Thanh gươm công lý

Lượt đọc: 143 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
X

❊ ❊ ❊

Dunn, con người có đôi mắt đượm vẻ chán nản, mệt mỏi và những ngón tay bị gặm nhấm này là một sản phẩm của Wortley và của sự di truyền khá kì lạ. Tên của ông là Luther Aloysius Dunn, cái tên mà ông cố giấu như người ta cố giấu một tội ác: ông là kết quả của cuộc hôn nhân giữa hai kẻ bất đồng quan điểm về tôn giáo. Cuộc sống chung thay vì đem đến sự nhân nhượng và cảm thông lẫn nhau thì nó lại chỉ đem đến toàn những bất hạnh. Mẹ theo đạo Calvin[1], và cha theo Thiên Chúa giáo La Mã. Hai người luôn luôn cãi cọ nhau. Cậu bé, bị giằng xé bởi hai giáo thuyết, đã đau khổ rất nhiều. Sau này khi lớn lên, anh tâm sự với các bạn thân rằng anh đã được rửa tội đến hai lần và anh thù ghét tôn giáo nào có một hệ thống tổ chức chặt chẽ.

Khi cậu mười bốn tuổi, cha cậu qua đời vì một tai nạn giao thông. Một buổi sáng khi ăn điểm tâm xong, ông ra khỏi nhà, sau khi chửi bới thậm tệ ông John Knox[2] và giáo lý của ông này; vài giờ sau, xác ông được đưa về nhà trên một chiếc cáng. Một sự trả thù đích đáng! Nhưng người goá phụ, sau cơn khủng hoảng, đã nhận thấy, quá trễ, tình yêu lớn lao của bà đối với chồng, và điều này đã làm bà thay đổi hẳn: bà gởi cậu vào trường trung học của các cha Dòng Tên ở Hassock Hill.

Các linh mục ở đấy đối xử với cậu rất thận trọng. Khi nhận cậu vào học, cha giám học liền khuyến cáo ngay các đồng nghiệp của mình rằng hãy để cho cậu bé được hoàn toàn tự do về tinh thần. Một phương pháp giáo dục tuyệt diệu có thể thành công mỹ mãn nếu trước đó cậu bé đã không bị khủng hoảng tinh thần trong thời thơ ấu. Cậu bé được tự do theo dõi những trận đấu bóng đá diễn ra khắp nơi trong thành phố, hoặc chen vào một phòng bida - gương mặt tròn, mơ màng, trong bầu không khí ngập khói thuốc - để nhìn hằng giờ những hòn bi lăn trên tấm thảm xanh. Cậu thích mọi môn thể thao nhưng không chơi một môn nào. Cậu biết rành rẽ những thành tích và kỷ lục ở tất cả các bộ môn thể thao. Có khiếu kể chuyện, cậu được cha Marchant, giáo sư văn chương, khuyến khích viết những bài tường thuật ngắn trong tờ tạo chí thể thao của nhà trường. Sau khi tốt nghiệp vào năm 18 tuổi, nhờ sự giới thiệu của cha giám học, cậu được nhận vào làm trong tòa soạn nhật báo Wortley Chronicle, có số xuất bản có giới hạn, nhưng độc lập và uy tín rộng rãi.

Vài năm lặng lẽ trôi qua, không có sự kiện nào nổi bật. Dunn được giao chạy những việc vặt bên ngoài và cắt, dán tin, lâu lâu viết một bài tường thuật một trận đấu thể thao không quan trọng ở địa phương. Anh giữ rất kỹ trong tủ của mình bài báo đầu tiên đăng trên tờ Wortley Chronicle, dài đúng một cột.

Sau đó anh được giao các nhiệm vụ khá hơn, được phái đi làm phóng viên các trận đấu bóng nước, các trận đấu quyền Anh ở võ đài Blakely. Ở tòa soạn người ta ngầm biết anh là một phóng viên giỏi, có các nhận xét chính xác và có tài mô tả. Một ngày đầu tháng giêng - lúc hai mươi lăm tuổi - anh bất ngờ được giao nhiệm vụ viết một thiên phóng sự về cuộc tranh tài thể thao quan trọng nhất trong vùng, một trận bóng đá của đội hạng nhất hàng năm lôi cuốn một số lớn khán giả cuồng nhiệt và làm xôn xao hai phần ba dân chúng trong thành phố. Từ khán đài dành riêng cho báo chí, Dunn viết một mạch một bài báo dài hai cột, và ngày hôm sau, đem trao cho chủ nhiệm.

Buổi xế chiều, chủ nhiệm James Mc Evoy bước ra khỏi văn phòng, tay cầm bài báo. Mc Evoy không bao giờ “cho gọi” các cộng tác viên của ông vào văn phòng. Ông đi thẳng lại cái bàn nhỏ của Dunn.

“Thế này là thế nào?” Vừa nói ông vừa cầm chiếc kính cận gõ gõ vào tờ giấy: “Tôi bảo anh viết bài tường thuật về trận bóng đá, mà anh lại kể chuyện một trung phong bị đá vào đầu. Sau đó anh mô tả cơn cuồng nộ của ba mươi ngàn khán giả nhào ra sân cỏ giẫm nát đội cầu thủ chơi xấu. Những tiếng la hét, những lời sỉ nhục, cuộc ấu đả, những vỏ chai ném vào cầu thủ, trọng tài bị thương ở má… nói tóm lại anh đã vẽ bức tranh một trận đánh giữa những bộ lạc sơ khai sống trong rừng, một cảnh xâu xé nhau vì kỳ thị chủng tộc và tôn giáo có thể làm một người Eskimo đỏ mặt vì xấu hổ[3].”

“Tôi rất tiếc, những điều đó đều tự động xuất phát từ máy đánh chữ.” Dunn thản nhiên trả lời.

Nơi Dunn có một mâu thuẫn kỳ lạ làm Mc Evoy phải suy nghĩ. Cậu thanh niên to con vụng về ít nói này, khi viết văn lại gầm thét như sư tử và nồng nhiệt như một hỏa diệm sơn phun lửa. Cậu có giọng văn truyền cảm, lôi cuốn và làm độc giả xúc động sâu xa.

Mc Evoy đứng lên: “Đây là bài phóng sự tệ nhất trong năm. Nó sẽ được đăng trên trang đầu của số báo ngày mai.”

Trước vẻ kinh ngạc của Dunn, ông nói thêm: “Thứ bảy mời anh đến nhà ăn bữa tối với tôi.”

Kể từ đó, Luther Aloysius Dunn từ giã giới thể thao để bước vào sự nghiệp thật sự của anh. Đầu tiên, Mc Evoy giao cho anh viết những bài phóng sự về các phiên tòa tiểu hình đầy những sự kiện cảm động, rất thích hợp với ngòi bút của Dunn. Sau đó anh được gởi đi khắp nơi để viết những thiên phóng sự điều tra và những bài xã luận. Ông chủ bút tìm cho anh một bút hiệu thật hay: “Kẻ Tà Đạo”, một biệt hiệu rất thích hợp với người mang cái tên Luther Aloysius[4]. Những bài báo viết dưới bút hiệu đó đã lôi cuốn sự chú ý của mọi người, nhưng đồng thời cũng làm tờ báo bị lôi ra tòa trong hai vụ kiện vì tội phỉ báng, và đã thắng cả hai. Số phát hành tờ Wortley Chronicle gia tăng cùng một nhịp với tình bạn giữa “Kẻ Tà Đạo” và Mc Evoy. Rồi mối tình giữa cô em gái Eva xinh đẹp của Mc Evoy với Dunn, càng làm cho tình bạn nói trên thêm khắng khít. Vào năm 1929, Dunn kết hôn với nàng Eva.

Cuộc hôn phối này đã mang lại cho chàng niềm hạnh phúc và hai cô con gái mà chàng rất mực yêu thuơng. Cặp vợ chồng này đuợc họ đạo Saint Joseph tuyên duơng như một cặp vợ chồng gương mẫu.

Dunn không phải là một người sùng đạo, nhưng nơi chàng vẫn còn chút ảnh hưởng tôn giáo thời thơ ấu. Chàng coi thường thành tích bên ngoài và chỉ quý trọng giá trị thật sự bên trong. Châm ngôn của chàng là: “Sống và để cho kẻ khác được sống”. Chàng không bao giờ từ chối một hành động nghĩa hiệp và luôn luôn sẵn sàng bênh vực kẻ bị đàn áp bất công.

Bản chất đa cảm này là nhược điểm lớn nhất của Dunn. Đã bốn mươi tuổi rồi mà vẫn còn nhạy cảm như một thiếu niên mười lăm. Dunn không chấp nhận người ta xem mình như một “nhà cải cách” mang một sứ mệnh “tinh thần” mà chỉ muốn làm một ký giả thuần túy lo chu toàn bổn phận của nghề nghiệp thôi. Và với mục đích đó, ông cố tạo cho mình cái vẻ thản nhiên “bất cần đời” vẫn thường được xem như một đặc điểm riêng của nghề nghiệp. Nhưng đó chỉ là phần lộ bên ngoài, có lẽ chỉ đánh lừa được chính người mang nó mà thôi. Dưới lớp vỏ sần sùi ấy là những đường vân dịu dàng mà con người tốt đẹp đó không nhận ra. Như con ốc thu mình trong vỏ, ông những tưởng có được sự an toàn tuyệt đối.

Chúng ta đã biết Dunn quen với Lena trong trường hợp nào. Sau đó ông thường gặp nàng; trên đường đến văn phòng ở đường Arden, Dunn hay ghé vào cửa hàng Bonanza uống cà phê và ăn bánh. Và khi Lena đến tìm ông tại nhà, buổi tối ngày Paul bị bắt. Trước vẻ lo sợ của nàng, Dunn đã chăm chú lắng nghe nàng trình bày câu chuyện. Ngày hôm nay đi theo Lena đến dự phiên tòa xử Paul, ông vẫn còn nghĩ rằng ông đã tốn thì giờ làm một công việc tầm phào. Nhưng những điều nghe thấy trong phiên xử đã làm ông thay đổi ý kiến. Rồi ông còn đuợc nghe cả câu chuyện xác thực, đầy thương tâm do chính Paul thuật lại từ đầu đến cuối.

Nguyên tắc của ông là không bao giờ kết luận ngay. Nhưng trong trường hợp này các trực giác của ông cho biết rằng ông vừa tìm ra một đề tài phóng sự đặc biệt phong phú và hấp dẫn. Dunn là một người rất ít nói và thân hình to lớn càng làm gia tăng vẻ chậm chạp, lừ đừ; nhưng tối hôm ấy ông nhanh nhẹn bước từng bước dài trở về nhà như một thanh niên, và không tiết lộ một điều gì với Mc Evoy. Suốt tám ngày liền, không ai thấy ông ở tòa soạn. Rồi, vào khoảng mười một giờ đêm thứ năm tuần lễ tiếp theo, Dunn âm thầm đến văn phòng của mình và đóng kín cửa lại. Ông có vẻ mệt mỏi, mình mẩy dính đầy bụi than nhưng sự buồn chán đã biến mất trong đôi mắt sáng rực. Ông chỉ mặc áo sơ mi hở cổ để ngồi vào bàn làm việc. Sau vài phút suy nghĩ, Dunn kéo máy đánh chữ đến gần và lập tức say sưa gõ liên hồi:

“Trong xà lim lạnh lẽo của những tử tội ở nhà ngục Stoneheath, một kẻ vô tội đang chờ bị đem đi hành quyết. Anh ta nghe những tiếng búa ngoài sân ngục vang vọng đến tai mình: người ta đang dựng đài hành quyết. Trong vài giờ nữa, sẽ có người đến trói hai tay anh ra sau lưng và dẫn anh đi trong buổi bình minh xám xịt. Đến duới cây cột xử tội, người ta sẽ tròng sợi dây thòng lọng vào cổ anh…”

Chín giờ sáng hôm sau, Dunn thức dậy trên chiếc tràng kỷ sau một giấc ngủ vài tiếng đồng hồ. Với đôi mắt đỏ ngầu, bộ râu không cạo, ông đem bản thảo của mình đến trao cho Mc Evoy: “Đây là bài báo đầu trong loạt bài của ”Kẻ tà đạo“, và một bản tóm lược nội dung của chín bài kế tiếp. Anh hãy đọc đi. Bây giờ tôi đi ăn sáng.”

Lúc Dunn trở về, ông thấy nguời chủ bút đang mải mê đọc. Mc Evoy là một người nhỏ con, tóc nâu rẽ đường ngôi chính giữa và hai bên thái dương đã trổ màu hoa râm, mang kính cận và mặc một chiếc áo gilet có đường viền trắng. “Ông chủ” lúc nào cũng làm ra vẻ lạnh lùng, nhưng hôm đó Dunn cảm thấy ông ta xúc động và đang ráng che giấu sự kinh ngạc của mình: “Ông đã câu được chuyện này ở đâu?”

“Không phải tôi.”

“Vậy thì ai?”

“Con trai của Mathry. Chính cậu ta cung cấp cho tôi những tài liệu này.”

“Hiện nay cậu ta ở đâu?”

“Đang được tự do tạm có đóng tiền bảo lãnh và hiện bị bệnh nặng.”

“Ông chắc chắn câu chuyện này đúng sự thật chớ?”

“Một trăm phần trăm. Tôi đã kiểm chứng lại rồi.”

Mc Evoy đưa tay gãi cằm. Ông ta rất chú ý đến vụ này nhưng hình như còn ngần ngại: “Mình có thể cho đăng chuyện này không?”

“Tùy anh thôi.” Dunn nhún vai trả lời.

“Ông có thấy chuyện này sẽ gây một ảnh hưởng thế nào không? Đăng chuyện này lên có nghĩa là mình khai chiến với toàn bộ guồng máy tư pháp, trong đó có cả ông Tổng trưởng. Còn M.O. là ai? Không được đâu, ông bạn. Chắc chắn chúng ta sẽ bị lôi ra tòa.”

"Chúng ta không thể nào làm khác được. Anh đã thấy cách tôi trình bày sự việc như thế nào chứ? Không chỉ đích danh ai. Chúng ta chỉ nói đến một M.O. hay một M.X. nào đó. Và chúng ta chờ đợi. Đây là một vụ rất quan trọng, vụ quan trọng nhất mà tờ báo của chúng ta đã phanh phui ra trước dư luận từ xưa đến nay anh hãy nghĩ đến điều này… kẻ khốn khó đó… mười lăm năm trong nấm mồ Stoneheath… và vô tội.

“Có lẽ… dầu… sao… anh ta cũng… cũng có tội?”

Sự xúc động đã làm cho Mc Evoy, con người tuyệt đối chính xác và bình tĩnh, phải nói cà lăm.

“Không. Tôi thề rằng anh ta vô tội.”

“Họ sẽ không chịu nhìn nhận điều đó đâu.”

“Chúng ta sẽ làm cho họ phải nhìn nhận.” Dunn đi tới đi lui trong văn phòng: “Sẽ cho họ thấy sức mạnh vô địch của dư luận quần chúng. Tôi sẽ đuổi theo tới tận hang ổ cuối cùng của họ, lôi họ ra, bắt họ xét lại vụ án. Chúng ta sẽ buộc họ giở lại hồ sơ vụ án này và mở lại cuộc điều tra. Từ nhiều tháng nay, chàng thanh niên Mathry đã gõ cửa mà họ không chịu mở. Vì sao? Vì họ biết họ đã phạm một lỗi lầm tư pháp và họ lẩn tránh đàng sau một cánh cửa đóng kín. Sao chúng ta lại để bị áp bức bởi một đám chức quyền dơ bẩn? Trước sự bất công, nếu chúng ta thu mình vào trong vỏ ốc, nếu chúng ta từ bỏ quyền tự do ngôn luận thì chúng ta sẽ chết. Sâu bọ sẽ gặm nhấm hình hài của chúng ta. Anh hãy nghĩ đến số phận suýt xảy đến cho con trai của Mathry. Chỉ một cái búng tay là cậu bé đáng thương ấy sẽ vào tù mãn đời. Tại sao? Tại vì họ đã sắp xếp mọi phương tiện để bịt mồm cậu ấy.”

“Đuợc rồi, được rồi.” Mc Evoy bực mình đáp: “Tôi sẽ không bắt ông phải đọc thuộc lòng mười bài báo cho tôi nghe. Tôi sẽ đăng hết, dầu điều đó có làm cho chúng ta phải sạt nghiệp. Và cũng có thể lắm!”

Ông nhấn nút chuông.

Dunn trở về bàn làm việc của mình, mặc áo veston, khoác áo choàng và đội nón. Ở tầng dưới, những chiếc máy in bắt đầu bài ca rầm rì nhức óc làm rung chuyển cả khu nhà. Dunn đưa tay sờ cằm lởm chởm râu; ông phải đi hớt tóc. Ông cũng cảm thấy khát nước. Đôi mắt ông sáng lên: ông sẽ đến quán Hannigan uống một ly rượu.

❀ ❀ ❀

[1] Đạo Calvin là giáo thuyết Thiên Chúa của nhà cải cách đạo Thệ phản John Calvin (1509-1564), đối lập mạnh mẽ với giáo hội Thiên Chúa giáo La Mã.

[2] John Knox sinh khoảng 1510 mất 1572, là người lãnh đạo cuộc cãi cách đạo Thệ phản ở Scotland chống Thiên chúa giáo La Mã, chịu ảnh hưởng của Calvin.

[3] Người Eskimo bản chất hiền hòa, không bao giờ đánh nhau.

[4] Luther Aloysius: Tên ghép từ tên của Martin Luther và Aloysisus Gonzaga. Martin Luther (1483 – 1546) là nguời Đức lãnh đạo phong trào cải cách đạo Thiên Chúa, khai sinh ra đạo Thệ phản tách rời Thiên Chúa giáo La Mã. Tòa thánh Vatican gọi ông là tà đạo. Aloysisus Gonzaga (1568 – 1591) thuộc Dòng Tên, là cha linh hướng của Hội thanh niên Thiên Chúa giáo (Y.M.C.A). Khi Mc Evoy đặt cho Dunn bút hiệu “Kẻ tà đạo”, có lẽ ông muốn nhấn mạnh một cách ý nhị quan điểm tôn giáo của mẹ Dunn.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.