The Three Sirens

Lượt đọc: 1 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 23

❊ ❊ ❊

“Thế thì, anh đã ở viện điều dưỡng, anh đã bình phục. Sao vẫn chưa về nhà, về nước Mỹ?”

Anh chần chừ một lát. “Anh đã quen với nơi này, anh nghĩ là anh thích chốn này. Đây là một cuộc sống thoải mái, không có ham muốn, một người đàn ông có thể tùy ý cô độc, cũng có thể tùy ý chung đụng với mọi người. Anh có công việc của mình ở đây, những cuốn sách của anh—”

“Người phụ nữ của anh.”

“Đúng vậy, có cả điều đó.” Anh nhún vai. “Thế nên anh mới ở lại.”

Cô nhìn chằm chằm vào anh. “Chỉ có thế thôi sao?”

“Có lẽ còn những lý do khác,” anh thong thả nói, rồi mỉm cười. “Chúng ta đừng nói hết một lần, như vậy anh mới có cớ để trò chuyện với em thêm lần nữa.”

“Chỉ cần anh muốn nói.”

Anh ngồi thẳng người hơn một chút. “Tại sao anh rời khỏi Chicago? Anh nói với em là không có lý do gì đặc biệt cả. Thực ra, anh muốn rời đi. Anh cho rằng thái độ của chúng ta đã trở nên lạnh nhạt quá sớm. Anh biết thái độ của chính mình, thái độ đối với phụ nữ, đối với hôn nhân là như vậy đấy. Cha mẹ anh kết hôn cứ như bước vào địa ngục. Đồng sàng dị mộng, ly thân nhiều năm. Nếu hai người chạm mặt trong một căn nhà, chẳng khác nào ném hai con gà trống vào cùng một chiếc lồng. Cứ thế đấy, lớn lên với quan niệm rằng hôn nhân chẳng phải thiên đường. Hơn nữa, khi người mẹ là một ả đàn bà đanh đá dữ dằn, nó sẽ càng ảnh hưởng đến thái độ của em. Em bắt đầu cho rằng Disraeli đã đúng. Em thấy đấy: Mỗi người phụ nữ đều nên kết hôn — nhưng đàn ông thì không. Anh đã dành rất nhiều thời gian ở trường hoặc sau khi tốt nghiệp để ở bên các cô gái, nhưng luôn vô cùng cẩn trọng. Sau đó, vào năm 1951, anh gặp một người, bị mê hoặc, và những bức phòng tuyến của anh sụp đổ. Chúng ta chính thức đính hôn. Trước khi chúng ta kết hôn, anh đi Triều Tiên. Chúng ta thề yêu nhau như thủa ban đầu, giữ gìn sự thuần khiết, chờ đợi lẫn nhau. Quả thực đã giữ lời hứa, khi anh trở về cô ấy đang chờ anh. Anh cưới cô ấy, và sau đám cưới anh phát hiện ra trước khi anh về cô ấy đã mang thai, cô ấy chẳng cho anh thứ gì cả. Cô ấy cần một kẻ chịu tội thay, cần một kẻ ngốc, cần một người có thể cho cô ấy và đứa con của cô ấy một danh phận và cái tên hợp pháp. Cho đến tận bây giờ, anh mới nhìn rõ bản thân mình đã bị chơi xỏ thế nào, anh đã rời bỏ cô ấy, chấm dứt cuộc hôn nhân này. Đây là lý do tại sao anh có thể nói với em rằng, kiến thức của anh về giống loài mang tên người chồng chỉ là những thứ thủ thỉ qua tay người khác, anh vẫn giữ vững quan điểm đó. Anh không cảm thấy mình từng kết hôn bao giờ.”

“Em rất tiếc vì chuyện đó đã xảy ra, Tom, vốn dĩ nó không nên xảy ra.” Cô cảm thấy ở cạnh anh rất thoải mái, gần gũi hơn, giờ đây khi anh đã bộc lộ một lần thất bại cá nhân.

“Không, vốn dĩ anh không nên để nó xảy ra, nhưng anh đã để nó xảy ra.”

“Thế nên mới ứng với câu nói cổ — một lần bị rắn cắn, cả đời sợ dây thừng?”

“Không hoàn toàn là vậy, còn có nhiều nguyên nhân hơn thế. Trải nghiệm lần đó, thực ra cũng không phải là ngẫu nhiên, đã khiến anh càng hiểu sâu sắc hơn về cha mẹ mình, khiến anh hoài nghi về sự thân mật giữa người với người, anh dồn nhiều tâm sức cho công việc luật sư của mình hơn trước. Chẳng bao lâu sau, anh được thăng chức. Trở thành đối tác sơ cấp, chính là làm công việc của bên bán tại công ty Wolfe và Courtney. Nhưng trong công việc của anh đã xảy ra một khúc chiết kỳ lạ. Anh vẫn luôn làm rất nhiều mảng luật thuế, kiểu như cung cấp tư vấn cho các công ty. Dần dần, anh bắt đầu nhận nhiều vụ kiện tụng ra tòa hơn từ những người khác trong công ty, phần lớn là các vụ ly hôn. Anh trở thành một chuyên gia luật ly hôn, xử lý qua hàng nghìn vụ kiện tụng, và nhanh chóng dồn toàn bộ tâm sức của mình vào đó. Nhìn lại quá khứ, anh có thể nhận ra điều gì đã thúc đẩy mình làm vậy. Cứ như thể muốn thu thập bằng chứng tận tay để củng cố cho những suy nghĩ của chính mình về phụ nữ và hôn nhân. Anh không muốn nhìn thấy mặt tốt nhất của nó — những cặp vợ chồng khỏe mạnh, tương đối hạnh phúc trong một cuộc hôn nhân mỹ mãn. Khía cạnh đó biến anh thành kẻ ngoại đạo, thành một kẻ thất bại. Bằng cách tự chôn vùi mình vào thế giới tranh chấp hôn nhân — và anh không thể nói cho em biết đàn ông và phụ nữ trông ra sao trong một văn phòng ly hôn đâu, sự thù địch, lòng căm hận, sự ích kỷ đáng thương, nỗi đau đớn rõ mồn một — bằng cách tự biến mình thành một phần trong số đó, giả vờ cho rằng đây là điều bình thường, để chứng minh quyết tâm sống độc thân của mình là đúng đắn. Anh đã bóp méo bản thân, bắt đầu thích ứng với tâm lý đó. Em không thể tưởng tượng được đâu, nếu sống trong thế giới của tiền cấp dưỡng ly thân, phân chia tài sản, quyền nuôi con, khởi kiện và kháng cáo cùng những cuộc chia ly đau đớn, em sẽ bị bóp méo đến mức độ nào. Cuối cùng em sẽ tự nhủ với bản thân rằng, tất cả phụ nữ đều không đáng tin, đều có bệnh, và tất cả đàn ông cũng vậy, cả hai phía đều là đồ khốn. Em hiểu chứ?”

“Anh vẫn có cảm giác đó sao?” Claire hỏi.

Courtney trầm ngâm một lát. “Không,” anh nói. “Anh không nghĩ mình vẫn còn như vậy.” Anh lại một lần nữa ngẫm nghĩ về toàn bộ quá trình, một cuộc tự vấn với chính mình, đến mức quên cả châm lại chiếc tẩu đã tắt. “Tóm lại,” anh vừa nói vừa ngẩng đầu đối diện với Claire, “anh đã trở nên chán ghét những con người mà ngày nào mình cũng phải giao du, mọi chuyện đều rập khuôn một dạng, thật là nhàm chọt, anh cảm thấy vô cùng ghê tởm trước những mưu mô cuộc đời vây quanh mình, đến mức có một ngày anh kiểm tra tài khoản ngân hàng của mình, thấy có đủ tiền, liền xin rút lui. Các đối tác của anh đồng ý cho anh nghỉ phép dài hạn. Nhưng theo ý anh, đó là từ bỏ. Cứ khoảng 6 tháng anh lại nhận được thư từ một người trong số họ, lần nào họ cũng hỏi anh đã gột rửa sạch sẽ những thứ nhảm nhí đó ra khỏi hệ thống của mình chưa, đã sẵn sàng từ nơi anh đang ở quay lại những bức tường đại sảnh màu xanh sẫm đó chưa, đại loại thế. Anh viết thư trả lời là không. Dạo gần đây, thư gửi đến ít dần rồi.”

“Sau khi từ bỏ, anh đi thẳng đến đây sao?”

“Đầu tiên, anh đến Carmel ở California. Anh nghĩ mình muốn nghỉ ngơi, suy ngẫm, đọc một cuốn tự truyện về luật sư của Rufus Choate — anh đã có hứng thú với gã ngốc lịch sử kỳ diệu này từ hồi đi học, và đã ghi chép rất nhiều — nhưng anh cảm thấy không muốn làm việc. Thế nhưng Carmel cũng toàn là những kiểu người mà anh từng quen biết ở Chicago — thêm nữa, cũng giống như đám người ở Woodstock, Illinois — và thế là, anh hiểu ra, mình trốn chạy vẫn chưa đủ xa. Cuối cùng, anh đến San Francisco, tham gia một chuyến hải trình Thái Bình Dương, đi chiếc tàu Mariposa của Nam Hải để đến Sydney. Chúng tôi lên bờ khi dừng chân ở Tahiti, và anh là người duy nhất tỏ ra hào hứng với hòn đảo này. Hầu hết hành khách kỳ vọng quá nhiều, còn anh thì chẳng mòn mỏi mong cầu điều gì, kết quả chứng minh tất cả chúng ta đều ngu ngốc. Họ thất vọng tràn trề trước sự thô tục và mùi vị thương mại nơi đây. Còn anh thì vui mừng phát hiện ra nơi đầu tiên trên thế giới này, ở đây, một con người ngập tràn — sự chán nản — tất cả những thứ độc dược hại người, sẽ có thể tống hết khí độc ra khỏi cơ thể. Em có thể phơi mình dưới ánh nắng mặt trời, bảo cả cái thế giới này biến đi cho khuất mắt. Thế là, khi con tàu Mariposa tiếp tục hải trình, anh ở lại... Giờ thì em đã hiểu rồi đấy, toàn bộ truyền thuyết về Courtney. Chúng ta đứng dậy nghỉ ngơi một lát nhé?”

Claire ngồi gần như bất động trên ghế, dịu dàng phản đối. “Phản đối,” cô nói. “Em chưa được nghe toàn bộ truyền thuyết. Phần trước mới chỉ kể đến việc nhân vật chính của chúng ta ở lại Tahiti. Nhưng ba, bốn năm qua anh ấy lại ở trên tàu Tam Hải Yêu, chứ không phải Tahiti. Anh muốn nhảy cóc qua các chương giữa à?”

“Phản đối được chấp nhận, nhưng thực ra chẳng có gì để nhảy cóc cả. Anh lang thang ở Papeete vài tháng, uống rất nhiều rượu, cứ đụng đến vỏ chai là có thể kết bạn, đôi khi còn có thể trở thành bạn tốt, thuyền trưởng Oley Rasmussen chính là một người như vậy. Chúng tôi uống rượu cùng nhau. Tình cảm khá thân thiết. Anh thích gã bợm nhậu già hay mỉa mai này, và ông ấy cũng thích anh. Anh dần hiểu về ông ấy, biết hầu như mọi thứ trừ công việc của ông ấy, công việc mà anh chẳng lấy gì làm hứng thú. Những gì anh biết chỉ là, cứ cách hai tuần, ông ta lại ra ngoài làm hàng nhập khẩu. Tóm lại, lại một khoảng thời gian cách quãng nữa đến, anh biết ông ta sắp rời đi, đợi hai ngày nữa ông ta sẽ quay về. Nhưng ông ta không xuất hiện, một tuần trôi qua, điều này đã thu hút sự chú ý của anh. Trong lúc anh bắt đầu đi dò hỏi, anh nhận được một lời nhắn từ người vợ của ông ta ở đảo Moorea. Cô ấy nói, Oley bị bệnh, phải gặp anh ngay lập tức. Anh vội vã đến đó vào giờ ăn trưa. Anh phát hiện thuyền trưởng đang nằm trên giường, hốc hác và yếu ớt. Anh được biết ông ấy đã bị viêm phổi nằm liệt giường hai tuần rồi. Cùng lúc đó, phi công phụ của ông ấy là Dick Harper bị rách một chân, nhiễm trùng rất nặng, vẫn đang nằm trong viện. Kết quả là, thuyền trưởng đã bỏ lỡ hai chuyến ra ngoài, điều đó có nghĩa là những người mà ông ấy thường xuyên qua lại đã ít nhất một tháng không nhìn thấy ông ấy rồi. Ông ấy nói không ngừng, liên tục dò xét anh, đột nhiên, ông nắm lấy cổ tay anh và nói, ‘Tom, tôi phải cầu xin cậu một việc.’”

Courtney dừng lại, rõ ràng là đang hồi tưởng lại những chuyện xảy ra sau đó, trút tàn thuốc trong tẩu vào một chiếc gạt tàn làm bằng vỏ dừa. Anh chú ý đến vẻ tập trung của Claire, rồi tiếp tục câu chuyện của mình.

“Thuyền trưởng Rasmussen muốn hỏi anh là, liệu anh có còn lái máy bay được không. Ông ấy biết anh từng lái máy bay chiến đấu bay qua sông Áp Lục. Anh bảo ông ấy anh chẳng quên thứ gì cả. Tiếp theo ông ấy lại hỏi một câu nữa. Liệu anh có thể lái chiếc Vought-Sikorsky của ông ấy không? Anh nói anh nghĩ là được, nhưng phải có người giới thiệu sơ qua cho anh trước. Thuyền trưởng nói cái đó không thành vấn đề. Ông ấy quá yếu, không thể tự lái máy bay, nhưng ông ấy sẽ gượng dậy, bảo anh phải làm thế nào, chỉ cần anh làm theo hướng dẫn của ông ấy là được. Anh nói được, nhưng không hiểu có sự cần thiết nào phải khiến chiếc thủy phi cơ này bay lên cơ chứ. Ông ấy không thể đợi đến khi khỏe lại rồi tự mình lái sao? Đó là thời điểm căng thẳng nhất trong mối quan hệ của chúng tôi. Ông ấy muốn biết liệu mình có thể tin tưởng anh hay không, giao phó cho anh một bí mật. Bí mật này không chỉ liên quan đến danh tiếng mà còn liên quan đến sinh kế của ông ấy. Ông rất sốt ruột muốn nhận được câu trả lời của anh. Ông biết rất rõ mình có thể ủy thác cho anh bất kỳ chuyện gì. ‘Được rồi, Tom,’ ông ấy nói. ‘Tôi muốn kể cho cậu nghe câu chuyện về một nơi mà cậu chưa từng nghe bao giờ — ngay cả các bà cụ cũng chưa từng nghe qua — một nơi gọi là Tam Hải Yêu.’ Suốt hai tiếng đồng hồ, ông ấy dốc sạch bầu tâm sự. Anh ngồi đó, giống như một cậu bé ngồi dưới chân Strabo hay Marco Polo. Chú tâm lắng nghe. Khi em đọc bức thư của giáo sư Easterday có cảm giác này không?”

“Em không nói được là có cảm giác thế nào nữa,” Claire nói. “Trông nó quá giống một kỳ tích của thế giới trần tục. Em nghĩ khoảng cách tương đương với Polynesia, trông có vẻ khó mà tin nổi.”

“Được rồi, anh còn thấy rõ hơn nữa, được chắt lọc từ ngôn ngữ thực tế của Oley Rasmussen,” Courtney nói. “Sau khi ông ấy kể cho anh nghe về đảo Hải Yêu, ông ấy tiếp tục nói, khi ông ấy rời khỏi Bodi vào lần trước, có một nỗi lo ngại là trên đảo có thể xảy ra trận dịch bệnh đầu tiên trong lịch sử. Thuyền trưởng hứa lần tới quay lại sẽ mang theo loại thuốc men cần thiết. Giờ đây, ông ấy đã quá hạn một tháng rồi. Ông sợ sẽ còn kéo dài thêm nữa. Phải có người lái máy bay của ông ấy đến đảo Hải Yêu. Kết quả là hai ngày sau, anh ngồi ở ghế phi công, còn thuyền trưởng Rasmussen yếu ớt ngồi bên cạnh anh. Anh điều khiển việc bay và hạ cánh mà không tốn chút sức lực nào. Sự xuất hiện bất ngờ của anh trên đảo Hải Yêu đã vấp phải sự thù địch nhất định. Sau khi Oley giải thích anh là ai, đến để làm gì, Bodi đã yên tâm. Anh được coi là ân nhân, được thết tiệc và chào đón. Mấy tháng sau đó, anh thay thế Harper, đồng hành cùng Oley trong mỗi chuyến bay đến đảo Hải Yêu. Chẳng bao lâu sau, anh đã được dân làng hoàn toàn chấp nhận, giống như chấp nhận chính thuyền trưởng vậy. Những chuyến ghé thăm này đã tạo ra hiệu ứng đặc biệt trên người anh, anh phát hiện ra mọi thứ ở đó đều hoàn toàn trái ngược với cái bộ mậu mà anh vẫn luôn coi thường ở quê nhà. Cho dù Tahiti, cùng với rượu và phụ nữ, được coi là một kiểu trốn chạy, nhưng vẫn chưa hoàn toàn rũ bỏ được những nỗi đau khổ cũ kỹ và tình cảm bị bóp méo. Tam Hải Yêu đã tạo ra hiệu ứng khiến anh cảm thấy thỏa mãn và bình yên. Trong một lần ghé thăm, anh yêu cầu Oley để anh lại đó cho đến chuyến quay lại tiếp theo của ông ấy. Khi ông ấy quay lại, anh đã vứt bỏ quần áo và những thứ trói buộc khác sang một bên rồi. Anh không muốn quay lại Papeete nữa, thậm chí cả quay lại lấy đồ đạc của mình cũng không muốn, thực ra, anh cũng chẳng đi lấy, thuyền trưởng đã lấy hộ anh rồi. Chẳng bao lâu sau, anh được kết nạp vào bộ lạc. Anh có túp lều cỏ của riêng mình. Nhờ có học thức, anh cũng có được uy tín. Ngoại trừ việc thỉnh thoảng đến Tahiti để mua sách báo và thuốc lá, anh vẫn luôn ở đây suốt.” Anh dừng lại, cười một nụ cười xin lỗi với Claire. “Em thật cừ, Claire, đã nhiều năm rồi anh chưa tự thuật một cuốn tự truyện hoàn chỉnh đến thế.”

“Em rất vui,” Claire tươi cười rạng rỡ. “Thế nhưng, em không cho là anh đã giới thiệu bản thân một cách hoàn chỉnh đâu. Em nghĩ anh chỉ kể cho em nghe những gì anh muốn kể, thế thôi.”

“Anh đã kể cho em nghe những gì anh hiểu về bản thân mình rồi, phần còn lại cần phải gia công và sắp xếp.”

“Nhưng anh rất hài lòng với nơi này chứ?” Cô đưa ra câu hỏi này như một thắc mắc nhỏ, hoàn toàn không có ý thách thức.

“Những gì một người đàn ông có thể đòi hỏi — đúng vậy. Mỗi sáng thức dậy chính là một ngày vui vẻ mà anh khao khát.”

“Nói cách khác, anh không định về lại Chicago nữa chứ?”

“Chicago?” Courtney lặp lại từ này, giống như đang đọc mấy câu chửi thề trên tường nhà vệ sinh.

Claire thấy anh cau mày, lập tức cảm thấy mình phải trung thành với tuổi thơ của bản thân, với thứ trân quý nhất mà cô sở hữu. “Cũng không đến nỗi tệ lắm đâu,” cô nói. “Lái xe đi dạo ngoại ô vào thứ Bảy, bơi lội ở hồ Michigan, đến khu trung tâm thành phố đều rất thú vị. Em thậm chí còn nhớ cả việc cưỡi ngựa lùn trong công viên Lincoln. Sao cơ, em—”

“Ý em là em cũng đến từ Chicago?” Anh nói, trên mặt mang theo vẻ nghi ngờ.

“Điều này bất thường lắm sao?”

“Anh không biết. Trông em không giống thế, bất kể từ góc độ nào. Em giống người đến từ California hơn.”

“Bởi vì thời gian em ở California tương đối dài. Em chỉ sống ở Chicago đến năm 12 tuổi, cha em — ông ấy qua đời trong một tai nạn. Ông ấy luôn đưa em đi khắp nơi. Ông ấy thật tuyệt vời, em là khách quen ở khu vực ghế nhà báo tại sân vận động Wrigley và sân vận động Soldier.”

“Ông ấy là một nhà báo thể thao à?”

“Đúng vậy. Tên ông ấy là Emerson. Em không biết là anh có—”

Courtney đập mạnh một cái vào đùi. “Tác phẩm chuyên đề thể thao của Alex Emerson! Cha của em ư?”

“Chính xác.”

“Claire — chết tiệt thật — ngồi trong một túp lều cỏ miền nhiệt đới mà bàn về Alex Emerson, thật là không thể tưởng tượng nổi. Kiến thức của anh phải quy công cho ông ấy. Khi những đứa trẻ khác đang đọc Tom Sawyer, Huckleberry Finn, Elmer Gantry, thì anh lại dạo chơi giữa các đại triết gia — Grantland Rice, Warren Brown và Alex Emerson. Anh mãi mãi không quên ơn ông ấy — năm 1937, thì phải — khi Joe Louis đánh bại James Braddock ở hiệp thứ tám.” Courtney nhìn cô. “Lúc đó em mấy tuổi?”

“3 tuần tuổi,” Claire nói.

“Lúc ông ấy qua đời em 12 tuổi à?”

Claire gật đầu. “Em vẫn luôn nhớ về ông ấy — dáng vẻ trầm tư của ông ấy — tiếng cười của ông ấy.”

“Sau đó thì sao?”

“Chúng em có họ hàng ở California, sống ở Oakland và Los Angeles. Mẹ đưa em đến chỗ người thân ở Oakland, sống cùng họ. Khi em 14 tuổi, mẹ tái hôn, chồng mới là một quân nhân chuyên nghiệp, cấp đại tá, ở Presidio. Tiêu chuẩn đời sống gia đình của ông ấy chính là cuộc sống quân ngũ, em bị quản thúc như một nữ tu, cuộc sống tu viện đó kéo dài cho đến khi tốt nghiệp trung học. Cha dượng muốn em học đại học California ở Berkeley, như vậy em có thể tiếp tục sống dưới ánh mắt cảnh giác của ông ấy. Em nổi loạn, dùng những lời ngọt ngào dỗ dành để ông ấy đồng ý. Em đến đại học California ở Westwood, có thể sống cùng họ hàng ở Los Angeles. Em không thể hình dung nổi việc được giải phóng một nửa khỏi người đại tá đó khiến mình vui mừng đến nhường nào. Chuyện đó chẳng dễ dàng gì. Toàn bộ trải nghiệm của em là cuộc sống dựa vào sách vở. Đó là một quá trình học tập khúc chiết, mà sách vở thì thường không thể giải quyết được vấn đề.”

“Em và chồng gặp nhau khi nào?”

“Sau khi tốt nghiệp, em muốn kế nghiệp cha, muốn làm một phóng viên. Cuối cùng em cũng kiếm được một công việc, làm nhân viên tốc ký tại một tòa soạn báo ở Santa Monica. Em liên tục viết bài và nộp lên, rất ít khi được đăng trên báo. Em bắt đầu được phái đi phỏng vấn, đại đa số đều là phỏng vấn về nhân sinh quan. Sau đó, tiến sĩ Maud Hayden lừng lẫy đến giảng bài, em được phái đến để phỏng vấn bà ấy. Bà ấy quá bận, nhưng con trai bà ấy nói anh ấy có thể thay mặt bà phát biểu. Cứ như thế, em và Mark gặp nhau. Ấn tượng của em sâu sắc lắm, thứ nhất, anh ấy là con trai của Maud Hayden, thứ hai, anh ấy là một nhà nhân loại học. Anh ấy lớn hơn em 10 tuổi, trông rất từng trải, lại điềm tĩnh, có học thức. Em nghĩ anh ấy thấy em rất ngây thơ và — ờ, hoàn toàn trái ngược với sự từng trải — anh ấy rõ ràng rất thích điều này. Tóm lại, chẳng bao lâu sau anh ấy lại đến Los Angeles, gọi điện hẹn hò với em, đó là khởi điểm. Chúng em phát triển ổn định trong một giai đoạn khá dài, Mark buộc phải cân nhắc đến ý tưởng kết hôn. Cuối cùng anh ấy cũng bước bước đó. Hai tuần trước, em làm vợ Mark vừa tròn hai năm.” Cô xòe rộng lòng bàn tay. “Chỉ thế thôi, giờ thì anh đã hiểu hết về em rồi.”

“Hết rồi ư?” Anh tỏ vẻ không tin lời cô giống như cách cô nghi ngờ câu chuyện của anh vậy.

“So với những gì em biết về anh, thì không nhiều hơn, cũng chẳng ít hơn.”

“Ừ, anh đoán là vậy,” anh nói. “Anh cá là em chưa từng nghĩ tới chuyện mình sẽ trải qua một ngày kỷ niệm ngày cưới trên một hòn đảo nhiệt đới đâu nhỉ. Chắc sẽ bất bình thường lắm, phải không?”

“Em rất thích ý tưởng này. Hồi mới kết hôn với Mark, em đã nghĩ trong suốt cuộc đời chúng ta chắc chắn sẽ đến rất nhiều nơi xa lạ trên thế giới. Dù sao đi nữa, anh ấy cũng là một nhà nhân loại học. Nhưng anh ấy thực sự không thích đi du lịch ra khỏi nước Mỹ. Anh ấy khăng khăng như vậy đấy. Nếu không vì chuyến đi lần này bất ngờ xảy ra, suýt chút nữa là em đã từ bỏ hy vọng rồi. Em thấy chuyến đi này vô cùng kỳ lạ, ngôi làng này có rất nhiều thứ em muốn ngắm nhìn, muốn tìm hiểu. Theo một ý nghĩa nào đó, em luôn cảm thấy mọi chuyện ở đây đều có liên quan đến em, liên quan đến cuộc sống của chính mình. Em mang theo bức thư của Maud, nội dung bức thư lại kích thích em. Em phát hiện bản thân đang thốt lên rằng, giá mà mình có thể ghé thăm một nơi như thế này thì tuyệt biết bao, rồi em lại nhận ra mình thực sự đang ở một nơi như vậy.”

“Thứ em muốn xem nhất là gì?”

“Sao cơ, cái gì cũng muốn xem hết. Của đáng tội, cuốn cẩm nang du lịch nào cũng có hai thắng cảnh trọng điểm, hễ nhắc đến bảo tàng Louvre, điện Kremlin và thác Niagara thì đều phải nhắc đến hai thắng cảnh ấy vậy.”

Courtney phì cười. “Trên Tam Hải Yêu không có bảo tàng Louvre, nhưng họ có tiêu chuẩn riêng về các thắng cảnh trọng điểm của mình. Anh nghĩ em phải ghé thăm thánh đường, mọi thứ của xã hội này đều bắt đầu từ đó. Đàn ông và phụ nữ bắt đầu trưởng thành ở đó, phong tục của bộ lạc này cũng bắt đầu từ đó, em muốn lúc nào đi xem?”

“Lúc nào anh rảnh thì đi lúc đó.”

“Bây giờ anh rảnh đây.” Courtney duỗi đôi chân đang vắt chéo ra, đứng dậy. “Anh thực sự không cần phải đợi Maud Hayden. Anh rất muốn đi, còn em thì sao?”

“Cơ hội tốt không thể bỏ lỡ.” Claire đã lấy những tờ giấy trắng, cuộn tròn khỏi chiếc máy đánh chữ, sửa lại cho phẳng phiu rồi xếp gọn gàng.

Vài phút sau, cô cùng Courtney bước vào bãi đất trống. Sức nóng ban ngày gần như đông đặc lại, vẫn tràn ngập khoảng đất ở trung tâm ngôi làng này. Nhưng mặt trời đã ngả về tây, hoàng hôn buông xuống, ngọn lửa hừng hực chiếu thẳng từ trên trời xuống đã không còn nữa, dễ chịu hơn lúc trước rất nhiều, Claire cùng Courtney đi xuyên qua ngôi làng.

“Có một chuyện khiến em thấy khó hiểu,” Claire nói. “Thuyền trưởng và những thủy thủ tháo vát của chiếc thuyền buồm đó đã rời khỏi thuộc địa của Daniel Wright và đảo Hải Yêu của ông ấy, buồm xuôi gió, họ nhất định phải có hải trình và bản đồ hải lý cập bến chứ. Sao họ có thể đời đời kiếp kiếp không tiết lộ phương vị của đảo Hải Yêu ra thế giới bên ngoài chứ?”

“Nếu họ còn sống, đương nhiên là có rồi,” Courtney nói. “Trên thực tế, phu nhân Wright đã yêu cầu thuyền trưởng của chiếc thuyền buồm hai năm sau hãy quay lại, nếu như không gian không tưởng này biến chất, thì hãy đón họ đi. Nhưng chiếc thuyền buồm ấy đã được định sẵn là không bao giờ quay về được nữa. Một ngày nọ, một số ván gỗ và thùng gỗ — trên một chiếc có khắc tên tàu — dạt vào bờ biển trong một vụ đắm tàu ở đảo Hải Yêu. Rõ ràng là, không lâu sau khi để nhóm của Wright lại, con tàu đã gặp phải cơn bão cuồng phong nhiệt đới. Nó tan rã trong bão, tất cả mọi người đều thiệt mạng. Manh mối duy nhất biết được việc Daniel Wright đổ bộ cũng theo đó mà biến mất khỏi thế gian. Cơn bão cuồng phong đó đã giữ cho xã hội đảo Hải Yêu từ năm 1796 được bảo lưu cho đến tận bây giờ.” Courtney dùng ngón tay chỉ về phía trước và nói, “Thánh đường nằm ở phía sau những cái cây kia kìa.”

Họ bước lên một con đường mòn, quanh co uốn lượn xuyên qua một khu rừng rậm rạp, mát mẻ, đột nhiên, một túp lều cỏ hình tròn, nhô hẳn lên xuất hiện trước mắt, hình dáng của nó giống như được xây dựng theo chiếc mũ của phù thủy vậy.

“Đây chính là thánh đường được xây dựng vào năm 1799 dưới sự chỉ đạo của Daniel Wright và Tehani,” Courtney nói. “Thực ra, anh chỉ tin là phần gỗ trên nhà là nguyên bản thôi. Trải qua mưa gió tạt quật, tất cả phần tranh lợp và mây tre chắc chắn đã được thay mới rất nhiều lần rồi. Chúng ta vào trong đi.”

Trên cánh cửa ra vào ở trên cao có một chiếc then cài bằng gỗ. Courtney gỡ then cài ra, kéo cánh cửa hướng ra ngoài, sau đó ra hiệu cho Claire đi theo mình. Cô cảm thấy ngạc nhiên vì ngôi nhà tròn này vừa nhỏ vừa tối, tiếp theo cô nhận ra nơi này không có cửa sổ, chỉ có những khe thông gió dài ở phía trên bên cạnh, đó là nơi những bức tường cong tiếp giáp với mái nhà hình chóp nón.

“Tòa nhà cao nhất trong làng,” Courtney nói. “Như vậy sẽ gần với thánh linh hơn chút ít.”

“Thánh linh? Là thần linh của họ sao?”

“Đúng vậy, nhưng họ không chỉ tôn sùng một vị thần. Thánh linh — không lập tế đàn cho ngài, không có thần tượng — đóng vai trò giống như tổng chỉ huy của các loại thần lực vậy.” Anh chỉ vào ba bức tượng xám xịt nhét ở góc tường cách mặt đất vài thước. “Đó là thần ái lạc, thần sinh sản và thần hôn nhân.” Trong mắt Claire, ba bức tượng điêu khắc bằng đá này khiến cô liên tưởng mơ hồ đến vị thần chính của người Aztec, thần Shiva trong đạo Bà-la-môn và thần sinh sản của Ai Cập.

“Tôn giáo ở đây,” Courtney nói tiếp, “là một thứ giáo điều khá lỏng lẻo, thể hiện tính dục, đề cao tính dục. Điểm này rất quan trọng, bởi vì ở phương Tây ngoài nguyên nhân sinh sản ra, tôn giáo nói chung là phản đối tính dục. Khi Daniel Wright xuất hiện, ông ấy rất khôn ngoan, không phản đối thứ tôn giáo lỏng lẻo này, cũng không khăng khăng áp đặt bất kỳ tín ngưỡng nào của chính mình lên nơi này. Nếu làm thế, chỉ có thể khiến người Polynesia tôn sùng kẻ mạnh, chỉ có thể khiến thổ dân và những người thực dân Anh hoàn toàn tách biệt nhau ra. Ngược lại, Wright tuyên bố tất cả các hình thức tín ngưỡng đều được cho phép, mỗi gia tộc đều có thể tôn sùng thứ mà mình muốn tôn sùng, không được phép thay đổi tôn giáo. Thế nên mới được bảo lưu cho đến tận ngày nay. Thánh đường này là thứ gần gũi với nhà thờ nhất trên đảo, ngoại trừ nghi lễ thành niên ra, đó chỉ là biểu tượng sở hữu quyền lực cao hơn. Trong những trường hợp đặc biệt, dân làng cử hành các nghi lễ tôn giáo, ví dụ như những nghi lễ vô cùng đơn giản trong sinh nở, qua đời, hôn nhân, nhưng đều được tổ chức trước các bức tượng thần trong chính ngôi nhà của họ.”

Tầm mắt của Claire từ bức tượng chuyển sang một chiếc tủ trưng bày bằng kính lớn, giống như những chiếc tủ trong cửa hàng trang sức vậy. Vẻ hiện đại của nó lạc lõng với khung cảnh nguyên thủy xung quanh đến mức khiến cô không kìm được mà thốt lên một tiếng cảm thán.

Courtney nhanh chóng hỏi: “Sao thế?”

Claire chỉ vào tủ trưng bày. “Cái đó làm sao lại đến được đây thế?”

“Oley Rasmussen và anh mua ở Tahiti, vận chuyển bằng máy bay đến,” Courtney nói. “Anh dẫn em đi tham quan nhé.”

Cô cùng anh đi về phía đối diện căn phòng, nhưng bàn chân trước của cô lún sâu vào lớp đệm cỏ trên mặt đất, mất thăng bằng, lảo đảo vấp ngã, Courtney lập tức tóm lấy cánh tay cô, lúc này mới không bị ngã nhào.

Cô quan sát mặt đất. “Chưa từng thấy tấm thảm nào dày thế này bao giờ. Cứ như đi trên đệm ấy.”

“Rất đúng,” Courtney nói. “Chủ yếu là để tạo sự thoải mái tối đa, đừng quên, nơi này là nơi truyền thụ và giới thiệu lần đầu tiên hành động yêu đương cho những thiếu niên thiếu nữ trẻ tuổi đấy.”

Claire hùa theo đáp, “Ồ”. Khi Courtney đỡ lấy khuỷu tay cô, dắt cô đi về phía quầy kính, cô cố gắng không để ý đến mặt đất nữa. Trên lớp nhung màu xanh lam bên dưới tấm kính, đặt những bảo bối của Daniel Wright. Một cuốn sách ngả màu ố vàng, là cuốn sách 《Vườn địa đàng phục hồi》 do ông Dan Wright viết, một cuốn sổ cái bìa da màu xanh nhạt, trên đó dùng mực viết “Nhật ký — 1795-96”, một chồng bản thảo cũ, các trang giấy đều đã ố vàng.

“Khi anh đến đây, phát hiện những món đồ quý hiếm này được chất đống trong một đoạn thân cây bị khoét rỗng lớn, đặt ngay trên mặt đất này,” Courtney nói. “Thời gian và tự nhiên đã khiến chúng bị ăn mòn. Anh gợi ý với Bodi, vì thế hệ mai sau, nên áp dụng các biện pháp bảo quản những trân bảo này. Ông ấy đã chấp nhận. Lần tới khi anh đến Papeete, liền mua chiếc quầy kính này, là hàng cũ mua lại từ một tiệm kim hoàn. Anh cũng đặt dung dịch keo để bảo vệ những vật phẩm đó. Thực ra, bản thảo của Wright được bảo quản rất tốt, mặc dù rất dễ hỏng hóc, đã trải qua quãng thời gian dài như vậy. Chúng được đặt ở một nơi khô ráo, tránh xa nhiệt độ quá cao và độ ẩm quá cao, hơn nữa ông ấy viết trên những loại giấy thủ công chắc chắn được làm ra, là loại giấy làm từ giẻ rách — chứ không phải bột gỗ mục nát mà chúng ta dùng hiện nay — loại giấy đó vẫn được giữ lại, do đó, phần lớn tư tưởng thực sự của Wright không chỉ được lưu giữ trên người dân làng, mà còn được lưu giữ trên những trang giấy trong chiếc hộp của ông ấy. Anh đã dành năm đầu tiên đến đây để chép lại tất cả bản thảo ở đây, anh lưu trữ bản sao của mình trong két sắt của một ngân hàng ở Tahiti. Anh đã từ bỏ cuốn tiểu thư về Rufus Choate từ rất lâu rồi. Nhưng anh có một ý định, có một ngày anh sẽ viết báo cáo mang tính kết luận — thực sự là hoàn chỉnh nhất về Daniel Wright ở phố Skinner. Anh không nghĩ báo cáo của mẹ vợ em sẽ có gì xung đột với kế hoạch của anh đâu. Bà ấy đang điều tra toàn bộ xã hội. Những gì anh muốn làm chỉ là bản thân Daniel Wright mà thôi, gã người London mang tư tưởng lý tưởng hóa ấy, người đã an gia lập nghiệp giữa đám người nguyên thủy.”

“Gia đình ông ấy có đông người không?”

Courtney chuyển ra phía sau tủ, kéo tấm nền bằng nhung ra. Anh cẩn thận cầm cuốn sổ cái cũ lên, mở ra. Anh cho Claire xem trang đầu tiên. “Đây này, em xem đi, Claire: ‘Ngày 3 tháng 3 năm 1795... Tôi, ngài Daniel Wright, triết gia người London, đã lên con tàu đỗ tại cảng Kinsale, chúng tôi từ đó bắt đầu hải trình, trong vòng một tiếng nữa sẽ khởi hành đến Tân Hà Lan ở Nam Hải. Bởi vì chính phủ không tán thành nguyên tắc của tôi, tôi muốn tìm kiếm một mảnh đất hoàn toàn tự do. Đi cùng với tôi là người thân yêu của tôi, vợ Priscilla, con trai John, con gái Catherine và Joanna. Còn có 3 môn đồ, tên là Samuel Sparling, thợ mộc, Sheila Sparling, vợ của thợ mộc, George Cover thương nhân.’”

Courtney khép cuốn sổ cái lại, đặt trở lại khay. “Hậu duệ của những người thực dân này khá đông đúc. 3 người con của Wright đều kết hôn với người trên đảo Hải Yêu, Wright có — không có văn bản ghi chép, chỉ dựa vào truyền thuyết — 20 người cháu nội ngoại. Vợ chồng Sparling có 4 cô con gái, mấy chục năm sau thì có 23 đứa cháu. Còn về gã độc thân George Cover, ông ta lần lượt kết hôn với 3 người vợ người Polynesia, với điều kiện ông ta phải dùng họ của họ, họ sinh cho ông ta tổng cộng 14 đứa con. Đây chính là cái mà anh gọi là bãi bỏ chính sách phân biệt chủng tộc đấy.”

“Bức tượng nào là thần sinh sản của họ thế?” Claire nói. “Hôm nào rảnh mang sang chỗ em dùng thử xem.”

Cô thấy Courtney liếc mình một cái, giả vờ như không để ý, cúi người lên tủ kính, chăm chú nhìn chồng bản thảo đó.

“Đây là cái gì vậy?” Cô hỏi.

“Những bản thảo đó á? Đều là ghi chép của Wright về tư tưởng và thực tiễn của xã hội lý tưởng do ông ấy tạo ra. Có lẽ 1/3 được áp dụng trên Tam Hải Yêu. Số còn lại, hoặc là bị ông ấy vứt bỏ để bảo lưu phương thức nguyên bản của bộ lạc, hoặc là bị Tehani bác bỏ.” Courtney cẩn thận nhặt một phần bản thảo lên, đặt lên phía trên tủ kính. Anh lật qua mấy trang. “Vẻ cổ kính tuyệt diệu, văn phong thế kỷ mười tám,” anh lẩm bẩm. “Nghe này — đối với những kẻ hay nổi giận... tặng cho nó một bông mào gà... người bị hoại tử... trò đỉ thõng... khoác lác... làm như vậy chúng ta có thể... chia sẻ thù lao của hắn.” Anh ngẩng đầu lên nhìn. “Đọc văn bản gốc ở thời điểm này và không gian này, tuyệt vời quá đi mất.”

“Đúng vậy, tuyệt thật,” Claire hùa theo. “Ở trong đó ông ấy đề cao một loại thực tiễn như thế nào?”

“Ông ấy đề cập đến mọi thứ liên quan đến xã hội loài người. Ví dụ như, thứ mà anh hứng thú chính là luật pháp. Được rồi, lão Wright ủng hộ xét xử và thẩm phán, nhưng phản đối luật sư. Ông ấy học được điều đó từ cuốn 《Utopia》 của ngài Thomas Moore. Ở đây, để anh tìm xem...” Courtney lật các trang giấy, sau đó ngón tay dừng lại ở một trang. “Đúng rồi, ở đây này. Wright nói ông ấy tán thành bộ quy tắc mà Thomas Moore đưa ra năm 1516. Ông ấy trích dẫn lời của Moore bàn về những kẻ theo chủ nghĩa Utopia: ‘Trong số họ không có luật sư, bởi vì họ coi luật sư là một loại người làm nghề che giấu sự thật và bóp méo luật pháp; thế nên, họ cho rằng mỗi người tự bào chữa cho vụ án của mình, và tin tưởng thẩm phán, như thế sẽ tốt hơn nhiều.’”

“Tin tưởng rằng, với tư cách là một luật sư, anh sẽ không ủng hộ điều này chứ?”

“Thứ đang được thực thi trên đảo Hải Yêu chính là bộ quy tắc này đấy,” Courtney nói. “Các thành viên trong làng khi tự bào chữa cho vụ án của mình, không phải là đối chất với thẩm phán, mà là đối chất với tộc trưởng. Đương nhiên, điều này sẽ không phát huy tác dụng trong một xã hội phức tạp cao độ, nơi luật pháp đã trở nên vô cùng phức tạp, cần phải có chuyên gia mới hiểu nổi, chuyên gia chính là những người làm nghề luật. Nếu anh quay về quê nhà đóng vai trò của Daniel Wright, thứ anh bãi bỏ sẽ không phải là luật sư, mà là bồi thẩm đoàn. Xin hãy chú ý, anh tin tưởng chế độ bồi thẩm đoàn, nhưng không phải được cấu thành như hiện nay. Đánh giá chung của em về bồi thẩm đoàn thế nào? Họ là những kẻ nghiệp dư trong lĩnh vực luật pháp, thực thi trách nhiệm với mong muốn vớt vát chút tiền thưởng từ thời gian làm việc, hoặc là những tên vô công rồi nghề. Họ là những nam nữ bình thường thần kinh và thành kiến chẳng có gì khác biệt so với em và anh cả. Nói một câu ngắn gọn, trong bồi thẩm đoàn tràn ngập những người vô tri nhưng có ý tốt, bị những kẻ thiếu kinh nghiệm và bất tài thao túng.”

“Ít ra thì cũng dân chủ,” Claire nói.

“Không tốt lắm đâu. Để anh nói cho em biết nên làm thế nào nhé. Giống như con người được đào tạo thành luật sư vậy. Con người cũng nên được đào tạo thành bồi thẩm viên. Đúng vậy, ở Mỹ bồi thẩm viên nên trở thành một nghề nghiệp, giống như luật pháp, y học, kế toán, báo chí, toán học vậy. Một người trẻ tuổi muốn lấy bồi thẩm viên làm công việc trọn đời, thì nên đến một trường đại học để học tập, chuẩn bị cho việc đó, đi học luật, tâm thần học, triết học, học tập hiện thực khách quan, sau khi nhận được chứng chỉ, còn nên được phân công vào bồi thẩm đoàn liên bang hoặc tiểu bang nào đó, và nhận mức lương thâm niên theo cấp bậc tùy theo số lượng phiên tòa hoặc vụ án mà họ được phân công đến. Như vậy, chúng ta sẽ có một hệ thống xét xử tốt hơn. Đương nhiên, sẽ là một hệ thống tốt giống như trên đảo Hải Yêu của họ vậy.” Courtney dừng lại, mỉm cười. “Anh phải nói thay cho lão Wright một câu, ông ấy khiến người ta phải suy ngẫm đấy.”

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 7 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

Truyện bạn đang đọc dở dang

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.