Tất cả chúng tôi, từng thành viên đều đã tuyên thệ sẽ giữ bí mật về Đảo Hải Yêu. Cho dù trong số chúng tôi có ai bất cẩn đi nữa, thì cũng không một ai biết, dù chỉ là một chút xíu, rằng chúng ta đang ở nơi nào.”
“Các cô vẫn phải cẩn thận đấy,” Rasmussen nói, “bởi vì bây giờ các cô đã biết khu vực đại khái rồi. Nếu có kẻ nào lấy được một chút manh mối, bám theo đủ khoảng cách, thì chắc chắn trong một, hai năm chúng sẽ tìm ra thôi.”
“Khi viết báo cáo,” Maud nói, “tôi sẽ cố tình viết vị trí là ở Polynesia, thế là hết.”
“Thuyền trưởng,” Claire nói, “tôi rất ngạc nhiên vì trong Thế chiến thứ hai không có ai phát hiện ra nó, Thái Bình Dương đâu đâu cũng có máy bay và tàu thuyền của Nhật Bản và Mỹ, hơn nữa từ thời điểm đó—”
“Tôi chắc chắn nhân viên trên máy bay và đài quan sát trên tàu đã nhìn thấy nó rồi,” Rasmussen nói. “Nhưng nhìn từ ngoài biển vào, trông nó giống như một nơi không có người ở, người nhìn thấy nó sẽ thấy chẳng có gì đáng chú ý cả, nó không có cảng biển, nước quá nông, thỉnh thoảng lại có những con sóng lớn cuồn cuộn. Còn về máy bay, chắc chắn họ đã bay qua từ trên cao, nhưng họ cũng chẳng nhìn thấy gì cả—đó chính là sự kỳ diệu của Đảo Hải Yêu—được thiết kế khéo léo đến mức một ngôi làng được che đậy hoàn toàn, nhìn từ trên không hay từ ngoài biển đều không thấy gì cả, chẳng có gì hết, trông giống như chẳng có gì sất. Cho đến tận bây giờ vẫn vậy, ngoài việc nó nằm xa các tuyến hàng hải chính ra, thì ai nấy đều chỉ muốn đến những hòn đảo đã được biết đến, trong mắt họ, phàm là những thứ đã biết mới là thứ tốt, những thứ khác không cần hỏi han gì sất, đó là lý do chúng ta có thể bảo tồn được nơi này.”
Maud còn định nói gì đó, thì Hape dùng tay chạm nhẹ vào cánh tay của Rasmussen.
“Thuyền trưởng,” Hape nói. “Phía trước là Đảo Hải Yêu rồi.”
Họ đều nhìn ra bên ngoài. Màn đêm đã biến mất, mặt trời cũng đã mọc lên. Đại dương bên dưới mang màu xám xanh, lấp lánh ánh vàng dưới ánh nắng ban mai, trải dài trước mặt họ giống như những cánh đồng chất lỏng vô tận. Đôi mắt Claire đảo quanh tìm kiếm trên mặt biển, ở đó, nơi tận cùng vô tận, hoàn toàn giống như những gì Ethelday đã miêu tả trong bức thư từ mấy tháng trước, cô nhìn thấy bóng mờ ảo ở chân trời hình cung. Cô đang cảm nhận thông báo vừa rồi: Phía trước là Đảo Hải Yêu.
Maud cũng nhìn thấy sau đó vài giây, cô thở phào nhẹ nhõm đầy vui mừng. “Tôi nhìn thấy rồi, thuyền trưởng, anh sẽ gọi nó là gì—một rạn san hô ngập nước hay một hòn đảo núi lửa bị phong hóa?”
“Tôi gọi cả hai, và đều chính xác cả,” Rasmussen nói, anh ta đã quay mặt đi. “Trên thực tế, gọi nó là đảo núi lửa cao thì chính xác hơn, bởi vì nó có ngọn núi lửa nhỏ không hoạt động đó—cô thấy đấy, những đám mây trắng dày đặc đang quây quần ở phía trên kìa—nó không gồ ghề và nhiều cây cối như hầu hết các hòn đảo cao ở đây, nhưng nó có một vành đai san hô, còn có một số thảm thực vật đầm lầy muối tốt hơn cả rạn san hô. Ưu điểm của nó, các vị sẽ thấy—từ góc độ của Đảo Hải Yêu—chính là sự gồ ghề và dốc đứng, rất khó tiến vào giống như đảo Aguan và Pitcairn.” Anh ta dừng lại. “Các vị sẽ được tận mắt chứng kiến trong vài phút nữa thôi.”
Claire và Maud đứng đó với vẻ kính sợ không chuyển động, họ lướt qua Thái Bình Dương đang mang độ bóng của vải lụa, vành đai màu vàng của mặt trời đang lan rộng và lớn dần, dát viền vàng lên đường nét của hòn đảo chính, một khối ngọc bích chưa được mài giũa đang nằm yên bình trong sự tĩnh lặng của miền nhiệt đới.
Họ đã ở ngay phía trên nó rồi, lướt qua nó, rẽ vòng quanh nó, Claire có thể nhìn thấy rõ ràng cảnh tượng mà Ethelday từng nhìn thấy: vách đá đen dựng đứng bị nước biển, nước mưa và thời gian xâm thực; một vùng đồng bằng phẳng lặng giống như tấm thảm xanh tươi rậm rạp; một ngọn núi khuyết một nửa vươn cao sừng sững, kiêu hãnh nhìn xuống vạn vật, giống như phế tích của một lâu đài cổ; ánh sáng lấp lánh từ đầm phá màu tím; những rãnh sâu do "bàn tay kiên nhẫn của năm tháng" của Lottie tạo nên; cây cối khắp sườn núi, những con suối trong vắt như lê ki ma và những thung lũng xanh nhấp nhô. Phải rồi, Claire nghĩ, một bức tranh tỉ mỉ đến từng chi tiết, xuất phát từ nét vẽ của Brueghel xứ Polynesia.
Họ lướt qua hai rạn san hô liền kề, quay đầu bay về phía khe nứt giữa các vách đá vòng quanh đảo. Claire có thể phân biệt được âm điệu du dương phát ra từ những chiếc lá dừa trên không trung cùng với tiếng lách tách nhỏ bé mang âm hưởng ăn mừng phát ra từ những chiếc lá kép của chúng. Phía xa là đại dương xanh thẳm, dần chuyển sang màu xanh lá nhạt ở gần dải bãi biển, dải cát hẹp như dải lụa đang lấp lánh dưới ánh mặt trời.
Mọi thứ đều yên bình đến vậy, chỉ có tiếng sóng biển trắng xóa xô vào vách đá tụ tập lại ở một góc nhô ra của bãi biển. Mọi thứ đều tĩnh lặng đến vậy, chỉ có những vị khách ghé thăm tạm thời này và tín hiệu trên bãi biển bên dưới là đang chuyển động.
Tim Claire đập nhanh hơn. “Những người ở bãi biển bên dưới chính là họ phải không?”
Rasmussen lầm bầm. “Đúng thế, có lẽ Courtney gọi người đến chào đón các vị, gọi vài dân làng đến khiêng hành lý.” Lúc này Rasmussen bắt đầu bận rộn rồi. “Chúng ta sắp đến nơi rồi, tốt nhất là gọi mọi người dậy đi, ngồi cho vững vàng. Cảm giác khi thủy phi cơ hạ xuống mặt nước đôi khi giống như tấm đệm mềm, đôi khi lại giống như một con đường lồi lõm gà gà.”
Maud dẫn đầu bước đi, Claire không mấy tự nguyện đi theo cô ấy. Đôi mắt cô lại dán chặt thêm một lúc vào chốn nguyên sơ này, quả thực giống như một chiếc cầu vồng bên dưới cánh máy bay, sau đó cô tự lẩm bẩm, “Iolana”. Cô thu hồi ánh mắt khỏi khung cảnh khiến mình lóa mắt, trở lại với nhóm bạn đồng hành.
Claire đi đến chỗ ngồi của mình, nhìn thấy Mark và mọi người đều đã tỉnh giấc, cô vẫy tay mơ hồ, vẫn chìm đắm trong sự mê muyến đối với khung cảnh ban nãy, vừa ngồi xuống thì máy bay bắt đầu hạ độ cao đột ngột. Cô nắm chặt lấy ghế ngồi, nhìn chằm chằm vào ô cửa sổ được chắn bằng ván, chìm xuống cùng với con chim lớn màu nâu béo mập mang tên Polynesia mà cô đang ngồi, cảm nhận được nó chạm mặt nước, rung lắc, trượt đi, cho đến khi động cơ ho khúc khỏe tiếng cuối cùng rồi im bặt. Họ đã dừng lại một cách ngơ ngác trên vùng nước phẳng lặng ngoài bãi cát Tam Hải Yêu.
Quả trứng của đấng tạo hóa đã được sinh ra rồi, Claire thầm nghĩ, cô đang chờ đợi vỏ trứng vỡ ra và sự tự do, để cuộc sống có thể bắt đầu, cuối cùng thì……
Vẫn là buổi sáng sớm, họ đã đợi trên bãi biển hơn một tiếng đồng hồ rồi, Rasmussen và Hape đang giúp 9 người thanh niên trẻ tuổi trên Đảo Hải Yêu chuyển đồ tiếp tế và thiết bị đựng trong thùng gỗ từ chiếc thủy phi cơ tròng trành lên bờ, bây giờ đang chuyển hành lý của họ.
Mặt trời lúc này đã hoàn toàn biến thành một quả cầu lửa, ánh nắng hừng hực chiếu xuống người họ gần như có thể nhìn thấy được. Không khí xung quanh yên tĩnh và oi bức, hơi ẩm nhẹ do có hơi nước bốc lên, nhiệt độ tăng lên cực kỳ chậm chạp, ở dải đất này của Châu Đại Dương rất hiếm khi gặp phải thời tiết nóng nực thế này.
Claire đứng đó, chiếc áo len vắt trên tay, tận hưởng hơi nóng phả vào mặt và cổ cùng với sự ấm áp của những hạt cát ngập qua đôi xăng-đan của mình. Rachel Deakin và Lisa Hackfeld ở bên cạnh cô thì không được thoải mái đến thế. Rachel mặc bộ đồ vest bằng len màu sắc trông có vẻ khá thảm hại, bắt đầu cởi áo khoác ra. Được cổ vũ bởi bầu không khí thoải mái này, Lisa Hackfeld cũng động thủ cởi chiếc áo khoác màu trắng ra.
“Chắc chắn là độ ẩm quá cao rồi,” Lisa nói với vẻ đầy áy náy. “Hơi ngột ngạt một chút.”
“Chúng ta phải học cách ăn mặc theo khí hậu bản địa thôi,” Rachel Deakin nói.
Claire nhìn chằm chằm vào một người thanh niên thổ dân cao gầy, da màu gỗ phong, sẫm màu hơn những người bạn của cậu ta, đang cúi gập người về phía trước, tay chống lên đầu gối, sẵn sàng đón chiếc thuyền độc mộc đang chèo tới. Nhìn từ phía sau, người thổ dân này hoàn toàn khỏa thân. Đôi vai hơi trũng xuống, cột sống rõ mồn một, phần sườn dài và vòng hông gầy guộc hoàn toàn lộ ra ngoài, chỉ có một sợi dây thừng buộc ở eo để giữ lấy cái túi đựng.
Claire được sự giúp đỡ của người khác bước xuống thuyền độc mộc trước tiên, chạm trán với một số thổ dân, vẻ nam tính mà họ phô bày vượt xa những chiếc túi che thân kia, cô ngượng ngùng dời mắt đi chỗ khác. Cô sợ phải lên bờ, cô biết rằng người đàn ông da trắng tên là Tom-Courtney đó vì để chờ Maud trên bờ nên đã sớm ngồi thuyền độc mộc đến đó rồi. Trang phục đơn giản trên người thổ dân, dù cho có gây ngượng ngùng đi chăng nữa, ít nhất thì vẫn có thể chấp nhận được, dù sao thì họ cũng là một chủng tộc khác, một dân tộc khác, con người của một vùng đất khác, bạn không thể đối xử với họ giống như đối xử với người dân tộc của chính mình được, không thể không phân biệt, thiếu trí tưởng tượng; nhưng nếu đàn ông thuộc dân tộc của chính cô mà cũng phô bày như thế, thì quả thực rất ngượng ngùng và bất an.
Mang theo nỗi sợ hãi, Claire khó khăn lắm mới đi thuyền trượt đến bãi biển, không còn chú ý đến phong cảnh và những người chèo thuyền nữa. Cô đứng lên bãi biển, Maud giới thiệu cô với ông Thomas Courtney, ông ấy không hề cỏa thân hay dùng lá cây che thân, mà ăn mặc hoàn toàn phù hợp với lễ nghi văn minh, điều này khiến cô cảm thấy được an ủi vô cùng.
“Chào mừng đến với Đảo Hải Yêu, phu nhân Hayden,” ông ấy nói.
Cô bắt tay ông ấy, không ngẩng đầu lên nhìn mặt ông, có thể thấy ông đang mặc một chiếc áo sơ mi thể thao mỏng đẫm mồ hôi, chiếc quần công nhân màu xanh nhạt nhàu nhĩ được xắn lên tận cổ chân, đi đôi xăng-đan da bằng chân trần. Phải đến tận sau đó, khi ông đang bận rộn với những việc khác, cô mới đối chiếu khuôn mặt ông với hình ảnh tưởng tượng trong đầu cô qua những bức thư của Ethelday. Cô từng đoán là ông có mái tóc màu cát, nhưng thực tế lại là màu nâu sậm, cùng màu với đôi mắt của ông, vừa dày vừa rối. Khuôn mặt dài hơn, sắc sảo hơn và thú vị hơn so với những gì Ethelday báo cáo, bởi vì các hoạt động ngoài trời, thời tiết và độ tuổi đã bước vào giai đoạn trung niên sơ kỳ, những nếp nhăn trên mặt khi cười trông vô cùng cuốn hút. Ông vừa gầy vừa cao, khá cường tráng, nhưng khi di chuyển trên bãi biển xung quanh họ, những bước chân lớn có phần vụng về, dường như là vì ông quá cao và quá mức xấu hổ mà ra. Khi đứng yên thì trông ông rất điềm tĩnh, Claire nhận ra rằng, đây là sản phẩm của một thái độ xử thế bình yên, siêu trần thoát tục và có vẻ lười biếng—hoàn toàn tương phản với Mark nhà cô, Mark luôn lên dây cót cho bản thân thật căng thẳng.
Claire bây giờ đang đứng cạnh Rachel Deakin và Lisa Hackfeld, nhìn chằm chằm vào tấm lưng của người thổ dân ở mép nước, cô có cảm giác rằng, anh ta và những thổ dân khác rất nhạy cảm với cách ăn mặc của họ, trong khi cô và cả đội lại hoàn toàn không hay biết gì. Trong chốc lát cô có một xung động, giống như cô thích cái nóng buổi sáng vậy, cô rất muốn cởi chiếc áo khoác ngoài và áo sơ mi ra, ném chúng sang một bên, trải nghiệm toàn bộ sự thú vị của ánh mặt trời, không khí và nước.
Lisa từng phàn nàn vì ngột ngạt, Rachel từng phàn nàn vì buộc phải học cách ăn mặc nhập gia tùy tục, thế nhưng Claire lúc này lại nhẹ nhàng nói, “Này, tiến sĩ Deakin, có lẽ chúng ta buộc phải học cách cởi quần áo rồi—bắt chước người thổ dân xem sao.”
Rachel chỉ nở một nụ cười nhạt trên môi. “Tôi nghi ngờ đấy, phu nhân Hayden, e rằng chúng ta đang ở vị trí của người Anh thời kỳ đế quốc ở Malaya, kẻ mà khi ăn cơm trong rừng cũng phải mặc quần áo chỉnh tề.”
“Chúa phù hộ những kẻ như thế,” Lisa Hackfeld nói. “Thế thì làm sao họ đi lại khắp nơi được chứ?”
“Họ không phải lúc nào cũng có người đi cùng đâu,” Claire nói.
Rachel Deakin bèn lái sang chuyện khác. “Đây chắc là hành lý cá nhân của chúng ta rồi, tôi hy vọng bọn họ cẩn thận một chút.”
Họ đều nhìn chiếc thuyền độc mộc có phần mũi nhọn hoắt đang vững chãi chèo tới dưới sự điều khiển của 8 người thanh niên thổ dân tráng kiện, ở giữa thuyền chất đống hành lý của họ cao ngất ngưởng.
“Tôi vẫn chưa đoán chắc được trông họ thế nào nữa,” Lisa nói. “Tôi cứ nghĩ họ sẽ đen hơn cơ, mang nhiều nét thổ dân hơn.”
“Họ là người Anh, lại vừa là người Polynesia,” Claire nhắc nhở cô ấy.
“Tôi biết chứ, nhưng mà nói gì thì nói……” Lisa nói. “Sao cơ chứ, người đàn ông Mỹ kia—ông Courtney ở đằng kia kìa—còn da ngăm đen hơn cả bọn họ nữa. Tôi ước gì mình cũng có thể rám nắng như anh ấy, về nhà ai nấy cũng sẽ ghen tị với tôi cho mà xem.”
Sự chú ý của Rachel Deakin tập trung vào chiếc thuyền độc mộc đang tiến lại gần. “Làn da của họ có thể nói là rất đẹp,” cô quan sát, “nhưng tôi tin rằng ngoại hình của họ mang một nét đặc trưng mang tính Polynesia rõ rệt. Bọn họ đều là những kẻ vạm vỡ, cơ bắp cuồn cuộn, tóc đen, mũi rộng, môi khá dày, nhưng trong số họ còn vương vấn một chút nét yếu mềm, ý tôi là sự tao nhã trong cử động của họ.”
“Tôi cho rằng họ mang nét nam tính rất rõ rệt,” Claire vừa nói vừa liếc nhìn xung quanh, chắc chắn rằng Maud không nghe thấy lời mình nói.
“Không còn nghi ngờ gì nữa,” Rachel đáp bằng giọng khô khốc.
Chiếc thuyền độc mộc dài 30 feet đâm sầm vào bờ, những người chèo thuyền lần lượt nhảy xuống vùng nước nông, đẩy nó lên bãi biển, một người đồng hành đang đợi sẵn của họ ở mũi thuyền đang dùng sức kéo lê.
“Tôi đi xem đồ đạc của mình có ở đó không đã,” Lisa nói. Cô đi xuyên qua bãi biển tiến về phía chiếc thuyền độc mộc.
“Tôi cũng phải đi kiểm tra đây,” Rachel Deakin nói rồi bước theo sau Lisa.
Claire lúc này chẳng có chút hứng thú nào với hành lý của mình. Đôi mắt cô dõi theo Rachel và Lisa hướng về phía chiếc thuyền độc mộc, sau đó đảo mắt xung quanh xem mọi người đang làm gì. Trong bóng râm của một khối trụ đá, Maud, Mark và Orville Pence đang thảo luận chuyện gì đó. Không xa lắm, Courtney và Hape đang cúi đầu đọc một tờ danh sách gì đó, còn Rasmussen thì đứng đó vừa nghe vừa lau trán. Xa hơn nữa, ở mép nước, Mary Kapowitz đang đùa nghịch với nước, bố mẹ cô bé đang nhìn con bằng niềm tự hào của bậc trưởng bối.
Trong chốc lát, Claire cân nhắc việc ở bên chồng, nhưng lại quyết định lúc này ở một mình vẫn tốt hơn. Cô quay người, nhặt chiếc ba lô nhỏ của mình lên từ bãi biển, vừa đung đưa vừa bước qua chiếc thuyền độc mộc đang dỡ hàng. Cô đi về phía một cụm cây dừa giống như tán ô, bước đến dưới gốc cây đầu tiên, ngồi bệt xuống bãi biển, rút một điếu thuốc lá từ bao thuốc ra, châm lửa, sau đó tựa lưng vào thân cây, mơ màng chìm đắm trong khung cảnh trước mắt và phía trên. Lúc này, rất dễ khiến người ta quên đi hiện thực trước mắt, mà hoài niệm về diện mạo nguyên sơ của nó, bởi vì nơi này mang một khí thế hùng vĩ, đủ để khiến tất cả những vị khách lưu trú tạm thời phải say đắm.
Cô được bao quanh bởi những vách đá sừng sững cùng thảm thực vật tự nhiên, phóng khoáng, lần đầu tiên cảm thấy bản thân đã đoạn tuyệt với văn minh, với tất cả những thứ quen thuộc, theo khuôn phép. Cô giống như bước từ thế giới an toàn ra ngoài không gian, là người đầu tiên đặt chân lên một hành tinh nóng bỏng chưa từng được khám phá. Toàn bộ cuộc sống trước đây của cô, thế giới của sự sát trùng, vệ sinh sạch sẽ, kháng sinh, nhôm, nhựa, điện năng, tự động hóa và những chương sách lớn, giờ đây đều không còn nữa. Đây là thế giới hồng hoang, không có tổ chức, không chịu sự kiểm tra, không có thất bại, không có giáo dưỡng, không có sự thuần hóa, không có giáo dục, không có văn hóa, không có điều cấm kỵ. Phong cách tao nhã, từng trải, tiến bộ đó không còn nữa, thay vào đó là phong cách tự nhiên, thô bạo, nguyên thủy và dị giáo ở nơi này.
Từ nhỏ cho đến nay, đây là lần đầu tiên cô mặc cho người khác sắp đặt. Cô sẽ sinh tồn thế nào đây? Suy nghĩ của cô lại trôi tuột vào cuộc sống trong cái kén của cô những năm gần đây, sự thoải mái an toàn của họ, chiếc giường lông vũ mềm mại mà cô luôn sử dụng, phòng tắm được trang trí hoa mỹ, nhà bếp đầy đủ tiện nghi, phòng khách và phòng làm việc được trang bị bằng đồ nội thất sợi, da, gỗ cùng với đĩa hát, sách vở và tác phẩm nghệ thuật. Ở nhà, những vị khách đến thăm đều là những con người văn minh, họ dễ hiểu, ăn mặc chỉnh tề, tự giác tuân thủ lễ nghi, quy tắc giống như những quý ông thời kỳ Nữ hoàng Victoria vậy.
Quá khứ đã bị vứt bỏ, bây giờ cô lấy gì để thay thế đây? Một hòn đảo núi lửa, một mảnh đất và rừng rậm, nằm ở sâu thẳm đại dương, hoàn toàn không tìm thấy trên bản đồ. Một dân tộc, một nền văn hóa, kỳ lạ làm sao khi không biết cảnh sát, phiếu bầu cử, đèn điện, xe Ford, phim ảnh, máy giặt, lễ phục, rượu Martini, siêu thị, hội văn học, trụ cứu hỏa, vườn bách thú dạng lồng, thánh ca Giáng sinh, áo ngực, bệnh bại liệt, bóng đá, áo corset, âm thanh hi-fi, tờ New York Times, điện thoại, thang máy, máy hút bụi, thẻ an sinh xã hội, chìa khóa hội ái hữu sinh viên xuất sắc, đồ ăn nhanh truyền hình, cháo ngô, tư cách thành viên câu lạc bộ thực khách, chất khử mùi, bom nguyên tử, bút chì màu, sinh mổ. Tất cả những thứ này, tất cả những điều này, đã bị xóa sổ khỏi cuộc sống của cô, thứ còn lại trên bãi cát hoang vu này, trên đốm nhỏ ở Châu Đại Dương này, chỉ có một mình cô—cao 5 foot 4 inch, nặng 112 pound, 25 tuổi, được bảo vệ quá mức, văn minh hóa quá mức và hoàn toàn không có sự chuẩn bị nào. Khoảng cách giữa thiên đường nước Mỹ thoải mái đầy đủ của cô và Đảo Hải Yêu dã man nguyên thủy hóa ra chỉ là 32 tiếng đồng hồ. Cô đã vượt qua cây cầu mang tên thời gian và không gian này về mặt thể xác, liệu cô có thể vượt qua cây cầu này trong tư tưởng và tâm hồn hay không?
Cô run lẩy bẩy, hoàn toàn không bận tâm đến việc mặt trời đang chiếu rọi lên đỉnh đầu mình. Sau khi phả ra một làn khói dài, cô vùi điếu thuốc lá vào cát, đứng dậy. Cô nhìn chằm chằm về phía bãi biển, toàn bộ nhóm người đều đang tụ tập bên đống hành lý cạnh chiếc thuyền độc mộc, cô biết Maud lúc này đang cần cô và danh sách trong ba lô của cô. Cô tràn đầy năng lượng hơn bao giờ hết, khi bước qua bãi biển, cảnh tượng ấy khiến cô nhớ lại những kỷ niệm bên hồ ở Chicago thời thơ ấu, chẳng mấy chốc cô đã hòa mình vào nhóm của mẹ chồng, chồng và các thành viên khác.
Mỗi thành viên trong đội được phép mang theo đồ đạc cá nhân nặng không quá 40 pound, trong khi các thiết bị khoa học đều được đóng tập trung vào các thùng gỗ lớn. Maud giúp từng thành viên nhận ra hành lý xách tay của mình, sau đó gọi Claire, đòi cô đưa danh sách thiết bị.
Claire cầm danh sách, đứng sau lưng Maud, còn Maud đang kiểm tra bề ngoài của những chiếc thùng gỗ. “Xem ra đều vẫn còn nguyên vẹn,” Maud nói. “Hãy xem có đủ ở đây không nhé. Em đọc lớn danh sách lên để chị có thể nghe thấy, xác nhận từng thứ một.”
“Một thùng túi ngủ, đèn, pin đèn, máy ghi âm băng cẩu mini,” Claire đọc. “Còn có—”
“Đều có đủ,” Maud nói.
“Một thùng chứa hộp sấy khô của tiến sĩ Kapowitz, kẹp thực vật—”
“Có.”
“Một thùng chứa thiết bị chụp ảnh của tiến sĩ Kapowitz—máy quay phim, hai máy ảnh khác, chân máy, thiết bị rửa ảnh thu nhỏ, phim—”
“1 thùng—không, 2 thùng—hộp cứu thương của cô Blisska, các dụng cụ y tế khác, thuốc chống côn trùng—”
“Đúng vậy, đều ở đây cả rồi, Claire.”
“Tiếp theo là 6 thùng thực phẩm phân loại—thực phẩm đóng hộp, sữa bột—”
“Đợi một chút, Claire, chị chỉ xác nhận có hai—3 thùng thôi—đợi một chút đã—”
Nhìn Maud quỳ ở đó quan sát những chiếc thùng gỗ, Claire nhớ lại việc cô từng cho rằng việc họ tự mang thực phẩm theo là kỳ lạ biết bao. Maud từng giải thích rằng, đại đa số thực phẩm sẽ giống như những gì thổ dân Đảo Hải Yêu ăn, nhưng việc mang theo một lượng nhất định các sản phẩm từ thịt sẽ rất có ích. Maud nói, bởi vì đôi khi bạn sẽ gặp phải những người đang ở trong tình trạng đói kém và thiếu thốn, bạn ăn đồ hộp của chính mình thì sẽ không đến mức tranh giành thức ăn từ miệng họ nữa. Một nguyên nhân khác của việc nhập khẩu thịt bò Mỹ là do một số thành viên trong đội có lẽ khó lòng nuốt nổi những món ăn địa phương kỳ lạ đó, thà chịu đói chứ không ăn những thứ khiến họ mất cảm giác ngon miệng hoặc không nuốt nổi. Maud từng có trải nghiệm khó quên trong một chuyến khảo sát thực điạ cùng Adela, cô ấy vì không muốn đắc tội với chủ nhà, hoặc trên thực tế cũng vì không muốn chịu đói, nên đã từng bị ép phải ăn thịt chuột đồng nấu chín.
“Được rồi, Claire, tiếp tục đi,” Maud gọi cô.
Claire dò theo danh sách. “Để tôi xem nào. Ở đây rồi, tìm thấy rồi. Một thùng thiết bị văn phòng—máy đánh chữ xách tay, từng ream giấy, máy chiếu kiểm tra của tiến sĩ Pence, sổ tay và bút chì của chính chị—”
Maud gật đầu kiểm điểm các thùng gỗ. “Đúng vậy, Adela luôn miệng nói, 'Thứ tôi thực sự cần trong chuyến khảo sát thực địa chính là bút chì và kem cạo râu.'... Có, chị tìm thấy rồi.”
“Sách,” Claire nói, “một thùng sách.”
Cô đã tự tay lựa chọn và đóng gói hàng chục tác phẩm kinh điển cơ bản—‘Đề cương tư liệu văn hóa’, ‘Nhật ký thực địa’ của Kennedy, ‘Sổ tay và câu hỏi của nhà nhân học’ của Bảo tàng Anh, ‘Sổ tay’ của Merck (thuộc sở hữu của cô Blisska), ‘Người đãi vàng Tây Thái Bình Dương’ của Malinowski, ‘Xã hội nguyên thủy’ của Lowie, ‘Đàn ông và đàn bà’ của Mead (thuộc sở hữu của tiến sĩ Pence), tất cả những thứ này đều được ghi chép lại sao cho có thể nhớ được—nhưng các thành viên trong đội còn mang theo cả sách giải trí của riêng họ. Orville Pence mang theo một số tiểu thuyết khiêu dâm, giải thích rằng đang nghiên cứu những tác phẩm này. Harriet Blisska mang theo nửa tá tiểu thuyết trinh thám bìa mềm. Bản thân Claire cũng mang theo ‘Typee’ của Melville, ‘Noa Noa’ của Gauguin, ‘Hành trình’ của Hakluyt, ‘Bóng trắng phương Nam’ của Frederick O'Brien, đều là những tác phẩm đọc phù hợp được tuyển chọn kỹ lưỡng cho chuyến đi này.
“Tìm thấy sách rồi,” Maud nói.
Claire vội vàng đọc tiếp danh sách. Những chiếc thùng gỗ còn lại chứa đủ loại đồ đạc tạp nhạp, như thiết bị đo đạc, xà phòng, máy lọc nước, thước dây thép, các loại biểu đồ khác nhau, album ảnh của thổ dân các nền văn hóa khác nhau, bản đồ, dụng cụ câu cá, đồ chơi trẻ em, tất cả mọi thứ đều được ghi chú rõ công dụng trong một nghiên cứu đặc biệt nào đó.
Maud cuối cùng cũng đứng thẳng người dậy, xoa bóp vùng thắt lưng, còn Claire nhét danh sách vào chiếc ba lô nhỏ, đúng lúc này, Tom-Courtney xuất hiện ở giữa bọn họ.
“Đã xong hết rồi chứ?” Ông ấy hỏi thăm.
“Đồ đạc đủ cả và người cũng đủ cả rồi,” Maud sảng khoái đáp. “Bước tiếp theo làm gì đây, ông Courtney?”
“Bước tiếp theo, tiến sĩ Hayden, chính là một cuộc hành quân cưỡng bức đấy.” Ông ấy cười. “Thực ra thì không quá thần bí đâu, khoảng cách không xa, nhưng ở một số địa điểm thì hơi hiểm trở một chút. Có một con dốc thoai thoải đi đến một vùng đất bằng phẳng, sau đó là một đoạn xuống dốc, lại một đoạn lên dốc nữa khá dốc, đoạn xuống dốc cuối cùng sẽ dẫn đến ngôi làng. Tôi phải nói trước, mất 5 tiếng đồng hồ đi đường, dọc đường nghỉ ngơi 3, 4 lần.” Ông ấy chỉ vào các thùng gỗ và hành lý, “Đừng lo lắng về mấy thứ đó. Sẽ có thêm chục cậu nhóc từ trong làng đến giúp 9 người kia. Bọn họ sẽ khiêng các thùng đồ đi theo một con đường khác, là đường tắt, nhưng đối với hầu hết các vị thì quá gồ ghề, trừ khi là đang ở trạng thái thể lực tốt.”
“Chúng ta vẫn đi con đường tốn thời gian nhưng ít tốn sức hơn vậy,” Maud đưa ra quyết định.
Lúc này, Mark xuất hiện bên cạnh Claire và mẹ, hầu hết các thành viên trong đội đều chen chúc đằng sau Courtney để lắng nghe. Bọn họ giống như một đám tân binh, tụ tập xung quanh hạ sĩ của mình, vô cùng sốt sắng muốn có được dù chỉ là một chút thông tin có thể xua tan những đám mây mù nghi ngờ về tương lai.
Lisa Hackfeld giơ tay lên, Courtney nhìn thấy, lúc này, cô ấy với giọng run rẩy hỏi rằng, “Con đường chúng ta đi sẽ không có nguy hiểm đụng độ dã thú chứ?”
“Hoàn toàn không có,” Courtney đảm bảo với cô ấy. “Giống như rất nhiều hòn đảo nhỏ ở Thái Bình Dương khác, hệ động vật ở đây rất hạn chế, phần lớn đều sinh sống nhờ vào biển, tập trung sinh sống ở gần bờ biển. Các vị biết đấy, rùa biển, cua, một số loài thằn lằn vô hại. Chúng ta đi sâu vào trong, sẽ nhìn thấy một số ít dê, chó lông ngắn, gà, là hậu duệ của những loài động vật thuần hóa mà Daniel White mang đến đây vào năm 1796. Chúng có thể chạy nhảy khắp nơi. Cừu thì bây giờ đã tuyệt chủng rồi. Bản thân những hòn đảo này cũng có một số loài lợn rừng và lợn gầy giống nhỏ, rất hiền lành. Ngoại trừ việc chuẩn bị yến tiệc cho tù trưởng và trong tuần lễ hội ra, việc săn bắt chúng là bị nghiêm cấm tuyệt đối.”