Paul không còn nhớ chàng về đến Ware Place bằng cách nào. Chàng bước đi, đầu cúi gằm, không nhìn thấy gì hết, gần muốn ngất xỉu. Khi về đến căn nhà số 31, chàng ngồi xuống, đầu óc chỉ còn có một ý nghĩ duy nhất.
Tim chàng đau nhói, toàn thân rung động. Oswald dùng tay trái. Enoch Oswald, cựu sinh viên y khoa, hội viên hội câu lạc bộ “Những con châu chấu”, người thâu tiền nhà, chủ nhân ngôi nhà số 52 Ushaw Terrace. Đúng là ông ta, không còn nghi ngờ gì nữa. Điều phát giác này làm chàng nghẹn thở, sự thật sáng rực làm mắt chàng như bị chói lòa. Tựa khuỷu tay lên bàn để không tuột khỏi ghế, Paul đưa hai bàn tay ôm lấy vầng trán nóng bỏng: “Lena, tôi cần phải nói chuyện với cô.”
“Khoan đã, Paul.”
Gương mặt nàng rất xanh xao nhưng vẫn tỏ ra đầy nghị lực. Nhấc cái nồi đang reo sôi trên lò bếp, nàng trút cho Paul một tô xúp và ép phải ăn.
Khi Paul ăn xong, Lena đến ngồi trước mặt chàng, bình tĩnh nói: “Nào, Paul!”
Sau một lúc im lặng, Paul ngẩng đầu lên và, bằng một giọng trầm trầm, chàng bắt đầu nói, nói hết. Xong, chàng kết luận một cách chua chát: “Vậy là tôi đã biết, biết hết. Và tôi có thể làm được gì? Không làm được gì cả! Ai còn muốn giúp tôi? Không ai cả. Không người nào còn muốn nghe tôi nói. Cô nghĩ họ - những người như Sprott, Dale hay cả Birley nữa - sẽ làm gì nếu tôi tìm đến trình bày với họ những điều tôi được biết? Không có công lý. Chừng nào một con người còn sống no đủ, với tiền bạc đầy túi, con người ấy không cần đếm xỉa gì đến điều thiện hay điều ác. Thế gian này đã ung thối đến tận xương tủy.”
Rất xúc động, Lena thong thả lắc đầu: “Không. Những người nghèo là những kẻ ngay thật… và tốt. Họ không bao giờ chấp nhận sự bất công.”
Paul nhìn nàng nghi ngờ: “Cô có dựa vào kinh nghiệm không?”
Nàng hơi đỏ mặt, mở miệng toan nói, nhưng lại làm thinh.
“Paul, em không khôn khéo cũng không mưu trí,” nàng thở dài nói, “nhưng em nghĩ rằng em biết những gì anh phải làm. Có một người mà anh nên gặp.”
“Ai vậy?”
“Đó là… một ông bạn… của em.”
“Một ông bạn… một ông bạn…”
Paul lặp đi lặp lại chữ bạn; chàng bỗng nhiên thấy nó vô nghĩa đến độ dù tâm hồn chàng phải chịu một sự giằng co ghê gớm, gương mặt chàng vẫn nhăn lại trong một nụ cười đau đớn. Một ông bạn của Lena! Sau tất cả những cố gắng, những mưu toan vô ích của chàng, giải đáp mà Lena đề nghị thật quá giản dị, quá ngây thơ, Paul bỗng phát cười to lên, tiếng cười như điên như dại, bất tận rồi sau đó lại nhường chỗ cho những tiếng nấc nghẹn ngào đau thương. Lena đứng đó nhìn sợ sệt, không dám đặt cả tay lên vai Paul nữa. Nàng cất tiếng khi thấy Paul hơi dịu lại: “Anh đi nghỉ đi, chúng ta sẽ bàn lại chuyện này vào ngày mai.”
“Ngày mai.” chàng lặp lại bằng một giọng lạ lùng: “Phải, ngày mai có rất nhiều chuyện sẽ xảy ra.”
Còn lại một mình trong căn phòng nhỏ đêm trước, Paul đến ngồi trên thành giường, đầu nóng như lửa đốt, nhưng hai bàn chân lại lạnh ngắt. Chàng có thể bị cảm lạnh, nhưng chẳng cần, Paul hình dung lại một cách rõ ràng những cố gắng vô ích của mình, tuy nhiên chàng vẫn tiếp tục theo đuổi chúng cho đến khi nào đạt kết quả. Chàng cần phải hành động một cách công khai, hành động không ngần ngại. Paul không còn bình tĩnh được nữa. Chàng muốn xuất hiện ở một nơi công cộng và gào to lên cho tất cả mọi người biết sự bất công mà cha chàng phải chịu.
Ý nghĩ này làm mắt Paul sáng lên. Chàng đứng dậy đến gài chốt cửa thật kỹ, xong đến mở một cái tủ ở góc phòng, lấy ra vài tờ giấy và đặt chúng xuống sàn nhà. Chàng quỳ xuống và bắt đầu viết lên đó những chữ in hoa thật lớn. Chàng có hoa tay nên chỉ làm việc này trong một khắc dù mắt đang mờ và tay đang run. Chờ cho nét chữ ráo mực, chàng đến buông mình trên giường, không thay quần áo. Dù đầu óc, tâm hồn bừng lên vì mưu kế vừa nghĩ ra, chàng vẫn ngủ được, nhưng là một giấc ngủ chập chờn.
Paul giật mình thức dậy lúc bảy giờ sáng. Một cơn đau đầu làm chàng nhăn mặt nhưng đồng thời khiến chàng càng quyết tâm hơn. Paul cuộn tròn các tờ giấy lại, đi ngang cửa phòng Lena, bước ra ngoài.
Mưa đã tạnh, buổi mai trong sáng, mát dịu như cảnh bình minh. Paul dừng lại dưới mái che của một người đánh xe ngựa ở góc đường Duke’s Court, sờ vào túi thấy có mấy đồng tiền, chàng gọi một tách cà phê và một miếng bánh mì dày trét margarine. Ăn xong, chàng thấy khỏe, nhưng đi chưa đến giữa đường thì toàn thân nổi cơn sốt và run lên bần bật. Paul cúi mình xuống mé đường ói ra hết.
Khi Paul đến ngã tư đại lộ, chung quanh Công ty quảng cáo Khu hành lang vẫn còn vắng vẻ. Lách mình qua một khe hở của dãy hàng rào, nơi chàng đã từng sắp hàng chờ cùng những người sandwich, Paul tiến đến các tấm quảng cáo chất đống trong một nhà kho bằng tôn rỉ. Chàng chọn hai tấm còn mới và dùng cọ dán các áp-phích của chàng lên. Lúc toan vác bảng, Paul bỗng nhìn thấy một đống dây xích bỏ rỉ sét trong góc.
Chàng nhớ đến hôm đi quảng cáo cho một buổi biểu diễn của nhà ảo thuật Houdin[1]. Không chút ngần ngại, hành động một cách máy móc, không cần suy nghĩ, như bị thúc đẩy bởi một sức mạnh kỳ lạ, chàng chọn một dây xích nhỏ và chắc, có một ống khóa còn sử dụng được. Năm phút sau, Paul ra khỏi sân với tấm bảng quảng cáo buộc chặt trên người.
Đồng hồ nhà thờ điểm tám giờ lúc Paul băng qua đường Ware tiến về khu trung tâm thành phố đang thức giấc. Nhiều người chạy đến các trạm xe buýt hoặc các nhà ga xe lửa điện. Một số tò mò nhìn chàng trai trẻ mang trên lưng một tấm bảng với hàng chữ in hoa:
❀ ❀ ❀
[1] Houdin: nhà ảo thuật lừng anh, có biệt tài thoát được mọi tình huống giam cầm, từ cống, dây xích, ống khóa cho đến xà lim nhà tù.