Ngày hôm sau, phiên tòa mở trong bầu không khí vô cùng căng thẳng. Công chúng đến xem đông hơn cả ngày hôm trước và chỉ nói chuyện thì thầm. Sự vắng mặt của Sir Matthew mang đến nhiều lời bàn tán xì xào và chỉ chấm dứt khi ông xuất hiện, vội vã đến ngồi vào chỗ, gương mặt lơ láo với một vết dao cạo cắt mạnh ở má.
Khi các quan tòa vừa ngồi xuống, luật sư Nigel Grahame nhanh nhẹn đứng lên, vẫn bình tĩnh nhưng lại lạnh lùng hơn ngày hôm trước. Ông nói: “Thưa ông Chánh án, xin phép ông cho tôi mời lại nhân chứng Louisa Burt.”
Sau một lúc chờ đợi ngắn để hoàn tất những thủ tục cần thiết, Burt bước ra trước vành móng ngựa.
“Tôi muốn tin rằng.” Grahame nói với một giọng lịch sự nhưng lạnh lung: “Cô đã lấy lại sức khoẻ sau một đêm nghỉ ngơi.”
“Tôi rất mạnh khoẻ.” Burt đáp lại bằng một giọng không chút thiện cảm.
Cô ta không còn vẻ do dự nữa, như thể trong thời gian nghỉ, cô đã nhận được những lời khuyên bảo và an ủi, khiến cô lên tinh thần.
Đứng trước vành móng ngựa, cô ta đưa mắt nhìn luật sư như thách đố. Luật sư nói tiếp: “Hôm qua, chúng ta nói về sự giao thiệp của cô với Edward Collins, người thanh niên đã đem quần áo giặt ủi đến cho nạn nhân. Cô quen biết với anh ta từ lâu, trước khi xảy ra vụ án và thường gặp anh ta trong thời gian xử án phải không?”
“Lúc ấy, chúng tôi hầu như bao giờ cũng đi chung với nhau.”
“À! Cô và anh ta thường đi chung với nhau? Và hai người thường nói về vụ án Mathry?”
“Không.” Burt đáp nhanh: “Không có lần nào cả.”
Luật sư nhướng nhẹ đôi mày lên và đưa mắt nhìn ông chánh án: “Đây là một điều rất đáng ngạc nhiên, nhưng chúng ta hãy bỏ qua. Và sau khi tòa xử xong, cô có bàn cãi với Collins về vụ án không?”
“Cũng không.” Louisa Burt trả lời dứt khoát.
“Tôi phải nhắc cho cô biết, rằng cô đã thề khi ra tòa làm chứng và nên nhớ những hình phạt áp dụng cho sự thề dối rất là nghiêm khắc.”
Ông chưởng lý đứng nhỏm dậy: “Thưa ông Chánh án, tôi phản đối lời cật vấn có ẩn ý. Nó nhằm mục đích đe dọa nhân chứng.”
“Vậy là cô chẳng bao giờ nói chuyện với Collins về vụ án Mathry sao?” Grahame nhấn mạnh.
“Tôi không nhớ rõ.” Burt đáp, mắt cụp lại: “Có lẽ chúng tôi đã có nói.”
“Nghĩa là hai người đã có nói với nhau về vụ án?”
“Có thể lắm.”
“Và nhiều lần?”
“Phải.”
“Buổi tối xảy ra án mạng, Edward Collins có nhận ra, dầu chỉ là mơ hồ, người đàn ông chạy trốn đã chạm vào người anh ta không?”
“Không!” Burt kêu lên.
“Và cô? Cô không biết người ấy sao?”
“Hoàn toàn không.”
“Cô không bao giờ nói với Collins rằng cô hình như có gặp người đàn ông ấy ở đâu rồi phải không?”
“Không bao giờ.”
“Cô có nói riêng với anh ta về một cái tên nào không.”
“Không.”
Im lặng.
“Trở lại những nhận xét của riêng cô trong đêm xảy ra án mạng, dầu các bóng đèn đường chưa được thắp sáng, dầu cô không thể phân biệt được rõ những đặc điểm của kẻ bỏ trốn, ít nhất cô cũng thấy anh ta làm gì. Anh ta có chạy không?”
“Có. Tôi đã nói và lặp đi lặp lại với ông điều đó đến độ bắt mệt đi.”
“Xin cô tha lỗi cho tôi đã làm cô phải mệt như vậy. Kẻ đó đã chạy cho đến cùng?”
“Đến cùng cái gì?”
“Đến cùng con đường.”
“Phải, chắc như vậy.”
“Cô nghĩ như vậy? Anh ta đã chẳng may mắn gặp được một chiếc xe đạp sơn màu xanh lá cây và nhảy lên đạp chạy trốn sao?”
“Không.”
Gương mặt của luật sư trở nên nghiêm lại: “Vài điều mà chúng tôi được biết khiến tôi khuyên cô nên thận trọng khi trả lời. Tôi lặp lại: anh ta có nhảy lên một chiếc xe đạp màu xanh lá cây không?”
“Tôi đã nói với ông là: Không. Tôi không thể nói gì hơn nữa.” Burt đáp nhỏ, vẻ lo lắng hiện rõ, và che khăn tay khóc thút thít.
“Thưa ông Chánh án, tôi phản đối một mưu toan nữa có dụng ý đe dọa nhân chứng này.” Ông chưởng lý nói.
“Có lẽ ông chưởng lý cho rằng tôi giẫm lên những đặc quyền của ông.” Luật sư mạnh mẽ đáp lại, máu nóng dồn lên mặt: “Tôi đã được nghe vào một ngày nào đó, cũng trong pháp đình này một vị biện lý đàn áp tơi bời các nhân chứng bằng những câu hỏi gay gắt tới tấp, dồn họ vào một tình trạng xáo động và rối loạn tinh thần đến độ họ không có biết họ nói gì nữa. Ở đây tôi chỉ cố gắng bày tỏ đối với nhân chứng tất cả sự tôn trọng của tôi, và tôi có thể bảo đảm với tòa là nhân chứng rất cần được đối xử như thế.”
Một sự im lặng nhiều ý nghĩa tiếp theo. Sir Matthew Sprott quay mặt về phía ông chánh án, nhưng ông chánh án không can thiệp.
Grahame chờ cho Louisa Burt lau xong nước mắt.
“Sau khi vụ án kết thúc, cô cùng với Collins đến Sở cảnh sát lãnh năm trăm bảng tiền thưởng phải không?”
“Đúng hoàn toàn! Và tôi thấy ông không thể trách cứ chúng tôi được về việc này.”
“Hoàn toàn không. Ở Sở cảnh sát, người ta yêu cầu hai người ngồi đợi vì còn phải hoàn tất vài thủ tục.”
“Đúng. Cảnh sát luôn luôn đối xử với chúng tôi rất tốt, điều mà tôi hoàn toàn không tìm thấy nơi ông.”
“Một lần nữa, tôi phải yêu cầu cô cố gắng nhớ lại. Người ta đã đưa cô và Edward Collins vào phòng đợi. Vụ xử án đã là một thử thách nặng nề đối với thần kinh của hai người. Có lẽ tinh thần của hai người hơi căng thẳng, điều này có thể giải thích qua cuộc nói chuyện giữa cô và Collins.”
“Một cuộc nói chuyện? Cuộc nói chuyện nào?”
“Cô không nhớ sao?”
“Không. Hoàn toàn không.”
“Cho phép tôi giúp trí nhớ của cô.” Grahame đáp lại tay cầm một tờ giấy ở trên bàn lên: “Phải chăng cuộc nói chuyện đó như thế này?”
COLLINS: Thế là xong xuôi hết, và tôi không phải không mừng. Vụ này làm tôi muốn sụm.
BURT: Anh đừng lo, Ted. Chúng ta đã làm đúng những gì phải làm.
COLLINS: Tôi hiểu rồi. Mặc dầu vậy…
BURT: Cái gì?
COLLINS: Ờ! Cô biết rõ điều đó, Louisa. Tại sao cô không nói… những gì cô biết?
BURT: Bởi vì người ta không hỏi tôi về những điều đó, đồ ngu!
COLLINS: Ừ, dĩ nhiên… cô nghĩ mình sẽ lãnh được số tiền thưởng đó không?
BURT: Chắc chắn. Chúng ta còn có thể có nhiều hơn nữa…
COLLINS: Cô muốn nói gì?
BURT: Rồi anh sẽ thấy. Tôi đã có sẵn một ý nghĩ trong đầu.
COLLINS: Có phải đúng là Mathry không Louisa?
BURT: Câm mồm đi, đồ ngu. Bây giờ thụt lùi quá trễ rồi. Trước hết, chúng ta không có làm gì hại hắn. Dẫu sao, với tất cả những bằng chứng mà họ đã có, Mathry cũng không thoát khỏi tội. Hơn nữa anh ta không hề bị treo cổ, phải không? Bộ anh không hiểu rằng phải luôn luôn đứng cùng phe với cảnh sát sao? Mọi sự sẽ tốt đẹp hơn anh tưởng. Chẳng bao lâu nữa, tôi sẽ sống như một bà lớn cho anh xem.
Trước khi ông chưởng lý có thì giờ can thiệp, Grahame đã quay về phía nhân chứng: “Cô có chối cuộc nói chuyện này đã được nghe và ghi lại bằng tốc ký không?”
“Tôi không biết. Tôi không nhớ. Tôi không chịu trách nhiệm về những gì Collins có thể đã nói.” Louisa lắp bắp nói, gương mặt đổi sắc.
“Sau khi lãnh tiền thưởng, cô làm gì?”
“Tôi không nhớ rõ.”
“Có phải cô đi Margate cùng với Collins không?”
“Tôi nghĩ rằng có.”
“Có phải cô ở chung phòng với anh ta tại khách sạn Beach Hotel không?”
“Chắc chắn là không. Tôi không phải đến đây để bị làm nhục.”
“Có lẽ cô thích hơn nếu tôi không trình bày trước tòa một bản trích trong quyển sổ của khách sạn hồi đó chứ?”
“Thưa ông chánh án, tôi cực lực phản đối những lời xuyên tạc không dính líu gì tới vụ án và chỉ nhằm mục đích làm hoen ố phấn giá của nhân chứng.” Ông chưởng lý can thiệp một lần nữa.
“Khi, cách đây mười lăm năm, vài điều dẫn chứng quan trọng hơn và kém xác thực hơn đã được đưa ra chống lại thân chủ tôi thì ông chưởng lý lại không phản đối!”
Trong sự im lặng tiếp theo, Grahame trở lại hỏi nhân chứng: “Xong cuộc nghỉ mát, cô trở về Wortley để nhận thấy rằng bầu không khí đã thay đổi, đã nguội lạnh trở lại. Cô không còn là nữ nhân vật chính như cô tưởng nữa. Việc làm không phải dễ kiếm. Chính vào lúc đó người ta cho Collins và cô, hai chỗ làm thật tốt, trong một tư gia rất khá giả và hai người đều chấp nhận. Đúng vậy không?”
“Đúng!”
“Người chủ mới của cô là ai?”
Louisa đã mất tất cả tự tin. Cô ta lén nhìn về phía Paul. Trong cảnh im lặng lắng đọng, cô ta ráng nói lên cái tên mà người ta đang mong đợi: “Ông Enoch Oswald.”
“Tôi có nói đúng sự thật không, nếu tôi xác định rằng, đối với Collins, ông Oswald đã chứng tỏ một lòng tốt rất đặc biệt bằng cách gả cô hầu phòng thứ nhất của ông cho anh ta và đưa anh ta xuống tàu sang New Zealand ở?”
“Ông ấy đối xử với Collins rất tốt.” Burt đáp nhỏ.
“Còn với cô?” Grahame hỏi lại, giọng ngọt lịm: “Phải chăng cô còn được ưu đãi hơn và có lẽ còn được chăm sóc tận tình hơn? Có một chỗ làm ở trong nhà ông ấy, rồi sau đó được gả chồng xứng đáng và cũng được cho đi sang cùng một nước xa xôi đó?”
Burt bối rối đáp nhỏ một lời công nhận, và sự chú ý của phòng xử lên đến cao độ. Mọi cặp mắt đều đổ dồn về Grahame.
“Cô có thể giải thích vì sao ông Oswald lại tỏ ra chăm sóc đặc biệt đến Collins và cô vốn là hai nhân chứng chính yếu trong vụ án Mathry không?”
Louisa chầm chậm lắc đầu.
“Phải chăng sự chăm sóc đặc biệt này gắn liền với sự kiện ông Oswald là chủ gian nhà cô Mona Spurling mướn?”
Burt không trả lời nữa. Căn phòng xử lặng đi như chết.
“Ông Oswald thường xuyên đến thu tiền nhà vào mỗi đầu tháng và hỏi han về những gì cần sửa chữa. Cuộc viếng thăm này thường diễn ra vào buổi tối, và có thể rằng Collins, vốn thường có mặt ở khu vực vào giờ đó, đã thoáng nhận ra ông ta?”
“Điều đó… có thể.”
Câu hỏi kế tiếp đến như một tiếng sét long trời: “Phải chăng Oswald đã dùng một chiếc xe đạp trong những chuyến đi thu tiền nhà?”
“Phải… một chiếc xe đạp màu xanh lá cây.” Burt lắp bắp nói, hoàn toàn mất hết tinh thần.
Cả phòng xử hồi hộp theo dõi, Grahame thản nhiên nói tiếp: “Còn một điều này nữa. Ngày hôm qua, chúng ta nghe nói nhiều về một người quen sử dụng tay trái. Ông Oswald có phải là một người thuận tay trái không?”
Rõ ràng Louisa không còn sức chịu đựng. Cô ta nhìn láo liêng chung quanh như một con thú bị săn đuổi.
“À, phải!” Cô ta kêu lên: “Phải, ông ấy thuận tay trái! Rồi sao?”
Cô ta bật lên khóc nức nở. Cả phòng xử xôn xao. Vài ký giả chụp vội những giấy tờ ghi chép của họ, chạy đến phòng điện thoại.
Khi một thừa phát lại dìu Louisa ra khỏi vành móng ngựa, Grahame quay mình về phía các quan tòa để kết thúc phần biện hộ của mình. Giọng nói của ông từ trước đến giờ rất bình tĩnh, bỗng trở nên đanh thép, nóng bỏng lạ lùng: “Tôi phải cám ơn quý tòa về sự khoan dung và kiên nhẫn mà quý tòa đã dành cho tôi. Tôi chỉ còn ít điều để nói thôi, và tôi sẽ vắn tắt.”
“Thưa quý vị, ai trong chúng ta cũng hiểu rằng mỗi bị cáo đều được xem là vô tội, trước khi có bằng chứng kết án một cách đích xác, rõ ràng. Việc tìm ra bằng chứng buộc tội là trách nhiệm của Viện công tố.”
“Nhưng thưa quý vị, chúng ta sẽ nói sao nếu Công tố không thi hành chức năng của mình với tất cả sự ngay thật? Nếu những kẻ có trách nhiệm buộc người ta tôn trọng luật pháp, sau khi bắt được một kẻ bị tình nghi, đã sử dụng tất cả mọi mánh lới, mọi phương tiện hùng biện, mọi kỹ thuật thuyết phục tinh tế nhất và kín đáo nhất, dùng những phương pháp gây áp lực và khủng bố để cố gắng chứng minh rằng họ có lý, rằng họ đã - một cách hoàn toàn công bằng - đem thủ phạm thật sự đến trước quan tòa?”
“Phe công tố, thưa quý vị, có những phương tiện rất lớn lao: tình báo, tiền bạc và quyền lực tuyệt đối. Các nhân viên của Viện công tố - và điều này cũng ở trong bản chất của con người - cảm thấy có khuynh hướng không những hợp pháp hoá hành động của họ mà còn lo làm sao cho họ được thăng thưởng, được nổi tiếng. Những chuyên viên mà họ thâu dụng, được lựa chọn rất kỹ nhưng vẫn có thể bị ảnh hưởng bởi họ. Ông chỉ huy trưởng cảnh sát tin chắc mình đã bắt được thủ phạm, bèn làm đủ mọi cách để bị cáo phải bị kết án. Ông bác sĩ luật y, được ông thẩm phán điều tra giao nhiệm vụ giảo nghiệm vũ khí của án mạng, dao, búa, hay chùy, không nói một cách rõ rệt: ‘Không có dấu máu trên lưỡi dao này’; nhưng lại nói: ‘Sự giảo nghiệm vũ khí đã không cho phép rút ra những kết luận chắc chắn’. Hay: ‘Đã tìm thấy những vết tích của một chất có thể là máu’. Và chính như thế mà dần dần tạo ra một bầu không khí thù nghịch, rất có hại cho bị cáo.”
“Chúng ta hãy lấy trường hợp của Mathry, một công dân bình thường, một con người không có nhiều ý chí, cũng không có trí óc sáng suốt, không tốt hơn mà cũng chẳng xấu hơn một người khác. Không được hạnh phúc trong gia đình, bị tính tình khắc khổ của người vợ làm mất hết hứng thú, không thể chối cãi được rằng anh ta đã đi tìm ở ngoài gia đình vài sự an ủi, một gương mặt khả ái hơn người đàn bà đang chờ mình ở nhà. Anh ta được người bạn giới thiệu với một người đàn bà trẻ đẹp và khả ái, anh ta theo tán tỉnh nàng và vào một buổi tối, cô đơn trong khách sạn ở một tỉnh hẻo lánh, anh gởi cho nàng một bưu thiếp trên đó - theo lối khéo tay sử dụng bút chì - anh đã vẽ một phong cảnh đồng quê, và mời nàng đi ăn tối. Rồi vài ngày sau, anh vô cùng kinh hãi khi đọc những bài báo đăng tin rùm beng rằng nàng đã bị giết một cách dã man, rằng cảnh sát đang điều tra và lục lọi khắp xứ để tìm cho ra tác giả của tấm bưu thiếp.”
“Anh ta phải làm gì đây? Đáng lẽ anh phải chạy đến đồn cảnh sát gần nhất mà nhìn nhận mình là tác giả tấm bưu thiếp. Nhưng anh sợ bị đăng báo rùm beng, sợ bị tai tiếng. Hơn nữa, chắc chắn cảnh sát sẽ đặt ra một câu hỏi rắc rối: ‘Vào đêm xảy ra án mạng, anh đã ở đâu trong khoảng thời gian từ bảy giờ đến chín giờ?’. Lo âu, anh nhớ lại đêm hôm đó anh đi xem chiếu bóng, một mình, và ngủ quên ở trong rạp. Một bằng chứng có mặt ngoài hiện trường thật mong manh! Ai trông thấy anh trong bóng tối của phòng chiếu bóng, ngủ gà ngủ gật trong chiếc ghế bành? Không có ai? Ngay cô bán vé cũng không ngửng đầu lên nhìn khi anh lấy vé. Không một ai có thể đến làm chứng cho những lời nói của anh.”
“Hoảng sợ, anh mất bình tĩnh và thay vì tự mình đến trình diện cảnh sát, anh lại dại dột phạm một lỗi lầm to lớn khác, anh ngụy tạo cho mình một bằng chứng có mặt ngoài phạm trường: một người sẽ chứng nhận giùm cho anh. Người ta khám phá ra anh là tác giả tấm bưu thiếp, anh bèn đưa ra bằng chứng có mặt ngoài phạm trường của anh, và người ta phát giác ra là giả tạo. Kể từ đó, tai họa đã đến với anh: Một điều thất tín vạn sự chẳng tin. Các bằng chứng buộc tội chồng chất lên nhau, bản cáo trạng này được thành hình. Nhưng trong sự dựng lên bản cáo trạng này, vài sự kiện mâu thuẫn xuất hiện - một cái túi đựng tiền làm bằng da người, một chiếc xe đạp sơn màu xanh lá cây có thể đã được sử dụng bởi kẻ sát nhân mà hình dạng được các nhân chứng mô tả không phù hợp với hình dạng của bị cáo. Những sự kiện mâu thuẫn này, người ta không thèm quan tâm đến, người ta triệt để loại bỏ chúng ra khỏi bản cáo trạng. Những sự kiện mâu thuẫn ấy đã gây trở ngại cho việc buộc tội; vậy phải làm cho chúng biến mất. Và ông biện lý, trong một lần buộc tội gay gắt, không thèm nhắc đến chúng.”
“Thưa quý vị, tôi tin chắc rằng phe công tố, trong vụ án Mathry, đã làm tất cả mọi điều để ngăn cản một vụ xử án công bằng. Dầu lời mô tả của tôi có mù mờ, hẳn quý tòa cũng nhìn nhận có nhiều bằng chứng đã bị loại bỏ. Hơn nữa, những gợi ý hệ trọng nhất đã được ông biện lý đưa ra trong phiên xử án và nhất là khi ông ngỏ lời với bồi thẩm đoàn.”
“Thật vậy, bài diễn văn của ông ta là những luận điệu tính toán rất tinh vi để tác động bồi thẩm đoàn và thúc đẩy sự biểu quyết một bản án có tội.”
“Thưa quý vị, khi việc có liên quan đến sinh mạng của một người, chúng ta không thể chấp nhận loại văn hùng biện này; nó không ảnh hưởng đến trí suy xét mà chỉ ảnh hưởng đến những xúc cảm của các bồi thẩm, không thuyết phục họ thuần bằng lý luận mà chỉ muốn đánh thức nơi họ những xúc động dữ dội nhất, sự kinh sợ, sự tức giận, sự ghê tởm và ước muốn trả thù. Sự hùng biện còn bị hạ phẩm giá bởi những điệu bộ diễn kịch kèm theo: ông biện lý vung con dao của tội ác lên, ném nó xuống đất, lặp lại động tác giết người, sử dụng tất cả những phương tiện của lối mãi võ Sơn Đông, để cuối cùng, biến một phiên xử án trang nghiêm thành hồi chót một vở kịch trên sân khấu nghèo nàn. Theo tôi, bài diễn văn của ông biện lý trong phiên xử án Mathry, và cách mà nó được trình bày đã hủy hoại nền móng của tất cả bộ máy tư pháp của chúng ta. Tôi dám hy vọng rằng tòa sẽ không ngần ngại nói lên điều đó.”
Luật sư ngừng lại một chút và Paul lợi dụng lúc này để nhìn về phía Sprott. Gương mặt ông biện lý bây giờ trông nhợt nhạt đến dễ sợ. Ông ta đang nghĩ gì? Đến sự nhục nhã hiện giờ hay đến công danh sụp đổ, đên những tham vọng chính trị vĩnh viễn bị tan tành?
“Tôi cũng cho rằng” Grahame tiếp tục: “vị chánh án của phiên xử mười lăm năm trước, cũng đã tìm cách gây ảnh hưởng với các vị trong bồi thẩm đoàn. Điều này trái với tinh thần của luật pháp. Bắt chước thái độ của ông biện lý, ông cũng cố ý mô tả bị cáo dưới những màu sắc cực kỳ bất lợi cho anh ta, đồng thời không báo cho bồi thẩm đoàn biết những khuyết điểm trầm trọng của cuộc điều tra. Về phần cảnh sát chắc chắn họ đã hành động ngay thật trong giới hạn phương tiện và hiểu biết của mình. Dù vậy cảnh sát cũng phạm sai lầm quan trọng trong vấn đề chính là nhận diện thủ phạm. Hiển nhiên người ta thấy rằng cảnh sát đã ém nhẹm những bằng chứng và yếu tố có thể có lợi cho thân chủ tôi, gây cho thân chủ tôi thiệt thòi lớn lao…”
Grahame đưa cánh tay về phía quan tòa và đây là cử chỉ đầu tiên của ông từ lúc mở phiên xử: “Thưa ông Chánh án, Mathry không giết người. Từ cuộc điều tra của chính chúng tôi và từ sự phân tích phiên xử đầu tiên, Chúng ta thấy rõ anh ta vô tội, nạn nhân của một sai lầm khủng khiếp, của một công lý trá hình. Chính nhân chứng Louisa Burt cũng thú nhận khai gian và khi bị lột mặt nạ, đã giúp cho chúng ta thấy rõ ai là kẻ thật sự gây ra tội ác.”
“Thưa quý vị, tôi không phải là cảnh sát và cũng không có bổn phận lôi thủ phạm thật sự ra trước tòa, nhưng tôi đã cung cấp cho quý vị những yếu tố có thể chỉ ra tên kẻ sát nhân một cách dễ dàng. Nhà chức trách hãy tìm kiếm người đàn ông đó, và những nghi ngờ cuối cùng sẽ biến mất. Thưa quý vị, nhân danh công lý thiêng liêng, tôi yêu cầu quý vị sửa lại sai lầm ghê gớm này, nhìn nhận lỗi lầm của Viện công tố, đại diện Đức Vua, và công bố sự vô tội của Mathry.”
Luật sư ngồi xuống trong khung cảnh lặng như tờ, tiếp theo là tràng pháo tay, tiếng hoan hô nổi lên ào ạt. Trật tự chỉ được tái lập sau khi ông chánh án dọa đuổi hết khán giả ra khỏi phòng xử. Paul dàn dụa nước mắt, chưa bao giờ chàng được nghe những gì cảm động hơn đoạn chót của bài biện hộ của luật sư. Xúc động, Paul đưa mắt nhìn cha đang ngồi im lìm trên ghế và có vẻ không hiểu nổi vì sao những kẻ mười lăm năm trước nguyền rủa ông, giờ lại hoan hô.
Khi sự yên lặng trở lại, ông chánh án tuyên bố phiên tòa tạm hoãn.
Đồng hồ điểm bốn giờ khi các quan tòa trở ra và đến ngồi vào ghế. Ông chánh án đứng dậy tuyên bố: “Đây là một vụ án vô cùng phức tạp, một trong những vụ án đã đưa đến sự phán xét sai lầm.”
Ông dừng một lúc lâu. Paul nghe tim đập như muốn vỡ lồng ngực. Chàng nhìn cha đang cắn chặt môi, một bàn tay đưa lên tai, cố để nghe cho rõ.
“Tòa cho rằng trước đây các điểm tố tụng do ông biện lý và ông chánh án gởi đến bồi thẩm đoàn là trái với tinh thần luật pháp. Tòa cũng cho rằng có những sự kiện mới mà người ta không quan tâm đến.”
Lần im lặng này còn lâu hơn nữa. Paul nín thở.
“Do đó, tòa quyết định huỷ bỏ bản án đã kết tội kẻ chống án.”
Hỗn loạn… Những chiếc nón được tung lên không… Những tiếng reo hò hoan hô nồng nhiệt. Dunn và Mc Evoy tươi cười siết chặt những bàn tay, bàn tay của Nigel Grahame, của Paul. Công chúng vây quanh Paul, khen ngợi chàng, đập tay vào vai chàng. Có phải ông già Prusty thở hào hển đang ôm hôn chàng không? Ella và mẹ của Paul ôm nhau, hãy còn sững sờ và xấu hổ. Ông mục sư nhắm mắt lại tạ ơn Chúa.
Vẻ mặt Dale đanh lại hơn bao giờ hết. Sprott cúi gằm đầu vội vã đi ra ngoài. Một gương mặt trẻ thấp thoáng ngoài hành lang… phải chăng Mark Boulia?
Đoạn, Paul đứng dậy, vẹt đám đông đi về phía người đàn ông cúi gập người, rã rời, đang còn chưa hiểu rằng, trước mặt mọi người, ông không còn là một kẻ sát nhân nữa. Cha chàng đó.