Thanh gươm công lý

Lượt đọc: 313 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
XV

❊ ❊ ❊

Vào một buổi ban mai ngập nắng nhưng lạnh, phòng xử đông nghẹt người. Người ta chen lấn nhau ngay cả ngoài đường, trước cửa pháp đình. Bên trong phòng lớn dành cho công chúng là một biển người hiếu kỳ, gương mặt chăm chú. Bên trái là cả một đạo binh ký giả, giấy bút sẵn sàng trên tay. Bên phải là các chức sắc của thành phố Wortley và các chánh án tòa thượng thẩm. Ở giữa là chưởng lý Lord Oman, bên cạnh biện lý Sir Matthew Sprott. Ngay phía sau là luật sư Nigel Grahame và người phụ tá của ông. Kế đó là Paul và mẹ chàng, Ella và ông mục sư Fleming, Dunn, Mc Evoy và bạn bè của họ. Ở ngay hàng đầu là Rees Mathry, người cựu tù khổ sai của nhà giam Stoneheath. Trái với ý muốn của luật sư mình, Rees Mathry nằng nặc đòi cho được ở ngay hàng đầu, để mọi người nhìn thấy ông và ông thấy mọi người. Ông cắn chặt môi, nhìn quang cảnh chung quanh với một cái nhìn thù địch.

Bỗng nhiên, những tiếng ồn ào ngưng bặt, mọi người đứng dậy khi năm ông chánh án tòa thượng thẩm tiến vào, oai nghi trong những chiếc áo dài rộng thùng thình. Họ ngồi xuống trong tiếng vải lụa kêu sột soạt. Một giọng nói to lên: “Phiên tòa xử vụ chống án của Rees Mathry bắt đầu!”

Paul cảm thấy thần kinh căng thẳng, hơi thở khó nhọc. Từng ngày một, chàng đã theo dõi việc luật sư Nigel Grahame chuẩn bị hồ sơ một cách kỹ càng và tỉ mỉ. Luật sư đứng lên, thật bình tĩnh. Cao lớn, thẳng người, một bàn tay đặt ở cổ áo, theo đúng nghi thức truyền thống, vị luật sư trẻ tuổi đối diện với các quan tòa. Giọng nói cũng như thái độ của ông đều giản dị, thẳng thắn, không hoa văn, cầu kỳ: “Thưa Ngài Chánh án, ngày 15 tháng 12 năm 1921 và những ngày kế tiếp, Rees Mathry, thân chủ của tôi, bị đưa ra trước những phiên tòa đại hình của Wortley - theo lời yêu cầu của Sir Matthew Sprott, biện lý của Đức Vua - với bản cáo trạng đã dùng dao cạo tấn công và sát hại một cô gái tên Mona Spurling. Thân chủ của tôi không nhìn nhận tội. Ngày 23 tháng 12, trong phiên tòa dưới quyền của ngài Lord Oman, thân chủ của tôi bị kết án tử hình. Cuộc hành quyết đáng lẽ phải xảy ra ngay tại nhà tù Wortley. Nhưng thân chủ tôi được ân giảm, được đưa đến nhà tù Stoneheath và bị giam ở đó mười lăm năm. Thân chủ của tôi dựa vào những điều luật về quyền chống án trong các vụ đại hình muốn chứng tỏ ở đây rằng ông ấy vô tội, hoàn toàn không có nhúng tay vào những sự việc mà người ta đã tố cáo ông. Thân chủ tôi cho rằng bản án đó là bất công và là một sự sai lầm nghiêm trọng về pháp lý.”

Một cách kín đáo, Paul quan sát ba nhân viên luật pháp ngồi rất gần chàng: Dale, giám đốc Sở cảnh sát, nét mặt nặng nề và thản nhiên; Sprott hơi xao động và hơi đỏ mặt, nhưng trong ánh mắt của ông, người ta chỉ thấy sự kiên quyết và thản nhiên. Đoạn, Paul đưa mắt nhìn về phía cha chàng: ngồi cô độc trên chiếc băng, dáng nặng nề và thô kệch, và một lần nữa phải đương đầu với những mệt nhọc của phiên xử. Bỗng nhiên, tim Paul đập mạnh. Chắc chắn, cha chàng sẽ trả được thù. Sợ sự xúc động sẽ làm mình ngất đi, chàng quay mặt sang chỗ khác.

Grahame, sau khi đọc xong lời thỉnh nguyện giáo đầu, dừng lại một phút, mắt vẫn nhìn thẳng các quan tòa. Đoạn, vẫn giữ nguyên một giọng không thay đổi, ông bắt đầu phần bào chữa của mình: “Thưa quý vị, chỉ cách đây vài tháng thôi, vụ án Rees Mathry còn bị vùi sâu trong những chồng giấy tờ đầy bụi của Bộ tư pháp. Mười lăm năm đã trôi qua, vụ án chìm trong quên lãng: kẻ bị kết án đang thi hành một án chung thân - tôi phải nói án tù cho đến chết - trong các nhà tù của Đức Vua, và cuộc sống vẫn tiếp tục trong sự bình thản yên lành của tất cả mọi người.”

“Một hôm, do một sự kiện hoàn toàn tình cờ, người con trai của kẻ tử tội - người ta đã giấu nhẹm hoàn toàn, không cho cậu biết gì về tội ác đã gán cho cha cậu và về số phận thê thảm của cha cậu - phát giác ra tấn bi kịch này cùng với sự ô nhục của cha cậu, một sự ô nhục không phải không làm tổn thương đến danh dự của riêng cậu. Vô cùng đau khổ - nhưng cậu vẫn tin tuởng vào luật pháp, vào nền công lý của xứ sở - và tâm hồn tan nát, cậu chấp nhận sự kiện đầy nhục nhã rằng cha cậu là một tên sát nhân. Tuy nhiên, vì tình thương đối với cha, cậu buộc lòng - gần như trái với ý muốn của mình - phải tìm hiểu trong những trường hợp nào cha cậu đã phạm vào tội ác. Trong nhiều tháng dài chịu đựng đau khổ và mặc dầu bị đe dọa rất nguy hiểm, cậu lần lượt tìm ra những sự kiện trong vụ án bị lãng quên.”

“Thưa quí vị, chính những cố gắng của cậu và những kết quả tìm được của cậu đã đưa chúng ta gặp nhau ở đây, ngày hôm nay.”

Những lời nói đầu này của luật sư đã gây ra một sự xúc động sâu xa. Paul cúi gằm mặt xuống. Cả người chàng rung động khi Grahame, tiếp tục phần biện hộ, bắt đầu phân tích những chi tiết về sự bắt giam, về phiên xử Rees Mathry vào tháng 12 năm 1921. Mặc dầu đã biết rất rõ những chi tiết này nhưng chàng cũng không thể không cảm thấy một mối xúc động cứ mỗi lúc một gia tăng khi Grahame lần lượt trình bày một cách có phương pháp.

Bài biện hộ xuất sắc này, với một khoảng nghỉ trưa của phiên tòa, kéo dài gần bốn tiếng đồng hồ. Khi nó vừa chấm dứt, Grahame, không tỏ chút gì mệt mỏi, lợi dụng ngay ảnh hưởng mạnh mẽ của nó, nghiêng người phía trước pháp đình, xin được phép gọi các nhân chứng: “Thưa quý vị, người đầu tiên mà tôi xin phép được mời ra trước vành móng ngựa chính là người chống án. Trong phiên xử trước kia, vì bị những lời tấn công dồn dập của công tố viên, Rees Mathry đã không thể tự biện hộ cho mình được. Bây giờ ông sẽ chứng minh cho quý vị thấy ông không hề hay biết trực tiếp hay gián tiếp gì về án mạng và sẽ trả lời những điều mà người ta đã tố cáo ông.”

Ông chưởng lý đứng lên phản đối. Trong suốt phần trình bày của luật sư biện hộ, người ta thấy ông bị xao động, khó chịu trên chiếc ghế của ông. Ông nói: “Thưa quý vị, tôi không đòi hỏi gì hơn là giúp đỡ mọi cuộc điều tra chánh đáng trong vụ này. Nhưng không thể có vấn đề xử lại vụ án. Tôi chống lại việc bị cáo được phép làm chứng.”

Sự chống đối của ông chưởng lý gây ra một đợt sóng xúc động. Paul thấy cha chàng đứng lên, quay gương mặt màu xám của ông về phía luật sư. Các quan tòa nghiêng đầu hội ý với nhau. Ông chánh án lên tiếng: “Tòa cho rằng lời khai của người chống án sẽ chỉ là sự lặp lại những lời kêu gào vô tội của anh ta trong phiên xử trước kia. Tòa không chấp nhận cho anh ta ra trước vành móng ngựa.”

Mathry nghiêng đầu theo dõi từng tiếng một câu trả lời của ông chánh án, với một sự xao động gia tăng. Trong tiếng ồn ào tiếp theo của phòng xử, Mathry bỗng đứng phắt dậy, thân hình nặng nề và run rẩy. Paul, kinh sợ, thấy ông ta đưa nắm tay về phía các quan tòa, hét lên: “Đó là sự bất công. Tôi có quyền nói. Tôi phải nói hết tất cả. Và mọi người sẽ nghe tôi nói. Mọi người sẽ biết rõ bằng cách nào tôi đã bị tống vào nhà tù và tôi đã bị đối xử như thế nào trong suốt mười lăm năm qua ở trong tù.” Giọng nói của ông lên cao đến độ hình như nó muốn vỡ tan ra: “Bây giờ các ông không thể bắt tôi im được… như người ta đã làm trong các phiên xử trước kia. Tôi muốn nói. Tôi muốn công lý… Công lý!”

Ông vừa giơ tay vừa la hét, khiến Grahame và nhiều người thừa phát lại phải chạy đến hiệp sức với nhau đè ông ngồi xuống. Một sự hỗn loạn tiếp theo, sau đó cả phòng xử im phăng phắc. Ngồi thu mình lại, Paul nhận thấy Ella và mẹ chàng ngồi bên cạnh chàng đang khóc. Hơi xa hơn một chút, Dunn và Mc Evoy trao đổi nhau một cái nhìn lo lắng. Sprott và Dale lần đầu tiên biểu lộ vẻ rất bằng lòng.

Bằng một giọng nghiêm khắc, ông chánh án nghiêng mình về phía Mathry: “Chúng tôi rất sẵn sàng chứng tỏ lòng ưu ái lớn nhất đối với người chống án. Nhưng tôi buộc lòng phải nhắc nhở anh rằng một thái độ như thế sẽ không làm cho tòa án có cảm tưởng tốt đối với anh ta. Nếu trường hợp này con xảy ra nữa, tòa sẽ lập tức buộc anh ta vào tội nhục mạ thẩm phán.”

Grahame trở về chỗ của mình, liền đáp lời ngay: “Thưa ông chánh án, nhân danh người chống án, tôi xin bày tỏ với quý tòa những lời xin lỗi tha thiết nhất của chúng tôi. Về sự việc này, tự nó rất đáng tiếc, nhưng có lẽ cũng đáng được tha thứ. Và bây giờ, với sự cho phép của quý tòa, tôi xin mời người chứng thứ nhất của chúng tôi, chuyên viên nổi tiếng Bộ nội vụ, Sir Malcom Garrison.”

Một lần nữa, ông chưởng lý đứng lên: “Thưa quý tòa, tôi phản đối lần nữa. Không thể chấp nhận ý kiến nào của chuyên viên nếu không có sự kiện nào mới.”

Ông chánh án gật đầu đồng ý: “Theo luật sư, vì những lý do nào mà ông yêu cầu cho Sir Malcom Garrison ra làm chứng?”

“Thưa quý vị.” Grahame đáp: “Hẳn quý vị biết Sir Malcom là nhà hình luật học nổi tiếng nhất của chúng ta. Ông ấy đã đuợc biết về những vết thương của nạn nhân. Ông ấy đã được xem những hình ảnh của tử thi và của con dao cạo được cho là vũ khí của án mạng, và ông ấy có ý kiến rằng con dao cạo đó không thể nào được dùng để giết nạn nhân.”

Cau mày, ông chánh án hội ý với các quan tòa phụ tá rồi nghiêm nghị nhìn luật sư: “Tòa bắt buộc phải thuận theo lời yêu cầu của ông chưởng lý. Sir Malcom đã không trông thấy tử thi, vậy không thể chấp nhận được sự làm chứng của ông ấy.”

Sự bất bình làm Paul nóng mặt. Phải chăng, ở mỗi khúc quanh, phe chàng đều đụng vào một hàng rào? Nhưng Nigel Grahame chấp nhận sự việc với một vẻ bình tĩnh hoàn toàn: “Thưa quý tòa, tôi nhận thấy quý tòa có ý định giới hạn tối đa số nhân chứng. Vậy tôi sẽ bằng lòng với năm nhân chứng mà quý tòa không thể bác bỏ được. Về vấn đề khám nghiệm tử thi của nạn nhân - vấn đề do quý tòa nêu ra - lúc đọc hồ sơ, hẳn quý tòa đã nhận thấy rằng bác sĩ Tuke, vị bác sĩ đầu tiên trông thấy tử thi vài phút sau khi án mạng xảy ra, đã không được gọi ra làm chứng trong phiên tòa trước kia. Thưa quý vị, có bao giờ quý vị nhận thấy, trong những hồ sơ xử án của quý vị, người ta không gọi vị y sĩ đầu tiên đã khám nghiệm tử thi ra làm chứng không? Vì sao nhân chứng trọng yếu này đã bị loại ra ngoài các cuộc bàn cãi? Bác sĩ Tuke đã qua đời, nhưng người vợ của ông ấy đã ở đây để trả lời câu hỏi này.”

Có một sự lao xao trong phòng xử khi người ta gọi tên bà Tuke. Bước tới vành móng ngựa, là một bà cụ da nhăn nheo, y phục màu đen, gương mặt biểu lộ sự lương thiện và ngay thật. Rất ung dung, bà tuyên thệ rồi quay lại phía luật sư đang bắt đầu đặt các câu hỏi: “Bà là góa phụ của bác sĩ Tuke đã hành nghề lâu năm ở Wortley, trong khu phố Eldon?”

“Thưa luật sư, phải.”

“Bà biết rằng chồng bà đã được gọi đến bên cạnh cô Spurling buổi tối xảy ra án mạng?”

“Phải.”

“Ông ấy có nói với bà về cuộc viếng thăm đêm hôm đó không?”

“Rất nhiều lần.”

“Ông ấy có nói với bà về sự ngạc nhiên của ông ấy, khi ông không được gọi ra làm chứng trong vụ án Ress Mathry không?”

“Sự ngạc nhiên của ông ấy rất lớn. Ông ấy bảo rằng…” Bà dừng lại, liếc nhìn về phía các quan tòa với vẻ sợ hãi.

“Xin bà đừng sợ, mục đích của tòa là để nhận lời chứng của bà chớ không phải ngăn cản bà nói. Bác sĩ Tuke đã bảo gì?”

“Rằng ông biện lý đã cho ý kiến của ông ấy là không đáng kể.”

Cả phòng xử tỏ ra xúc động và lần đầu tiên các khán giả bắt đầu chú ý đến Sir Matthew Sprott. Paul cũng bị lôi cuốn theo sự xúc động chung.

“Vậy xin bà hãy cho chúng tôi biết những gì bà đã nghe chồng bà nói về vấn đề này.”

Một chút im lặng. Nhân chứng uống một ngụm nước trong ly đặt trước mặt bà.

“Nhà tôi luôn luôn nhắc rằng án mạng không thể nào được thực hiện với một con dao cạo. Theo ông ấy, kẻ sát nhân dùng một vũ khí khác: một con dao rất nhọn, giống như dao mổ của nhà giải phẫu.”

“Bằng cách nào ông ấy có kết luận đó?”

“Bằng một sự khám nghiệm kỹ càng về các vết thương. Tử thi mang vết thương rất sâu ở bên phải của cần cổ và một đường cắt rất lớn đi đến tận tai trái.”

“Và ông ấy kết luận rằng một vũ khí rất bén và nhọn được đâm vào những huyết quản trọng yếu ở cổ, trước khi nó cắt qua bên trái của cổ?”

“Thưa luật sư, đúng vậy.”

“Còn một con dao cạo mũi tròn không thể nào đâm sâu và gây ra một vết thương như thế, phải không?”

“Thưa luật sư chính đó là những điều ông bác sĩ đã nói. Ông ấy cũng cho rằng kẻ sát nhân là một người rất mạnh mẽ và có bản chất hung bạo. Sau cùng, theo vị trí của những vết thương và những giọt máu vọt ra trên tấm thảm, ông ấy quả quyết kẻ sát nhân là một người thuận tay trái.”

“Một người thuận tay trái!” Grahame gật gù lặp lại vừa nhấn mạnh vào những chữ này.

Luật sư nói tiếp với một vẻ nghiêm nghị: “Những điều bà đã nhớ về điểm này là rõ ràng và chính xác chứ?”

“Rất rõ ràng.” Người goá phụ đáp với một vẻ thật nghiêm trang, đứng đắn.

“Thưa luật sư, bác sĩ Tuke rất tốt với tôi.” Bà nói tiếp, môi run run: “Tôi kính trọng kỷ niệm của ông ấy. Ông nghĩ rằng tôi có thể gán cho ông ấy những lời mà ông ấy không hề nói ra?”

“Hoàn toàn không. Tôi chỉ chứng tỏ cho tòa thấy tấm lòng ngay thật không thể chối cãi được của bà.”

“Tôi không thấy có lý do gì khiến ông hỏi nhân chứng này quá như vậy.” Ông chưởng lý đại diện cho Nhà Vua nói với một vẻ bực tức: “Theo riêng tôi, tôi không thấy có câu gì đáng hỏi.”

“Tôi xin cảm ơn bà.” Luật sư nói với goá phụ bác sĩ Tuke: “Lời khai của bà sẽ rất quý báu đối với chúng tôi. Tôi yêu cầu nhân chứng thứ nhì bước lên.”

Grahame ra dấu cho bà cụ rời vành móng ngựa, và thừa phát lại gọi giáo sư Valentine đến.

Ông ta xuất hiện ngay trước vành móng ngựa. Đó là một người đàn ông nhỏ con, độ năm mươi tuổi, mặc một chiếc áo ngoài hơi sờn, mang một chiếc cổ áo cao và trắng, thắt cà vạt đen, nước da xanh mét. Mái tóc đen và dài, hất ra đàng sau khiến ông ta có vẻ giống một nhà đạo diễn thuộc hạng xoàng, sau khi tuyên thệ, ông ta liền lấy một thế đứng hiên ngang, một bàn tay chống nạnh và bàn tay kia nắm lấy vành móng ngựa, đầu hất ra đàng sau, có vẻ sẵn sàng đương đầu với mọi câu hỏi hóc búa.

“Thưa ông Valentine, hình như ông có nhiều kiến thức về khoa chiết tự?” Luật sư hỏi với một giọng rất dịu dàng.

“Tôi là giáo sư về khoa cổ tự học. Tôi là tiến sĩ về khoa cổ tự học. Và tôi có thể nói rằng ai cũng biết tên tôi trong lãnh vực này.” Nhân chứng trả lời với một vẻ kiêu hãnh.

“Tốt lắm. Trong vụ xử án Mathry, ông cả quyết rằng lá thư cho cô Spurling là một cái hẹn do chính tay Ress Mathry viết?”

“Đúng vậy… tôi được ông thẩm phán điều tra gọi ra làm chứng như vậy.”

“Tôi tin rằng lúc ấy ông đã nhận thức được hậu quả nghiêm trọng về lời khai của ông, và ông đã hoàn toàn tin chắc nơi ông?”

“Thưa luật sư, hoàn toàn đúng như vậy. Trong nghề nghiệp lão luyện của tôi, tôi thường chứng nhận giá trị của những tài liệu công quyền hay của tư nhân trong những vụ có tầm quan trọng rất lớn.”

“Vậy, thưa ông Valentine, ông có thể nói cho chúng tôi biết bằng cách nào ông có được một kết luận rõ ràng và quả quyết như vậy?”

“Thưa luật sư, bằng cách dùng một kính lúp để nghiên cứu tài liệu, những hình rọi lớn được so sánh với những mẫu chữ viết của bị cáo. Sau đó, với những hiểu biết đặc biệt sâu rộng của tôi, tôi quả quyết rằng lá thư đó do chính tay Mathry viết. Anh ta thay đổi nét chữ của mình.”

“Bằng cách nào?”

“Anh ta viết bằng tay trái.”

“À! Lá thư đó đã được viết bằng tay trái?”

“Chắc chắn là như vậy và được viết bởi người tù Mathry.”

“Và bởi người tù Mathry?” Luật sư lặp lại mấy chữ đó với một nụ cười khả ái: “Thưa ông giáo sư, tôi không đủ tư cách để dò xét những bí mật của nghề nghiệp ông. Nhưng các nhà thông thái nhất về vấn đề này đều công nhận rằng những lời chứng nào chỉ dựa trên lý thuyết và trên ý kiến riêng của cá nhân thì đều không thể được chấp nhận nếu chưa được bàn cãi. Có lẽ ông nghe nói đến vụ án Adolphe Beck.”

Ông giáo sư khoác lấy một vẻ mặt kiêu ngạo. Luật sư nói tiếp: “Trong vụ án ấy, thưa ông giáo sư, một chuyên viên chiết tự nổi danh xác nhận sau khi tuyên thệ rằng lá thư đã được viết bởi một người tên Adolphe Beck, khiến người ấy bị kết án năm năm khổ sai. Đến khi anh ta mãn án, người ta mới nhận ra sự vô tội của anh ta. Như thế là nhà chuyên viên đó vấp phải một lỗi lầm ghê gớm, khiến một người vô tội phải chịu năm năm tù một cách oan ức.”

“Tôi không có dính dáng gì đến vụ Adolphe Beck.” Ông Valentine thốt lên, vừa hất mái tóc của ông ra đàng sau.

“Dĩ nhiên là không. Vụ của ông, vụ của chúng ta ở đây, là vụ án Ress Mathry. Nếu tôi không lầm thì trong lời khai của ông có ba điểm chính yếu: thứ nhất, lá thư được viết bằng tay trái, thứ nhì, nét chữ bị cố ý làm thay đổi, và sau cùng, nét chữ đó là của chính người tù Mathry. Khi xác nhận ba điểm này, ông đã dựa vào những sự kiện hay hay dựa vào những khả năng suy diễn của ông?”

Vị giáo sư nổi nóng lên: “Thưa luật sư, kẻ mới vào nghề, ít kinh nghiệm nhất cũng sẽ nói với ông rằng dựa vào hình dáng của những nét chữ, đó là một thứ chữ viết được sửa đổi hình dáng bằng cách viết tay trái. Điểm thứ ba đòi hỏi những hiểu biết kỹ thuật cao hơn… Chúng ta hãy cho đó là một thứ trực giác… một loại giác quan thứ sáu giúp nhà chuyên môn nhận ra được một loại chữ viết giữa nhiều loại chữ viết khác.”

“Xin cám ơn ông giáo sư.” Grahame nói một cách thản nhiên: “Chính đó là điều mà tôi muốn biết. Nói tóm lại, dựa vào tất cả những giác quan của ông, ông xác nhận với chúng tôi rằng lá thư đó được viết bởi một người sử dụng bàn tay trái để thay đổi hình dáng chữ viết của mình. Và với sự trợ lực của giác quan thứ sáu của ông, ông cho rằng tác giả của lá thư không ai khác hơn là Mathry. Tốt lắm, tôi xin cảm ơn ông, ông giáo sư.”

Vị giáo sư, rất bực tức, mở miệng toan nói, nhưng cuối cùng ông nhận thấy nên làm thinh là hơn. Trong lúc ông ta rời khỏi vành móng ngựa, Grahame quay về phía các quan tòa: “Thưa ông chánh án, với sự chấp thuận của ông, bây giờ tôi xin mời bác sĩ Dobson, bác sĩ luật y.”

Liền đó, mặc dù có cái bụng mập tròn và nặng nề, vị đại diện cho Nhà Vua đứng phắt dậy: “Thưa ông chánh án, tôi chống lại việc gọi nhân chứng này. Tòa đã chấp thuận rằng không thể có vấn đề xử lại vụ án từ đầu đến đuôi. Ông Bác sĩ luật y đã được ra làm chứng trong phiên xử trước. Không thể có vấn đề để ông ta làm chứng lại một lần nữa.”

“Trừ phi, như chính ông đã nhìn nhận, có liên hệ đến những sự kiện mới.” Grahame bình tĩnh đáp.

Bầu không khí trở nên căng thẳng, hai ý muốn đang đối đầu với nhau. Ông chánh án phá tan sự im lặng: “Có phải dựa trên nguyên tắc này mà luật sư muốn hỏi nhân chứng đó không?”

“Thưa phải, xin tòa vui lòng.”

Với bước đi nhanh nhẹn, một người đàn ông có thân hình lực sĩ, gương mặt tươi tắn và cương nghị, tiến thẳng đến vành móng ngựa, như đã quen thuộc với Tòa án.

“Thưa bác sĩ.” Grahame nói với một giọng rất khả ái: “Ông đã nghe ý kiến của bác sĩ Tuke về những vết thương của nạn nhân, ý kiến đó được góa phụ bác sĩ trình bày rất rõ ràng và ngắn gọn. Ông nghĩ thế nào?”

“Đó chỉ là một lời nói đùa!”

Câu nói khinh miệt này được kèm theo một nụ cười, và từ hành lang dành cho công chúng nổi lên vài tiếng thì thầm thích thú rồi im bặt ngay. Mathry nghiến răng nhìn những kẻ vừa thì thầm đó.

“Một lời nói đùa, thưa bác sĩ? Ông dùng chữ có vẻ hơi quá nặng.”

“Ông đòi ý kiến của tôi, thì ý kiến của tôi là thế đấy.”

Paul nín thở. Việc gọi nhân chứng này có lợi không? Vì ông ta đang tỏ ra là một tay cứng cựa. Nhưng vị luật sư trẻ vẫn ung dung tiếp tục: “Theo như tôi nhận thấy, bác sĩ không thích những lý thuyết.”

“Khi tôi thấy một người đàn bà với cổ họng bị cắt tọac và đầu gần như lìa khỏi thân mình, tôi không thấy cần phải nhờ đến phương pháp suy diễn hoàn toàn lý thuyết.”

“Tôi hiểu, và ông đã kết luận ngay tức khắc rằng vũ khí của kẻ sát nhân là một con dao cạo.”

“Tôi không hề dùng mấy chữ con dao cạo.”

“Nhưng phe buộc tội đã đưa ra một con dao cạo như là vũ khí của án mạng.”

“Điều đó ngoài thẩm quyền của tôi.”

“Vậy, những kết luận trong báo cáo của ông như thế nào?”

“Rằng những vết thương bị gây ra bởi một vũ khí rất sắc bén.” Viên y sĩ trả lời với một vẻ bực bội.

“Như vậy thì, như bác sĩ Tuke đã xác nhận, kẻ sát nhân có thể dùng một lưỡi dao bén và nhọn, một lưỡi dao giải phẫu chẳng hạn?”

“Phải.” Bác sĩ Dobson nhìn nhận một cách miễn cưỡng, tuy người ta cũng có thể đoán được bản chất ngay thật của ông: “Ít ra tôi cũng nghĩ như vậy. Với điều kiện kẻ sát nhân có vài hiểu biết về cơ thể học.”

“Có vài hiểu biết về cơ thể học.” Grahame lặp lại chầm chậm, nét mặt vẫn luôn luôn bình tĩnh: “Xin cám ơn bác sĩ… chúng tôi rất nhiệt tình cám ơn ông. Sau đó ông thực hiện cuộc giải phẫu để khám nghiệm tử thi?”

“Dĩ nhiên.”

“Ông khám phá ra rằng nạn nhân đang mang thai?”

“Tôi nêu rõ điều đó trong báo cáo của tôi rồi.”

“Ông có ghi rõ thời gian mang thai không?”

“Dĩ nhiên! Ông cho rằng tôi không biết làm việc sao?”

“Thưa bác sĩ, tôi không hề nghĩ như thế. Có thể là chúng ta khác quan điểm với nhau về một phương diện siêu hình, nhưng tôi vẫn tin chắc vào sự liêm chính hoàn toàn của ông. Cái thai đó được bao lâu?”

“Được ba tháng.”

“Ông có chắc chắn không?”

“Cũng chắc chắn như tôi đã ghi trong bản báo cáo. Có lẽ chỉ xê xích chừng một hay hai ngày thôi.”

“Bản báo cáo của ông có đến tay ông biện lý không?”

“Sao lại không?”

“Cám ơn bác sĩ. Thế là xong.” Grahame nói, và cho nhà chuyên viên về chỗ với một nụ cười dễ mến: “Thưa ông chánh án, bây giờ tôi có thể được phép mời người chứng thứ tư không ạ?”

Bước lên là một người đàn ông nhỏ thó, da nhăn, đầu hói, già trước tuổi, mặc bộ đồ bằng vải ca rô quá rộng so với thân hình ốm yếu của ông ta.

“Tên của ông là gì?”

“Harry Rocca.”

“Nghề nghiệp hiện tại của ông?”

“Trông coi chuồng ngựa ở trường đua Nottingham.”

“Cách đây mười lăm năm, chính ông đi báo cáo cho cảnh sát biết về việc Mathry tìm cách ngụy tạo cho mình một bằng chứng đang có mặt nơi khác lúc án mạng xảy ra.”

“Phải.”

“Ông biết rõ Mathry?”

“Chúng tôi thường gặp nhau.”

“Ông quen với ông ấy ở đâu?”

“Ở Sherwood… trong phòng chơi bida… vào khoảng tháng 1 năm 1921.”

“Sau đó, ông giới thiệu Mathry với cô Spurling?”

“Thưa luật sư, phải.”

“Ông có nhớ rõ cái ngày mà ông giới thiệu Mathry với cô Spurling không?”

“Rất rõ. Đó là ngày đại hội đua ngựa tháng bảy ở Catterick. Tôi nhớ rất rõ vì ngày đó tôi trúng được năm bảng với con ngựa thắng giải tên Warminster.”

“Ông vừa nói ngày hội đua ngựa tháng bảy?”

“Thưa luật sư, đó là ngày hội đua ngựa, ngày 14 tháng 7.”

“Ông có nói rõ ngày tháng đó với nhà chức trách không?”

Một sự im lặng, Rocca cúi đầu: “Tôi không còn nhớ nữa.”

“Cái ngày và cái tháng đó, chúng có một tầm quan trọng rất lớn. Nó chứng tỏ rằng Mathry chỉ quen cô Spurling mới được có một tháng rưỡi. Người ta không hỏi ông câu hỏi đó lúc lấy lời khai ở Sở cảnh sát sao?”

“Tôi không biết…”

“Ông hãy cố nhớ lại xem.”

“Không, tôi quên mất rồi.” Rocca bướng bỉnh nói: “Cảnh sát đã không quan tâm đến điều đó… Cảnh sát cho điều đó không quan trọng gì.”

“Tôi hiểu. Không quan trọng gì vì nó sẽ chứng minh rằng việc gán cho Mathry là tác giả cái bào thai trong bụng nạn nhân - mắt xích trọng yếu của sự buộc tội - là điều không thể nào đứng vững được. Tốt lắm, tôi cám ơn ông. Thưa ông chánh án, nhân chứng kế tiếp là cô Louisa Burt.”

Được phép của tòa, thừa phát lại bước qua căn phòng nhỏ ở phía trước và liền trở ra với Louisa. Cô ta bước đi với một vẻ khá thản nhiên. Đến trước vành móng ngựa, cô ta liếc nhìn chung quanh với một điệu bộ kiêu kỳ. Cô ta không trông thấy Paul, cũng chẳng thèm để ý đến Mathry. Riêng Mathry khi trông thấy cô ta, đôi mắt ông lóe lên một ánh căm hờn.

“Cô là Louisa Burt?” Luật sư hỏi một cách lịch sự sau khi cô ta đã tuyên thệ.

“Thưa luật sư, phải. Hay ít nhất, lúc trước tôi là Louisa Burt, như chắc luật sư đã biết, tôi vừa mới kết hôn.”

“Xin cô cho phép tôi được chúc mừng cô, chúng tôi rất cảm ơn cô đã vui lòng ra hầu tòa và nhất là khi cô đang chuẩn bị tuần trăng mật.”

“Tôi thú thật rằng tôi hết sức ngạc nhiên khi nhận được trát gọi hầu tòa ngay lúc tôi lên tàu. Nhưng, thưa thật sự, tôi rất mong giúp được công lý.”

“Cám ơn cô. Tôi chắc chắn rằng không phải không có lý do mà chúng tôi đã làm phiền cô. Hẳn cô biết rõ sự quan trọng của lời chứng của cô trong vụ xử án Mathry, cách đây mười lăm năm. Chính lời khai của cô đã khiến cho tòa kết án được bị cáo.”

“Thưa luật sư, tôi đã cố gắng hết sức mình.” Burt trả lời một cách khiêm tốn: “Tôi không thể nói gì hơn.”

“Đêm xảy ra án mạng, theo tôi biết, trời rất tối và có mưa.”

“Phải, tôi nhớ rất rõ như mới ngày hôm qua.”

“Và người trốn ra khỏi căn nhà số 52, Ushaw Terrace đã chạy rất nhanh?”

“Thưa luật sư, phải.”

“Nhanh đến nỗi cô chỉ kịp thoáng thấy hắn?”

“Đúng vậy.”

“Và mặc dầu vậy, cô vẫn có thể mô tả hình dáng của hắn một cách rất chính xác và rất rõ ràng. Cô khai rằng hắn mặc một chiếc áo ngoài màu sẫm, đội một cái nón kết có sọc ca rô và mang một đôi giày màu vàng. Bằng cách nào chỉ trong một thoáng và trong bóng tối, mà cô lại có thể nhận thấy hết những chi tiết đó.”

“Thưa luật sư, rất dễ dàng.” Burt nói với một vẻ tự tin: “Hắn đã chạy ngang qua ánh sáng của một ngọn đèn đường.”

“Lúc 7 giờ 35 phút?”

“Thưa luật sư, phải. Đúng là giờ đó. Tôi đã đi ra khỏi tiệm giặt ủi với người bạn lúc 7 giờ 30 phút và chỉ đi bộ không đầy 10 phút là đến nhà số 52, Ushaw Terrace.”

“Chắc chắn là đúng giờ đó?”

“Thưa luật sư tôi có thể thề quyết điều đó. Hơn nữa, chính tôi đã thề rồi.”

“Trong trường hợp này làm sao cô có thể quan sát được kẻ trốn chạy dưới ánh sáng của những ngọn đèn đường. Trong khu phố Eldon, theo một quy định của Tòa thị chính được áp dụng năm 1921, người ta chỉ thắp đèn đường kể từ 8 giờ tối.”

Lần đầu tiên, Burt đứng lặng thinh, không trả lời được. Cô ta đưa mắt lén nhìn Dale, nhưng ông này quay mắt chỗ khác. Cuối cùng cô ta nói: “Tôi nhớ hình như là đèn đường đã thắp sáng rồi. Tất cả đều đã xảy ra quá nhanh…”

“Vì sao sự mô tả hình dạng này hoàn toàn khác hẳn với lời khai ở đồn cảnh sát?”

Burt cúi đầu không trả lời một tiếng nào.

“Phải chăng cô đã nhận một vài… lời khuyên của một giới có thẩm quyền?”

“Tôi phản đối, thưa ông chánh án.” Ông chưởng lý đứng phắt dậy nói: “Không thể chấp nhận được câu hỏi xuyên tạc này.”

“Chúng ta đừng nói đến điều đó nữa.” Grahame ngắt lời, vẻ hoà giải: “Nếu tôi không lầm, cô đã nói là kẻ trốn chạy không có râu?”

“Phải.” Burt đáp sau một lúc suy nghĩ.

“Cô đã nói điều đó ngay từ đầu, và điều đó đã được đăng trên báo chí. Cô không thể rút lại lời nói đó, trừ phi cô tự làm mình mất uy tín hoàn toàn. Thế nhưng Mathry, người bị cô nhận diện ở Liverpool, đã để râu được sáu năm rồi.”

“Tôi không biết. Suy nghĩ kỹ, tôi nhớ lại hình như kẻ đó có râu. Tôi đã cố làm hết sức tôi, tôi xin lặp lại với luật sư như thế.”

“Tôi tin là cô đã làm hết sức mình.” Luật sư dịu dàng đáp: “Và điều đó càng lúc càng trở nên hiển nhiên hơn. Nhưng chúng ta hãy bỏ đi những chi tiết về ngọn đèn không thắp sáng, về bộ râu, về quần áo, để nói đến một vấn đề còn đáng ngạc nhiên hơn nữa.”

Vẻ tự tin vững chắc của Louisa đã biến mất. Cô ta uổng công tìm kiếm sự khuyến khích thầm lặng nào đó của Sprott hay của Dale, cả hai đều tránh ánh mắt của cô. Thình lình cô ta trông thấy Paul và rùng mình. Đôi mắt cô ta mở to và gương mặt trở nên tái nhợt. Grahame nói tiếp: “Đấy là chuyện giao thiệp giữa cô với Edward Collins. Theo tôi biết, cô và anh ta rất thân nhau, phải không?”

Burt bật lên khóc nức nở. Hai bàn tay cô bấu chặt vào vành móng ngựa, rên rỉ: “Tôi cảm thấy không được khỏe, tôi không thể tiếp tục được nữa. Sự xúc động, tuần trăng mật… tôi chỉ là một người vợ quá trẻ…”

Ông chánh án cau mày, chặn đứng tiếng cười chế nhạo xuất phát từ công chúng, chứng tỏ công chúng đang say mê theo dõi phiên xử.

“Có phải cô bệnh không?” Ông hỏi.

“Thưa ông chánh án, phải. Tôi cần nghỉ ngơi.”

“Với sự cho phép của tòa,” Graham nói với một vẻ hòa dịu, “tôi sẵn lòng chấp nhận cho nhân chứng được nghỉ ngơi. Nhưng tôi sẽ mời nhân chứng trở lại vành móng ngựa để nói về một vấn đề khác còn quan trọng hơn nữa.”

Sau khi hội ý nhau, các quan tòa chấp thuận. Ông chánh án nhìn chiếc đồng hồ treo chỉ đúng 4 giờ kém 5. Bằng một giọng khô khan, ông báo cho công chúng biết phiên tòa tạm ngưng đến sáng hôm sau.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.