“Nhưng anh bảo trên đảo không có ai ở mà,” tôi không khách khí nhắc nhở anh ta.
“Tôi quên mất.”
Tôi biết khu vực này không có kẻ ăn thịt người, nhưng tôi cũng không thể khẳng định anh ta là một kẻ thích nói dối. Tôi nói: “Là hung hay cát tôi muốn thử xem, thuyền trưởng, xin hãy bảo ngài Harpe hạ cánh, tôi chỉ cần một, hai tiếng thôi.”
Rasmussen cứng đầu đến kỳ lạ. “Tôi không thể làm thế,” anh ta nói nhỏ, “tôi phải chịu trách nhiệm về cậu.”
“Tôi tự chịu trách nhiệm về mình,” tôi kiên định nói, “tôi đã nói hai lần rồi, và tôi muốn nói lần thứ ba – nếu anh tiếp tục ngăn cản tôi nhìn ngọn đảo này, ngày mai tôi sẽ quay lại đây với kẻ sẵn sàng hợp tác hơn.”
Rasmussen nhìn chằm chằm tôi rất lâu, chúng tôi chỉ nghe thấy tiếng gầm rú từ hai động cơ của chiếc máy bay một tầng cánh này. Khuôn mặt mang nét Bắc Âu của anh ta chằng chịt nếp nhăn, râu ria xồm xoàm, mang theo vẻ hoảng sợ. Cuối cùng, anh ta gần như vô cảm nói: “Tôi sẽ mở cửa khoang và ném anh xuống biển.”
Tôi không phân biệt được anh ta đang đùa hay thật, nhưng trên khuôn mặt anh ta lại chẳng hề có chút hài hước nào. “Mọi người đều biết tôi đi cùng anh,” tôi nói, “anh sẽ vì thế mà bị đưa lên đoạn đầu đài.”
Anh ta liếc nhìn ra ngoài cửa sổ. “Tôi hoàn toàn không muốn thế,” anh ta nói, “sao tôi lại vướng vào anh chứ? Nếu tôi để anh hạ cánh...” Giọng anh ta nhỏ dần, rồi lắc đầu, “Cậu mang lại cho tôi nỗi thống khổ khủng khiếp, giáo sư. Tôi đã thề là sẽ không bao giờ đưa bất kỳ ai đến Tam Yêu Nữ.”
Tôi cảm thấy máu đang nhảy múa trong thái dương. Nói cách khác, những hòn đảo bị lãng quên này hình như có người ở. Rasmussen đã thề với ai? Rasmussen đang che giấu điều gì cho mảnh đất nhỏ bé ở phía dưới? Bí ẩn trong đó cũng kích thích tôi không kém gì một sân bay có thể được xây dựng.
“Anh sẽ để tôi hạ cánh chứ?” tôi dùng giọng điệu dò hỏi để yêu cầu.
“Cậu ép người quá đáng,” Rasmussen nói với vẻ có chút tuyệt vọng, “nếu tôi là cậu, tôi sẽ bịt mắt mà đổ bộ. Hãy chăm sóc cái đường băng chết tiệt của cậu đi, đừng nhìn cái gì khác nữa.”
“Thứ tôi hứng thú chính là cái này.”
“Chúng ta cứ chờ xem,” Rasmussen nói đầy vẻ bí ẩn. Anh ta liếc nhìn Harpe một cái: “Bảo bọn họ biết là tôi sắp hạ cánh. Sau đó quay vòng lại – giảm tốc độ xuống sáu mươi lăm dặm một giờ – hạ xuống cách bãi biển nửa dặm là chắc chắn không có vấn đề gì. Để tôi cởi chiếc xuồng nhỏ.”
Khi máy bay chuyển hướng, Rasmussen thở dài, đứng dậy từ ghế ngồi, đi về phía cửa khoang đuôi. Tôi lập tức ngồi vào vị trí của anh ta ở buồng lái. Harpe đã điều khiển máy bay bay trở lại bầu trời trên phần giữa của hòn đảo chính. Anh ta bay ở độ cao thấp, lướt qua một thung lũng ẩn mình trong bóng râm mà tôi đã nhìn thấy. Nợ đời bất ngờ, anh ta lắc lư thân máy bay, nghiêng cánh, một lần, lại một lần, suýt nữa thì hất văng tôi khỏi ghế. Sau đó, anh ta kéo máy bay hướng lên trên, vượt qua miệng núi lửa, bay về phía vách đá và bãi biển.
Quá trình hạ cánh diễn ra nhanh chóng và êm ả, khi chúng tôi đáp xuống mặt nước gần bờ, Harpe đã rời khỏi ghế ngồi. Tôi phát hiện anh ta đang mở cửa khoang lối vào chính. Sau đó, anh ta giúp Rasmussen cởi chiếc xuồng nhỏ ra và thả xuống nước.
Rasmussen bước vào chiếc xuồng nhỏ đang tròng trành trước, rồi lại giúp tôi xuống cùng anh ta. Anh ta hét lớn với Harpe: “Cậu chờ ở đây. Hai tiếng nữa chúng tôi sẽ quay lại. Nếu đến lúc đó không về, tôi sẽ bảo Bowdy hoặc Tom Courtney phái người tới.”
Tôi bị thu hút bởi hai cái tên kỳ lạ ấy – Bowdy – Tom Courtney – đặt cạnh nhau nghe thật thú vị, một cái rõ ràng là tên người Polynesia, cái kia lại nghe giống người Anglo-Saxon, mặc dù thực tế cái tên "Courtney" bắt nguồn từ tiếng Pháp. Chưa kịp để tôi cất lời về chuyện lạ lùng này, Rasmussen đã thô bạo ra lệnh cho tôi cầm mái chèo và bắt đầu chèo.
Mặc dù mặt nước phẳng lặng, nhưng việc chèo thuyền lại tốn rất nhiều sức – cộng thêm cảm giác khó chịu do buổi chiều oi bức ẩm ướt mang lại, làn gió nhẹ hoàn toàn chẳng giúp ích gì được mấy – thế nên khi đến bãi biển, người tôi đã đầm đìa mồ hôi. Bãi cát phẳng lì, mỏm đá đằng xa lẳng lặng chào đón chúng tôi. Vừa đặt chân xuống đất, tôi có cảm giác tựa như đang bước vào vườn Địa Đàng vào ngày thứ tư sau khi thế giới được khai sinh. (Xin lỗi vì cách nói ví von này, tiến sĩ Hayden, nhưng cảm giác của tôi chính là như vậy).
Rasmussen vừa cất xong thuyền liền lập tức hành động. “Nếu chúng ta đi không nghỉ bước nào, để đến bãi đất bằng quý giá của cậu, sẽ phải leo vách đá nửa tiếng đấy.”
Tôi bám sát phía sau anh ta, dọc theo một con đường nhỏ quanh co hẹp, dần dần leo lên sườn dốc của một vách đá. “Ở đây có người sao?” tôi thầm nghĩ, “Bowdy và Courtney là ai?”
“Đừng có lãng phí sức lực,” Rasmussen gầm lên, “cậu còn phải dùng đến nó đấy!”
Để không làm phiền tiến sĩ Hayden bằng những chi tiết trong chuyến thám hiểm lần này của tôi, tôi sẽ thuật lại hành trình của chúng tôi một cách ngắn gọn nhất có ban. Con đường nhỏ không tính là dốc, nhưng liên tục cao dần, những bức tường đá hai bên hấp thụ trọn vẹn cái nóng oi ả ban ngày, hệt như một cái lồng hấp. Tôi mấy lần đòi dừng lại để xoa dịu cơn đau nhói ở vùng bụng dưới, kết quả là mất gần nửa buổi. Trong khoảng thời gian này, Rasmussen không hề hó hé nửa lời với tôi. Khuôn mặt chằng chịt nếp nhăn và rám nắng của anh ta cứng ngắc lạnh lùng, dùng sự bất mãn và tiếng gầm gừ để gạt phắt câu hỏi của tôi sang một bên.
Cuối cùng, chúng tôi cũng trèo lên được một gò đá lớn, gò đá lớn ấy lại nối liền với mấy gò đất nhỏ xanh tươi, những gò đất nhỏ dần tụ lại thành khoảng đất bằng vừa dài vừa phẳng kia.
“Đến rồi,” đây là câu nói đầu tiên của Rasmussen trong suốt cả chặng đường, “bây giờ cậu còn muốn làm gì nữa?”
“Kiểm tra lại một chút.”
Tôi bước dọc theo bãi đất bằng về phía trước, ước lượng chiều dài và chiều rộng của nó, phán đoán mức độ bằng phẳng, nghiên cứu cấu thành thảm thực vật, thử nghiệm độ đậm đặc của đất, thậm chí ngay cả hướng gió cũng chú ý đến. Tất cả những gì ngài Trevor chỉ thị tôi nên làm thì tôi đều đã làm. Ngay lúc tôi đang tập trung quan sát – chúng ta không thể ở lại đây quá một tiếng, tôi quỳ gối trên mặt đất, dùng hai tay kiểm tra thảm cỏ và lớp đất mặt – thì tôi nghe thấy một âm thanh. Tôi ngẩng đầu lên, kinh ngạc nhận ra Rasmussen không còn ở sau lưng mình nữa. Tôi nhanh chóng quay người lại, và nhìn thấy anh ta, nhưng thứ tôi nhìn thấy không chỉ có một mình anh ta.
Tôi giật mình nhảy dựng lên. Tôi nhận ra, Rasmussen đang ở cùng hai người đàn ông bản địa cao gầy, nước da trắng, một trong số họ còn cầm một chiếc rìu đá ngắn. Mặc dù tôi cách họ một khoảng cách, và Rasmussen còn che khuất một phần tầm nhìn, nhưng theo phán đoán của tôi, cả hai người đàn ông bản địa đó đều không mặc quần áo. Họ lặng lẽ đứng đó, lắng nghe Rasmussen dùng những cử chỉ lớn để nói chuyện với họ. Có lúc, anh ta quay nửa người lại, chỉ về phía tôi, tôi tưởng lầm đó là lời mời gọi tôi đến gần họ, Rasmussen liền vội vã xua tay ra hiệu cho tôi đứng yên tại chỗ đừng di chuyển. Cuộc trò chuyện này, nếu dùng tai để nghe thì không nghe thấy gì, kéo dài thêm khoảng năm phút nữa, thì ba người đột nhiên bước về phía tôi.
Họ bước về phía tôi, và tôi đã có thể nhìn rõ ngoại hình của hai người thổ dân kia. Tôi nhận ra, một người có thể là người Polynesia, người còn lại chắc chắn là người da trắng, mặc dù màu da của cả hai người đều giống nhau. Cả hai đều khỏa thân từ đầu đến chân, chỉ có một chỗ là khác lạ. Cả hai người đều mang những chiếc túi vải màu trắng – trông giống như chiếc khố che thân thời trung cổ – trùm lấy cơ quan sinh dục, được buộc nhẹ nhàng ở eo bằng những sợi dây se lại từ xơ dừa mỏng manh. Phải thừa nhận rằng lúc đó tôi vô cùng bối rối và hoảng loạn, bởi vì mặc dù vài năm trước tôi đã nhìn thấy thứ này ở Melanesia, nhưng ở vùng Polynesia đã văn minh, quần âu kiểu Tây và váy ngắn bản địa rất thịnh hành, kiểu ăn mặc này đã lỗi thời rồi. Ấn tượng của tôi là hai người này, và cả những người mà họ đại diện, vẫn đang đi theo lối mòn cũ, những ảnh hưởng hiện đại vẫn chưa chạm đến họ.
“Giáo sư Easterday,” Rasmussen nói, “hai vị đây đang săn bắn ở gần đây, nhìn thấy tín hiệu của tôi nên đã đến chỗ chúng tôi. Đây là ngài Thomas Courtney, người Mỹ, thành viên danh dự của bộ lạc Yêu Nữ. Vị này là Mortuli, con trai cả của tù trưởng Bowdy Wright.”
Courtney đưa tay ra, tôi liền bắt tay anh ta. Mortuli không đưa tay ra, chỉ lộ ra một vẻ mặt khó ưa.
Trên khuôn mặt Courtney thoáng hiện lên một nụ cười, không còn nghi ngờ gì nữa là vì nhìn thấy sự kinh ngạc không thể kìm nén lộ rõ trên mặt tôi. Lấy lại bình tĩnh đôi chút, lòng tôi thầm thì thào, một người Mỹ toàn thân chỉ mang theo cái thứ đồ chơi mốt thời thượng ấy đang làm gì trên cái hòn đảo không có trên bản đồ mang tên Tam Yêu Nữ này chứ? Mặc dù bí ẩn vẫn chưa được giải đáp, nhưng hai người kia thì bây giờ tôi đã có thể nhìn rõ hơn rồi.
Mortuli còn trẻ, khoảng chừng 30 tuổi, chiều cao có lẽ kém 1 inch là tròn 6 foot. Chúng tôi đều biết, người Polynesia có làn da sáng gần giống màu nâu, nhưng trông anh ta dường như là một người da trắng đã bị phơi nắng đen đi. Tóc anh ta màu đen, gợn sóng, toàn thân hầu như không có lông tóc. So với Courtney, khuôn mặt anh ta rộng hơn, ngũ quan đoan trang, trông đẹp trai hơn một chút. Chỉ có đôi mắt hơi xếch và đôi môi đầy đặn là biểu thị anh ta mang dòng máu "A Tố". Vòm ngực của anh ta trông rất có sức mạnh, cơ bắp trên cánh tay phát triển, trong khi hông và đôi chân lại rõ ràng mảnh khảnh gầy gò.
Còn về phần Courtney, như tôi đã nói, là người lớn tuổi hơn, tôi thấy khoảng gần 40 tuổi, vóc dáng khá đẹp. Ước chừng anh ta cao 6 foot 2 inch, tóc màu cát, trông có vẻ như đã lâu không được chải chuốt. Khuôn mặt anh ta dài hơn người bạn người Polynesia của mình một chút, các đường nét rõ ràng hơn, đôi mắt nâu sâu thẳm, chiếcếc mũi giống như bị gãy rồi tùy tiện gắn lại, môi mỏng, miệng hơi rộng. Anh ta là người gầy hơn trong hai người, dáng người cao gầy nhưng lại rắn chắc, trên ngực và chân mọc một lớp lông dài vừa phải.
Miêu tả trên đây của tôi có lẽ không hoàn toàn chính xác, bởi vì tất cả những điều này đều được quan sát chỉ trong vỏn vẹn vài giây ngắn ngủi. Trời đã tối dần, việc quan sát tỉ mỉ càng thêm khó khăn, đành phải để dành lại để bổ sung sau này.
Tôi nhận ra Courtney muốn nói chuyện với tôi. “Thuyền trưởng Rasmussen thực ra là đại sứ và đường sống của chúng tôi hướng ra thế giới bên ngoài. Anh ấy đã kể cho chúng tôi nghe những gì anh ấy biết về ông, thưa giáo sư, cũng đã nhắc đến việc ông nhận lệnh từ Công ty Nội vận Châu Đại Dương.” Giọng anh ta trầm thấp, có trầm bổng, câu chữ trau chuốt, cho thấy đã từng được thụ giáo qua đản học. “Kể từ khi bản thân tôi đến đây vài năm trước, ông là người lạ đầu tiên. Tù trưởng và dân làng sẽ rất quan tâm đến chuyện này. Người lạ bị cấm đến đây.”
“Anh là một người Mỹ, không phải người của họ,” tôi cả gan lên tiếng, “tại sao anh lại được dung thứ?”
“Tôi gặp tai nạn mới đến nơi này,” Courtney nói, “nhờ ân điển của tù trưởng mới được giữ lại, tôi bây giờ đã là một thành viên trong số họ, và sẽ không có bất kỳ người đến sau nào được chào đón nữa. Bí mật về ngôi làng và hòn đảo của chúng tôi là thần thánh.”
“Khi chúng tôi bay qua bầu trời hòn đảo, chúng tôi không hề nhìn thấy ngôi làng.”
Courtney gật đầu. “Đúng, ông không thể nhìn thấy ngôi làng, nhưng nó tồn tại, và có hơn 200 con người, là hậu duệ của tổ tiên người da trắng và người da nâu.”
“Là hậu duệ của những kẻ nổi phản trên đảo Bounty sao?” tôi hỏi.
“Không, xuất thân hoàn toàn khác nhau. Không có thời gian để giải thích thêm, thưa giáo sư Easterday, tôi nghĩ, nếu ông rời khỏi đây ngay lập tức, quên đi việc từng nhìn thấy chúng tôi hoặc những hòn đảo này, thì đó sẽ là một việc cực kỳ khôn ngoan. Trên thực tế, sự xuất hiện của ông đã gây nguy hiểm cho toàn bộ hòn đảo rồi. Nếu sự mất tích của ông không gây nguy hiểm cho vị trí của thuyền trưởng Rasmussen ở Tahiti, tôi dám chắc Mortuli tuyệt đối sẽ không để ông rời đi đâu. Nhưng bây giờ, ông có thể rời đi mà không bị tổn hại gì.”
Tôi có chút chán nản, nhưng quyết tâm không thỏa hiệp với họ. Lời nói này thốt ra từ miệng của một người Mỹ hóa thành thổ dân dẫu sao cũng đỡ đáng sợ hơn là thốt ra từ miệng một người Polynesia. “Bãi đất phẳng này rất thích hợp để làm đường băng máy bay,” tôi nói, “báo cáo điều này với Canberra là trách nhiệm của tôi.”
Mortuli trở nên kích động, nhưng Courtney không nhìn anh ta, chỉ chạm nhẹ vào tay anh ta. “Thưa giáo sư Easterday,” Courtney nói nhỏ, “ông không rõ mình đang làm gì đâu, hòn đảo có vẻ không thể tiếp cận này, rất ít người đặt chân đến, trong mắt người ngoài thì đây là một nơi không có người ở, và đối với người ngoài thì vĩnh viễn không thể bước chân vào được – ý tôi là sự ăn mòn của nền văn minh hiện đại – kể từ năm 1796, cũng chính là thời điểm ngôi làng hiện tại mới được thành lập, là thời điểm khởi nguồn của nền văn hóa nơi đây, cho đến tận bây giờ vẫn luôn là như vậy.”
Tôi nghĩ, tiến sĩ Hayden, chính là việc anh ta dùng từ "văn hóa" đã khiến tôi lần đầu tiên nghĩ đến nhân chủng học, nghĩ đến yêu cầu của cô từ 10 năm trước. Đương nhiên, sự hứng thú của tôi vẫn đặt trên người ngài Trevor.
“Đó là công việc của tôi,” tôi nói.
“Ông đã suy nghĩ về hậu quả mà công việc của ông sẽ dẫn đến chưa?” Courtney hỏi, “Những đồng bọn của ông ở Canberra sẽ phái điều tra viên đến đây, họ sẽ tán thành địa hình mà ông đã chọn. Những người bạn của ông sẽ tìm kiếm một chính quyền bên ngoài sở hữu thuộc địa Polynesia hoặc ủy trị ủy thác. Họ sẽ tìm đến nước Pháp, nước Anh, New Zealand, nước Mỹ, hoặc những quốc gia khác có hòn đảo hoặc căn cứ ở Thái Bình Dương. Kết quả của việc họ đưa ra yêu cầu sẽ là gì? Chỉ là sự chấn động mà thôi. Nếu không có bất kỳ thế lực bên ngoài nào cảm nhận được sự tồn tại của hòn đảo nhỏ này, làm thế nào họ có thể tuyên bố nó thuộc về mình? Không có nhà thám hiểm nào từng lên bờ cả. Tôi sẽ phải ra trận ở một tòa án quốc tế nào đó để đối phó với những cáo buộc của những kẻ này, chứng minh sự độc lập của mấy hòn đảo này. Giả sử tôi thắng kiện, thì mọi thứ vẫn sẽ mất hết, bởi vì đảo Yêu Nữ đã biến thành một vụ án đầy màu sắc lãng mạn rồi. Xã hội hiện tại của nó sẽ rất khó để duy trì. Giả sử tôi thua kiện, một chính quyền nước ngoài nào đó giành được quyền sở hữu mảnh đất này, chúng ta cứ cho là nước Pháp đi, thì chuyện gì sẽ xảy ra chứ? Các quan chức và tầng lớp tiểu tư sản Pháp sẽ kéo đến, theo sau đó là những người bạn làm ăn kinh doanh của ông cùng với những chiếc máy bay của họ. Họ sẽ dỡ xuống những chiếc xe ủi đất và nhà lắp ghép, cùng với những công nhân say mèm. Một khi sân bay đã sẵn sàng, máy bay thương mại sẽ chở theo những tên khách du lịch ngốc nghếch nói năng không rõ ràng bay lượn khắp nơi. Hòn đảo sẽ trở thành một cảng hàng không. Ông nói điều này có ý nghĩa gì đối với bộ lạc Yêu Nữ?”
“Có nghĩa là họ không còn dã man nữa, họ sẽ trở nên văn minh, tận hưởng niềm vui của sự phát triển và tiến bộ, trở thành một phần của thế giới sống động. Như vậy chẳng phải rất tốt sao?”
Courtney quay sang Mortuli: “Cậu đã nghe những gì giáo sư nói rồi đấy, bạn tôi ơi, như vậy không tốt sao?”
“Chúng tôi không đồng ý,” Mortuli nói bằng thứ tiếng Anh chuẩn xác.
Tôi sợ hãi việc để lộ vẻ mặt há hốc mồm kinh ngạc trước mặt anh ta.
“Ông thấy đấy, họ không hề dã man chút nào,” Courtney nói, “trên thực tế, đối với cái gọi là nền văn minh của ông, thứ mà họ có thể cho ông thậm chí còn nhiều hơn những gì ông muốn cho họ. Nhưng nếu những kẻ bóc lột và nhân viên tiếp thị thương mại của ông xuất hiện, họ sẽ vĩnh viễn biến mất. Tại sao việc hủy diệt họ lại trở nên quan trọng đối với ông đến vậy, thưa giáo sư? Ông sẽ nhận được gì từ điều đó? Chẳng lẽ ông là tay sai của công ty Canberra sao?”
“Không, tôi chẳng qua chỉ là một thương nhân, kỳ nghỉ lại biến tôi thành một nghiên cứu sinh chuyên nghiên cứu về Nam Hải. Tôi có tình cảm với tất cả mọi người ở đây, yêu mến lối sống từ tổ tiên truyền lại của họ. Thế nhưng, tôi hiểu rõ họ không thể tiếp tục trốn tránh khỏi sự tiến bộ được.”
“Vậy, tiến bộ là động lực của ông? Hoặc có lẽ là tiền bạc chăng?”
“Con người ta phải sinh tồn chứ, ngài Courtney.”
“Đúng vậy,” Courtney chậm rãi nói, “tôi nghĩ điều đó đúng. Ông chắc chắn có lý do của mình, và nhân danh sự tiến bộ, cho rằng một nền tiểu văn hóa kiệt xuất và kỳ diệu nhất định phải chết đi.”
Tôi không thể kìm nén được sự tò mò của mình nữa. “Anh cứ luôn miệng ca ngợi những con người này, rốt cuộc họ có điểm gì kiệt xuất?”
“Lối sống của họ,” Courtney nói, “không giống bất kỳ lối sống nào trên thế giới này, so với lối sống mà anh và tôi từng trải qua, lối sống này chính xác hơn.”
“Tôi phải tận mắt chứng kiến,” tôi nói, “nói cho tôi biết ngôi làng ở đâu đi.”
Mortuli quay sang Courtney. “Bowdy Wright sẽ không đồng ý đâu.”
Courtney đồng tình với quan điểm của anh ta, và nói với tôi: “Điều này là không thể. Tôi dẫn ông đến đó, thì lực bất tòng tâm trong việc đảm bảo sự an toàn cho ông rồi. Ông buộc phải chấp nhận lời nói của tôi, sự tiếp tục sinh tồn của những con người này quan trọng hơn bất kỳ số tiền nào mà ông có thể kiếm được từ tập đoàn tài chính kia. Ông phải quay về cùng thuyền trưởng Rasmussen, và giữ kín như bưng.”
“Nếu tôi quay về ngay bây giờ,” tôi nói, “các anh có thể tin tưởng tôi không? Nếu tôi nói chuyện này với Canberra hoặc bất kỳ ai khác thì sẽ thế nào?”
Courtney trầm mặc một lát. “Tôi không dám chắc ông có bị lương tâm cắn rứt hay không. Tôi cũng không thể một mình đảm bảo ông sẽ không làm như vậy. Ông đã quen thuộc với phó thủ của thuyền trưởng là Richard Harpe rồi chứ? Cậu ta là người của chúng tôi, một người đảo Yêu Nữ. Nếu ông phá vỡ điều kỵ của bộ lạc, hủy hoại những con người ở đây, thì cậu ta hoặc người thân bạn bè của cậu ta có lẽ một ngày nào đó sẽ tìm thấy ông, và giết chết ông. Đây không phải là dọa ông đâu, tôi không có quyền lấy danh nghĩa thù hận bộ lạc để báo thù bất kỳ ai, đây chỉ là cảnh báo thiết thực được rút ra từ sự hiểu biết của tôi về những con người này.”
“Tôi không sợ,” tôi nói, “tôi rời đi ngay bây giờ đây –”
“Để đi báo cáo với Canberra về chuyện Tam Yêu Nữ sao?”
“Đúng vậy. Anh vẫn chưa thuyết phục được tôi rằng không nên làm như vậy, ngài Courtney. Anh từng định dùng những từ ngữ như ‘một nền văn hóa kiệt xuất’, ‘những con người kỳ diệu’, ‘những chuyện khó tin và hoàn toàn khác biệt’ để dỗ dành tôi, còn tôi thì nói đó đều là lời nói suông. Các anh không cho tôi đến ngôi làng để tận mắt chứng kiến, các anh cũng không nói rõ ý định cho tôi hiểu, các anh vẫn chưa đưa ra được một lý do ra hồn nào để giải thích tại sao bộ lạc Yêu Nữ nên duy trì trạng thái nguyên thủy vốn có của nó.”
“Nếu tôi thực sự kể cho ông sự thật – ít nhất là một phần – ông có tin không?”
“Tôi nghĩ là có.”
“Ông có thể không báo cáo với tập đoàn Canberra chứ?”
“Tôi không biết,” tôi chân thành nói, “tôi có thể không, nhưng tất cả còn tùy thuộc vào việc anh kể cho tôi nghe những gì.”
Courtney liếc nhìn Mortuli. “Ý anh thế nào, bạn tôi?”
Mortuli gật đầu. “Cần thiết phải nói sự thật.”
“Rất tốt,” Courtney nói. Anh ta quay sang Rasmussen từ nãy đến giờ chỉ đứng một bên lắng nghe: “Thuyền trưởng, tôi đề nghị chúng ta quay lại bãi biển thôi. Anh gọi Harpe từ trên máy bay xuống, và mang cho chúng ta ít đồ ăn đi. Chúng ta nhóm một đống lửa, ăn chút gì đó. Tôi còn phải mất khoảng một tiếng đồng hồ để kể cho vị khách của chúng ta nghe về mọi chuyện ở đây.”
“Sao phải tốn ngần ấy nước bọt chứ?” Rasmussen đòi hỏi, “Tôi không tin vị giáo sư này đâu. Theo ý tôi là cứ vứt quách anh ta ở đây mãi mãi đi. Anh có thể nhốt anh ta chung với tội phạm, và...”
“Không, tôi không thích thế,” Courtney nói, “làm vậy không công bằng với anh ta, và cũng không công bằng với anh đâu. Tôi không thể mạo hiểm được, thưa thuyền trưởng. Việc đó sẽ gây nguy hiểm đến tính mạng của anh – và cả của Harpe nữa – đến cuối cùng thì nhà chức trách cũng sẽ phát hiện ra chuyện xảy ra với giáo sư Easterday. Không, tôi thà xử lý chuyện này một cách có căn cứ còn hơn, tôi muốn đánh cược vào sự lương thiện chính trực của vị giáo sư này.”
Từ lúc này trở đi, tôi đã bắt đầu thích Courtney rồi.
Cứ như thế, thưa tiến sĩ Hayden, chúng tôi lại nối đuôi nhau đi xuống bãi biển. Khi đến nơi, trời đã tối hẳn, chỉ có một vầng trăng lưỡi liềm tỏa ra ánh sáng mờ ảo. Thuyền trưởng Rasmussen đưa chiếc xuồng quay trở lại phi thuyền, một lát sau liền mang thức ăn quay lại. Mortuli đã gom được mấy cành cây, nhóm lên một đống lửa. Rasmussen nấu ăn – tôi phải nói là anh ta làm việc rất nhanh nhẹn – trong lúc đó, tất cả chúng tôi đều ngồi trên bãi cát, vây quanh đống lửa, và Courtney bắt đầu kể về Tam Yêu Nữ.
Courtney mở đầu bằng một màn dạo đầu, nói rằng không thể giải thích rõ ràng từng chi tiết nhỏ về lịch sử và phong tục của bộ lạc Yêu Nữ được. Anh ta chỉ có thể kể một nét phác thảo ngắn gọn nhất. Anh ta bình tĩnh, thản nhiên kể từ khi cuộc thử nghiệm bắt đầu. Khi câu chuyện dần tiến gần đến hiện tại, anh ta trở nên nhiệt huyết và nghiêm túc hơn. Còn về phần tôi, lập tức bị câu chuyện kỳ diệu của anh ta thu hút, đến mức suýt chút nữa không nhận ra bữa ăn đã được dọn ra trước mắt từ lúc nào.
Chúng tôi yên lặng ăn cơm, tạo thành một khoảng dừng ngắn giữa hiệp. Và khi tôi nói với Courtney rằng tôi đang vô cùng nóng lòng muốn biết thêm nhiều chuyện nữa, sự yên lặng ấy lại bị phá vỡ. Tôi cầu xin sự tha thứ của anh ta. Dần dần anh ta lại bắt đầu kể tiếp, hơn nữa còn kể một cách chi tiết hơn. Tôi dán chặt mắt vào anh ta. Ai cũng nghĩ mình là kẻ tinh đời trong việc nhìn người, và tôi cũng thầm nghĩ mình có con mắt tinh tường ở phương diện này. Theo phán đoán của tôi, Courtney không hề nói dối, không thêm mắm dặm muối hay phóng đại sự việc, những gì anh ta kể chân thật hệt như một báo cáo nghiên cứu khoa học xuất sắc nhất. Tôi quá hứng thú với những gì anh ta kể, đến mức khi anh ta kể xong, tôi còn tưởng rằng mới chỉ trôi qua có vài phút. Trên thực tế, Courtney đã kể cho tôi nghe suốt một tiếng rưỡi đồng hồ. Bây giờ, vị Courtney này đã đại diện cho bộ lạc của mình để nêu rõ lý do – tôi nhận ra, kỹ thuật kể chuyện của anh ta một phần dựa vào kinh nghiệm khi làm luật sư bào chữa ở Chicago, một phần dựa vào tình yêu đối với con người trên đảo Yêu Nữ – trong đầu tôi tuôn trào ra một đống câu hỏi. Nhưng tôi rất lịch sự chỉ hỏi những câu hỏi thích hợp nhất. Có những câu anh ta trả lời thẳng thắn, có những câu anh ta dùng những lời lẽ như “quá liên quan đến vấn đề cá nhân, đây là sự xâm phạm quyền lợi cá nhân” để từ chối.
Trời đã rất khuya, bầu trời vẫn vô cùng ấm áp, nhưng đã mang theo chút hơi se lạnh, Courtney nói với tôi: “Được rồi, thưa giáo sư Easterday, ông đã biết được khái quát cơ bản nhất về Tam Yêu Nữ rồi. Những gì ông nghe được đã đủ để hiểu rõ ông sẽ hủy hoại những gì. Ông quyết định thế nào đây?”
Trong suốt nửa sau lời thuật lại của anh ta, tôi bắt đầu liên tục nghĩ đến cô, thưa tiến sĩ Hayden. Mỗi một sự thật kỳ quặc đều khiến tôi tự nhủ: A, nếu tiến sĩ Maud Hayden ở đây, cô ấy sẽ thưởng thức tất cả những điều này biết bao! Courtney cứ nói mãi không ngừng, còn tôi vừa nghe vừa nhớ lại yêu cầu từ lâu lắm rồi của cô. Trước khi bọn họ chết sạch hoặc bị tiêu diệt sạch, lối sống cổ xưa sẽ được bảo tồn nguyên vẹn như thuở ban đầu. Cô vẫn luôn nói rằng, nền văn hóa nguyên thủy bị cô lập với thế giới bên ngoài có thể dạy cho chúng ta đủ mọi phương thức khác nhau của hành vi con người, và điều này lại có thể được dùng để giúp chúng ta cải thiện hành vi của chính mình. Rõ ràng, xã hội kỳ lạ và nhỏ bé trên Tam Yêu Nữ này, trước khi tôi hoặc một kẻ nào đó giống như tôi giúp xã hội kỹ thuật hiện đại nuốt chửng nó, đáng lẽ nên được cứu vớt. Sinh sát quyền trong tay tôi, tinh thần trách nhiệm của tôi đối với những kẻ có khả năng sử dụng xã hội trên hòn đảo này làm phòng thí nghiệm để cải thiện xã hội của chúng ta, đã chạm đến sâu thẳm trái tim tôi. Đột nhiên, tầm quan trọng trong công việc của cô – tôi chỉ là một đồng minh tội nghiệp, bé nhỏ không đáng kể trong công việc của cô – khiến cho trách nhiệm của tôi đối với ngài Trevor và tập đoàn tài chính ở Canberra dường như chẳng còn quan trọng chút nào nữa.
Courtney hỏi tôi quyết định thế nào, đang ngồi chờ đợi câu trả lời của tôi qua ánh lửa bập bùng.
“Tôi muốn làm một giao dịch với anh,” tôi đột nhiên nói, “thực ra là một vụ mua bán.”
“Mua bán gì cơ?” Courtney tò mò hỏi.
“Anh đã từng nghe nói về nhà nhân chủng học nổi tiếng – tiến sĩ Maud Hayden chưa?”
“Đương nhiên là rồi,” Courtney nói, “tôi đã đọc phần lớn các tác phẩm của cô ấy.”
“Anh thấy chúng thế nào?”
“Rất tuyệt,” Courtney nói.
“Đây chính là vụ mua bán mà tôi muốn làm,” tôi nói, “tôi không đưa ra yêu sách với Canberra về Tam Yêu Nữ nữa.”
“Tôi vẫn chưa hiểu lắm,” Courtney nói.
Tôi kéo dài giọng, từng chữ một rành mạch nói: “Nếu các anh cho phép tiến sĩ Hayden và các đồng nghiệp của cô ấy đến đây du lịch trong vài năm, và cho phép cô ấy ghi chép lại bất cứ lúc nào những gì tai nghe mắt thấy ở xã hội này, tôi sẽ đảm bảo vĩnh viễn giữ kín miệng, giữ gìn bí mật cho các anh.”
Courtney đồng ý xem xét đề nghị này. Trầm ngâm vài phút sau, anh ta trao đổi ánh mắt với Mortuli và Rasmussen. Cuối cùng, ánh mắt của anh ta lại dán chặt vào tôi, có vẻ như đang khen ngợi thiện ý của tôi. “Thưa giáo sư,” anh ta nói, “làm sao ông có thể đảm bảo tiến sĩ Hayden và những người của cô ấy không nói ra ngoài chứ?”
Tôi đã lường trước điều này, và câu trả lời đã được suy nghĩ từ trước. “Tất nhiên,” tôi nói, “tiến sĩ Hayden và các đồng nghiệp của cô ấy sẽ thề theo yêu cầu, tuyệt đối giữ bí mật về những nơi mà chuyến du lịch của họ đặt chân đến. Nhưng con người vốn mỏng manh, tôi biết lời hứa miệng sẽ không làm anh hài lòng. Vì thế, tôi đề nghị đặt tiến sĩ Hayden và các đồng nghiệp của cô ấy vào trong bóng tối hoàn toàn, đến mức họ hoàn toàn không biết mình sẽ đi đâu. Cô ấy và đoàn tùy tùng của mình có thể đến Tahiti trước, sau đó được thuyền trưởng Rasmussen đưa đến Tam Yêu Nữ vào lúc nửa đêm. Sẽ không có một nhà nhân chủng học nào biết được kinh độ hay vĩ độ cả. Họ cũng sẽ không hiểu được là đang bay về phía bắc hay phía nam, hay bay về phía đông hay phía tây. Họ chỉ có thể biết là đang ở một nơi nào đó ở Nam Thái Bình Dương, trên một hòn đảo nhỏ bé như hạt cát giữa hàng vạn hòn đảo mà thôi. Các anh có thể sắp xếp họ trong phạm vi hạn chế của mình. Họ sẽ quan sát và tìm hiểu trong phạm vi mà tù trưởng của các anh cho phép, chụp lại những gì các anh muốn họ chụp, và sẽ không có thêm bất kỳ yêu cầu nào nữa. Khi cuộc nghiên cứu kết thúc, họ sẽ rời đi trong bóng tối tuyệt đối giống như lúc đến. Họ sẽ vĩnh viễn không bao giờ biết chính xác nơi chốn mà họ từng đặt chân đến rốt cuộc nằm ở đâu. Nhưng họ sẽ thu được báo cáo khoa học chi tiết về xã hội này vì lợi ích của nhân loại. Cứ như thế, cho dù một ngày nào đó đảo Yêu Nữ có bị hủy diệt, thì những điều kỳ diệu của nó, cùng với ghi chép về lối sống không chút kiềm chế ấy sẽ còn mãi với trần gian. Đây chính là đề nghị của tôi. Tôi kiên định tin rằng đề nghị này là công bằng và hợp lý.”
“Thêm nữa, không xây sân bay nữa chứ?” Courtney nói.
“Không xây nữa, tôi dùng danh nghĩa của chính mình để đảm bảo.”
Courtney mím chặt môi, trầm tư suy nghĩ, sau đó ra hiệu cho Mortuli. Cả hai đứng dậy khỏi bãi cát, đi dọc theo mép nước, hướng về phía bãi biển, vừa đi vừa không ngừng trò chuyện, cho đến khi biến mất trong màn đêm. Một lát sau, Rasmussen búng mẩu xì gà vào đống lửa, đứng dậy, cũng bước đi theo hướng của họ.
Mười phút sau, tất cả bọn họ đều quay lại. Tôi đứng dậy, lắng nghe phán quyết của họ.
“Giao dịch của ông thành rồi,” Courtney thản nhiên nói, “tù trưởng Bowdy Wright dưới sự bảo đảm của con trai mình, ủy quyền cho ông thông báo với tiến sĩ Maud Hayden rằng cô ấy có thể đến theo những điều kiện nghiêm ngặt mà ông đã nói, nhưng phải vào khoảng tháng sáu, tháng bảy, và chỉ trong vòng 6 tuần. Ông phải thuê Rasmussen làm người trung gian giữa ông và chúng tôi. Ông phải thông qua anh ta để cho chúng tôi biết liệu cô ấy có đến hay không, thời gian chính xác đến lúc nào cũng như những thay đổi khác. Thuyền trưởng Rasmussen cứ hai tuần lại đến đây một chuyến trong một ngày, thu nhận hàng xuất khẩu của chúng tôi, đổi lấy những vật phẩm mà chúng tôi cần, thế nên anh ấy vẫn luôn giữ liên lạc với chúng tôi. Thế nào, thưa giáo sư, bây giờ mọi chuyện đã rõ ràng cả rồi chứ?”
“Rõ ràng rồi.”
Tôi bắt tay với Courtney, nói lời tạm biệt với Mortuli, rồi theo thuyền trưởng Rasmussen quay trở lại chiếc thủy phi cơ, nơi Harpe đang đợi sẵn.
Chúng tôi cất cánh trong bóng tối, bay về phía Papeete, tôi nhìn thấy đống lửa trên bãi biển đã tắt ngấm, chớp mắt một cái, đến cả cái bóng của Tam Yêu Nữ cũng chẳng còn nhìn thấy nữa. Trên đường về nhà, tôi ngồi một mình trong khoang chính, không bị ai quấy rầy, lôi giấy và bút ra, vội vã ghi lại những gì mình còn nhớ được về đêm bãi biển đầy kích thích ấy. Tôi nhanh chóng ghi lại phần tinh hoa trong câu chuyện mà Courtney đã thuật lại về lịch sử và thực tiễn của bộ lạc Tam Yêu Nữ.
Khi tôi viết bức thư dài này cho cô, tôi đã lật giở lại cuốn sổ tay của mình, thưa tiến sĩ Hayden, và phát hiện ra những chi tiết bỏ sót còn nhiều hơn tôi tưởng tượng. Không rõ là do trí nhớ của tôi sai sót, hay là do Courtney chủ đích lược bớt, thế nhưng, dàn ý chưa được chỉnh lý này sẽ có ích rất lớn khi cô quyết định xem có nên thực hiện chuyến đi thực tế này hay không.
Vậy thì, xin được nói một cách ngắn gọn –
Năm 1795, trên phố Skinner ở London có một triết học gia kiêm nhà viết sách mỏng tên là ngài Daniel Wright, sống dựa vào khoản thu nhập cá nhân do người cha quá cố để lại. Ngài Daniel Wright có một người vợ, một con trai, hai con gái, ông ta hết lòng muốn cải lương hoặc cải tạo xã hội nước Anh. Ông ta thường xuyên tụ tập với người hàng xóm, bạn bè của mình, người lúc đó mới 37 tuổi và là kẻ sùng bái thần tượng William Godwin. Cô chắc chắn sẽ nhớ ra, Godwin chính là nhà văn và chủ hiệu sách cuối cùng kết hôn với Mary Wollstonecraft, và sau đó bị vạ lây vì người cháu gọi bằng dì là Shelley. Sự thật quan trọng là, Godwin đã xuất bản cuốn 《Hành trình nghiên cứu chuẩn tắc chính trị》 vào năm 1793, trong đó đề xuất bãi bỏ chế độ hôn nhân, hình phạt và tài sản tư hữu. Không chỉ riêng bài viết này, mà chính con người Godwin đã ảnh hưởng đến tư tưởng chủng tộc của ngài Daniel Wright. Tất nhiên, Daniel Wright không có hứng thú với cải cách chính trị bằng cải cách hôn nhân. Dưới sự cổ vũ của Godwin, ông ta từng viết một cuốn sách mang tựa đề 《Sự phục hưng của vườn Địa Đàng》. Nội dung chính là, nhờ ơn huệ của Chúa, Adam và Eve đã có được cơ hội thứ hai, một lần nữa quay trở lại vườn Địa Đàng để làm lại từ đầu. Bởi vì có nhận thức rõ ràng về hiện trạng hôn nhân mà họ được thừa kế và truyền lại, họ quyết tâm thực hành, bồi dưỡng và phát triển một chế độ mới về tình yêu, chung sống, theo đuổi và kết hôn. Tôi phải thừa nhận rằng, đây là một khái niệm vô cùng thú vị.
Cuốn sách của Wright đả kích mãnh liệt chế độ hôn nhân và phong tục tình yêu thịnh hành ở nước Anh lúc bấy giờ, không tiếc công sức đề xướng một chế độ hoàn toàn khác biệt. Bộ sách này của Wright không chỉ đến từ trí tưởng tượng của chính ông ta, và tư tưởng của Godwin, mà còn đến từ những tư tưởng được chủ trương trong 《Cộng hòa》 của Plato từ sớm hơn nữa, 《Utopia》 của ngài Thomas More, 《Thành phố Mặt Trời》 của Tommaso Campanella, 《Tờ khai mới》 của Francis Bacon và 《Tối cao pháp viện》 của James Wellington. Thế là, Wright đành phải tuyên chiến với những lề thói đang thịnh hành của chính phủ, luật pháp, giáo dục, phúc lợi công cộng và tôn giáo. Wright tìm được một nhà xuất bản gan dạ, và đến năm 1795, ấn bản đầu tiên của cuốn sách mỏng có tính chất bùng nổ ấy đã được in xong. Trước khi những cuốn sách này được phát hành, Wright hay tin từ chỗ Godwin rằng, tòa án của George III đã biết được nội dung của cuốn sách mang tính cấp tiến này, và chuẩn bị khởi tố Utopia hôn nhân của Wright với tội danh "làm hư hỏng giới trẻ" và "lật đổ". Tịch thu sách, giam tù tác giả là chuyện không thể tránh khỏi. Tuân theo lời khuyên của Godwin và những người bạn khác, Wright đã giấu một cuốn sách do chính mình viết, mang theo những vật dụng nhẹ nhàng nhất và tiền tiết kiệm trong nhà, dắt theo vợ con, cùng với 3 tín đồ, chạy trốn trong đêm đến cảng Kinsale ở Ireland. Nhóm người này đã lên một con thuyền 180 tấn chuẩn bị khởi hành đến vịnh Botany ở New Holland, mà sau đó mới biết là khởi hành đến Sydney ở Australia.
Dựa trên những tài liệu nguyên thủy mà Courtney đã kể lại dựa trên ngôi làng thổ dân Tam Yêu Nữ, Daniel Wright thực ra hoàn toàn không cần phải trốn khỏi nước Anh để giữ mạng. Trên thực tế, ông ta mang tư tưởng của một bậc tử đạo, vì cuộc thử nghiệm, chắc chắn sẽ rất thích đem tư tưởng của mình ra tuyên truyền trước nhà chức trách và vương quốc. Thứ thúc đẩy ông ta trốn chạy là một động lực chắc chắn hơn. Trong vài năm, ông ta thường xuyên tung tin gió thổi rằng sẽ bỏ trốn đến 16 bang ở Tân Đại Lục, hoặc đến vùng Nam Hải mới được phát hiện, để thực hành những gì mình vẫn hằng cổ xuy. Tức là, điều ông ta suy tính không chỉ là viết ra vài cuốn sách giả tưởng về hôn nhân, mà là đến một nơi xa xôi nào đó để biến ảo tưởng thành hiện thực. Thế nhưng, suy cho cùng ông ta vẫn là một học giả ngồi trong thư viện, là một nhà tư tưởng chứ không phải một người hành động thực tế, ngày nào cũng chỉ nghĩ đến trách nhiệm bồi dưỡng thế hệ sau, trong cuộc đời ông ta, không thể nào tự mình thực hiện một cú nhảy vọt, làm một cuộc cách mạng kịch tính nào cả. Cuốn sách của ông ta bị cấm đoán khắp nơi, cùng với bản án giam tù sắp sửa giáng xuống ở Newgate đã khiến ông ta giận dữ ngút trời. Ông ta không những căm hận sự bất công của chính phủ, mà còn căm hận sự chật hẹp của xã hội mà mình đang sống, chính vì lý do này, mới thúc giục ông ta bỏ trốn, đi làm những việc mà ông ta vẫn luôn muốn làm.
Trong chặng đường dài dằng dặc và buồn tẻ đi đến Australia, ông ta có thời gian để biến những ảo tưởng Utopia trong cuốn sách của mình thành các bước thực tiễn, ít nhất là đã viết ra giấy, thứ còn thiếu duy nhất chỉ là một mảnh đất tự do để triển khai mà thôi. Daniel Wright ban đầu vẫn hy vọng Australia sẽ là một nơi như vậy, nhưng khi ông ta và các đồng đội đặt chân lên vịnh Botany, ông ta liền phát hiện ra mình đã nghĩ sai rồi. Những vùng đầm lầy rộng lớn ở khu vực này, là địa ngục trần gian mà nhóm thực dân đầu tiên để lại cho những kẻ da đen cầm giáo và những tên tù nhân cầm dao găm. Nhóm người của Wright vội vã đi tiếp đến vịnh Sydney, đây là thuộc địa chính của tội phạm Anh được khai mở từ 8 năm trước. Chưa đầy một tháng, Wright đã phát hiện ra mình buộc phải di dời lần nữa. Cuộc sống ở thuộc địa tội phạm thực sự quá khắc nghiệt, quá tàn bạo, quá dơ bẩn, huống chi một nhà cải cách cấp tiến và kẻ cuồng nhiệt cổ xuy người Anh sao có thể kiên nhẫn kiếm sống trong tay ngài tổng đốc cao quý cho được.
Louis Antoine de Bougainville và James Cook từng đến Nam Hải thám hiểm, Wright có những tác phẩm lãng mạn do hai người bọn họ viết. Wright đinh ninh rằng thiên đường không tì vết này chính là chốn về của mình. Tóm lại, chẳng phải trong nhật ký của Bougainville đã viết về Tahiti như thế này sao? “Những chiếc thuyền độc mộc chở đầy phụ nữ. Khuôn mặt thanh tĩnh của họ chẳng hề thua kém đa phần người châu Âu là mấy, vẻ đẹp vóc dáng có thể sánh ngang với bất kỳ chủng tộc nào. Đa phần những mỹ nhân này đều khỏa thân, đàn ông và phụ nữ lớn tuổi đi cùng họ đã cởi sạch chiếc khố quấn eo. Ban đầu, họ làm những cử chỉ đùa giỡn nhẹ nhàng trên thuyền độc mộc. Đàn ông thì bộc trực hơn, hay có thể nói là tự do hơn, hành sự trực tiếp hơn, giục chúng ta chọn một cô gái, cùng cô ấy lên bờ. Cử chỉ của họ thể hiện rõ ràng rằng chúng ta sẽ nên duyên với họ.” Một khi đã lên bờ rồi, chẳng phải Bougainville lại bổ sung thêm vài nét nữa sao? “Cảm giác đó giống như đến vườn Địa Đàng... Mỗi một thứ đều ám chỉ và gợi nhắc về tình yêu. Những cô gái thổ dân đó không hề có điều gì kiêng dè với chuyện này. Mọi thứ xung quanh họ đều khiến họ tuân theo nguyện vọng trong lòng hoặc tiếng gọi của tự nhiên.”
Điều này đối với ngài Daniel Wright là quá đủ rồi. Ở bên kia đất nước Australia tồn tại một nền văn hóa mới không chút câu nệ trói buộc, phương thức thực thi tình yêu và hôn nhân hoàn toàn trùng khớp với những tư tưởng hay nhất của chính ông ta. Ở nơi đó, rời xa cái gọi là thực tiễn tàn nhẫn, trói buộc của phương Tây, ông ta sẽ kết hợp tư tưởng của mình với những thực tiễn tương tự của người Polynesia, hoàn thiện thế giới của mình trong tiểu thiên địa này.
Wright đã mua vé cho một chiếc thuyền buồm hai cột buồm nhỏ nhưng thích hợp đi biển cho nhóm người của mình. Con thuyền này vì mục đích buôn bán mà giương buồm hướng về phía Nam Hải, mục tiêu cuối cùng là Otaheite, mà tiếng Anh đọc là Tahiti. Wright hỏi thuyền trưởng rằng nếu trả thêm tiền thuê thuyền, có thể đi đến một nơi xa hơn Tahiti hay không, đến gần nửa tá hòn đảo vô danh chưa được đánh dấu trên hải đồ, cho đến khi tìm được một nơi mà Wright, người nhà của ông ta cùng những người đi theo có thể an cư lạc nghiệp. Thuyền trưởng là kiểu người dễ thương lượng.
Thuyền trưởng đã giữ lời hứa. Sau khi hành trình đến Tahiti, thả neo hai tuần, con thuyền lại tiếp tục hành trình hướng về phía nam, băng qua vùng Polynesia. Dừng lại ba lần trước sau, Wright cùng hai người bạn đồng hành lên mấy hòn đảo này để thăm dò. Một hòn đảo bị rừng đước tàn phá thành vô dụng, một hòn đảo khác thiếu nước ngọt uống và không có đất màu mỡ, còn hòn đảo thứ ba thì có những kẻ chuyên cắt đầu người hoành hành. Wright giục thuyền trưởng tiếp tục tìm kiếm. Hai ngày sau, họ nhìn thấy nhóm đảo mà sau này được đặt tên là Tam Yêu Nữ.
Sau một ngày khảo sát hòn đảo chính, đã chứng minh được rằng Wright đã tìm thấy vườn Địa Đàng nhân gian của mình. Nơi này tránh xa các tuyến đường mậu dịch, không có cảng tự nhiên và vùng nước neo đậu sâu, có độ ẩn giấu cực kỳ cao. Trong đảo có lượng lớn động thực vật, những con suối trong vắt và các tài nguyên thiên nhiên khác. Quan trọng hơn là, Wright còn gặp được một ngôi làng có 40 người Polynesia, và những con người đó vô cùng hiếu khách.
Thông qua một người thổ dân phiên dịch mang đến từ Tahiti, Wright có thể tiến hành trò chuyện ở mức độ tương đối với vị tù trưởng Tofani của bộ lạc. Wright được biết, dân làng là hậu duệ của một nhánh gần người Polynesia, những người đã ngồi thuyền độc mộc đi khai phá thuộc địa đại dương từ rất lâu trước đây, và phát hiện ra chốn ẩn cư này tại đây. Vị tù trưởng này chưa từng gặp qua một người da trắng nào, chưa từng nhận được món nào kỳ diệu đến thế (một chiếc rìu kim loại được tính là một, một chiếc đèn dầu cá lại là một), cho nên vô cùng kính sợ Wright. Ông ta coi việc vị khách tới có thể cùng mình cai trị hòn đảo này là một "Mana" vô cùng to lớn – Wright biết được chữ này có rất nhiều nghĩa, ở đây có uy tín chỉ "uy vọng". Tofani trong lúc dẫn Wright đi tham quan ngôi làng, đã kể cho ông ta nghe về phong tục của những con người ở đây. Wright đã viết trong nhật ký rằng, con người ở đây “vui vẻ, tự do, thông minh và lạc quan đối với cuộc sống và tình yêu”, thái độ và cách thức của họ sẽ khiến “Bougainville vui mừng từ tận đáy lòng”. Ngày hôm sau, toàn bộ gia đình Wright cùng các đệ tử của ông ta, tính cả bản thân ông ta tổng cộng là 8 người đã lên bờ, chuyển đồ đạc của mình lên, cùng với vài con chó, cừu, gà. Thuyền buồm giương buồm rời đi, còn Wright thì gia nhập vào hàng ngũ của Tofani, để diễn một vở kịch "Sự phục hưng của vườn Địa Đàng".
Về đoạn lịch sử phi thường này, vẫn còn rất nhiều, rất nhiều nữa, thưa tiến sĩ Hayden, nếu cô có ý định, thì những tình tiết chi tiết hơn xin đành để lại cho tự cô đi tìm hiểu nhé. Bị giới hạn bởi dung lượng của bức thư này, tôi muốn dùng những trang giấy còn lại chỉ để kể về phong tục của xã hội đã phát triển từ năm 1796 cho đến nay.
Một tháng sau, nhóm người của Wright đã dần an cư lạc nghiệp trong khu vực cư trú của người Polynesia. Wright nghiêm túc nghiên cứu truyền thống, phong tục và hành vi của bộ lạc họ, cẩn thận ghi chép lại, đồng thời cũng ghi chép lại những suy nghĩ của chính mình về việc sống trên đảo Tam Yêu Nữ nên làm thế nào cho phải. Về mặt quản lý hành chính, những người Polynesia này tin vào tù trưởng thế tập. Còn Wright thì tin vào hội đồng gồm 3 nam nữ đã qua huấn luyện năng lực lãnh đạo và trải qua nhiều thử nghiệm. Như cô đã biết, đây chẳng qua chỉ là sự tu chỉnh đối với tư tưởng của Plato. Wright phát hiện ra rằng, hệ thống của chính ông ta sẽ không thể phát huy tác dụng trên hòn đảo hẻo lánh này – ở đâu và làm thế nào để xây dựng một ngôi trường huấn luyện các nhà lãnh đạo có bộ óc vạn năng đây? Ông ta chỉ đành tán thành tư tưởng của người Polynesia về tù trưởng thế tập.
Đối với lao động và tài sản, mỗi bộ lạc mang dòng máu Polynesia trong lúc xây dựng gia đình đơn lẻ và sở hữu đồ đạc trong nhà, còn cùng nhau trồng trọt và thu gom thức ăn như một thể thống nhất, cất trữ trong một kho chung của công. Còn Wright thì chủ trương một chế độ chặt chẽ hơn, và mang tính công hữu nhiều hơn nữa. Ông ta cảm thấy, tù trưởng nên kiểm soát toàn bộ tài sản thực tế, ban phát cho mỗi gia đình theo quy mô lớn nhỏ. Nếu một gia đình mở rộng, tài sản của họ cũng theo đó mà mở rộng; một gia đình thu hẹp, tài sản của họ cũng theo đó mà thu hẹp lại. Thêm nữa, Wright cho rằng, mỗi người đàn ông trưởng thành trên Tam Yêu Nữ mỗi ngày nên làm việc 4 tiếng, làm công việc phù hợp nhất với bản thân, bất kể là làm nông, đánh cá, làm thợ mộc hay các nghề nghiệp cần thiết khác. Sản phẩm của những người lao động này nên được đặt vào trong một kho chung lớn. Mỗi gia đình theo tuần lĩnh một phần thực phẩm và vật dụng sinh hoạt tối thiểu từ trong kho ra. Phần tối thiểu này đối với tất cả mọi người phải hoàn toàn bình đẳng. Thế nhưng, những ai có thành quả lao động lớn trong làng thì lại nên nhận được phần nhiều hơn mức tối thiểu, phần nhiều hơn đó chính là phần thưởng mà họ nên nhận được. Nói một cách ngắn gọn, tuyệt đối bình quân, không có nghèo đói, lại có một mức độ kích thích nhất định. Tofani đã chuẩn bị thỏa hiệp với cuộc cải cách này, và thực hiện nó vào năm 1799.
Dựa trên những lời giảng giải của Courtney mà tôi đã ghi chép lại, hiện tượng điều hòa thỏa hiệp này có thể bắt gặp ở khắp mọi nơi – chỗ này là tinh hoa của chế độ Polynesia, chỗ kia là kiệt tác từ trí tưởng tượng của Wright, có lúc hai chủ trương lại được pha trộn vào nhau. Về giáo dục, tôn giáo, giải trí và những vấn đề lớn khác, đều đạt được sự điều hòa như thế này. Wright là người theo chủ nghĩa đơn nhất chủ đề, sẽ không cho phép hai chế độ cùng tồn tại, ông ta cảm thấy, làm như vậy sẽ dẫn đến xung đột. Thường thì, hoặc là làm theo phương thức hành vi của người Polynesia, hoặc là làm theo phương thức hành vi của chính ông ta, điều này buộc phải đưa ra sự lựa chọn –