“Anh làm gì ở đây?”
Paul lạnh toát cả người. Trong một thoáng chàng đã toan bỏ chạy. Khó khăn lắm chàng mới tự kiềm chế được: “Tôi muốn gặp một người trong ngôi nhà này.”
“Đi thăm viếng gì mà lại núp trong bụi rậm?”
“Tôi không núp.”
“Tôi đã thấy hết. Tôi theo dõi anh từ lúc anh mới đến đây. Tôi coi đó là hành động rình mò với ý định bất chính.”
“Không!” Paul phản kháng: “Xin ông hãy nghe tôi, tôi sẽ giải thích cho ông nghe đầy đủ sự việc.”
“Về bót mà nói chuyện với ông trung sĩ.” Người kia ngắt lời “Nào! Hãy đi theo tôi và đừng có gây chuyện.”
Paul trừng mắt nhìn cái hình ảnh mặc đồng phục nọ. Trong tất cả những điều không may có thể xảy đến, đây hẳn là điều xấu nhất, nhưng không có còn cách nào hơn là phải chấp nhận. Chàng lặng lẽ bước theo người cảnh sát.
Họ đi rất lâu, dọc theo các con đường náo nhiệt, sáng rực ánh đèn, tiến về phía trung tâm thành phố, Paul thấy rõ người ta không đưa chàng về bót của khu phố. Sau cùng chàng phải vượt qua một chiếc cổng cái có đèn màu xanh, đến trụ sở cảnh sát Wortley.
Đó là một căn phòng nhỏ, chói lòa ánh điện. Cái cửa sổ duy nhất bị bịt kín bằng một tấm lưới sắt. Trong số hai cửa lớn, một cái cũng bị tấm lưới sắt bịt kín ở phần trên. Ghế dài đặt dọc theo hai vách tường. Đứng sau cái bàn cao, một trung sĩ mặt đỏ gay, cổ áo mở rộng, đang nắn nót từng chữ vào quyển sổ biên bản, trên đó có tên anh, Jupp, được viết bằng chữ in hoa lớn. Dưới bóng đèn có chụp, ánh sáng chiếu lên bộ tóc lưa thưa vuốt dầu bóng láng, trông anh ta như một chủ quán vùng quê. Anh ta để Paul chờ đến năm phút sau khi anh thỏa mãn gạch đường vạch cuối cùng nơi chữ T rồi mới lật trang giấy và ngẩng đầu lên: “Thế nào? Chuyện gì đây?”
Anh ta kỹ lưỡng ghi vào sổ những báo cáo của thuộc cấp, trong lúc bàn tay kia đưa lên vê xoắn hàng râu mép bóng loáng và mắt thỉnh thoảng liếc nhìn Paul. Viết xong, anh ta đưa cán bút chỉ về phía chiếc băng: “Anh đến kia ngồi đợi. Ông sếp sẽ nói chuyện với anh.”
Paul vâng lời. Bây giờ chàng thấy rõ chàng bị bắt về đây không phải là chuyện tình cờ. Có một lý do quan trọng hơn khiến người ta cần sự có mặt của chàng ở đây. Nửa tiếng đồng hồ trôi qua. Trong khoảng thời gian này, cảnh sát bắt đem về hai thủy thủ say rượu, quần áo dơ bẩn như đã lăn mình trong khắp các cống rãnh của thành phố, và một người đàn bà trét đầy son phấn, nét mặt đanh lại, đầu đội chiếc nón đung đưa một cọng lông chim gãy trông rất thảm hại, - một ả giang hồ chuyên nghiệp bị bắt quả tang, - cả ba người đều biến mất ở đằng sau cánh cửa lớn bịt lưới sắt phía bên trái. Một mùi mốc hăng hắc tạt vào căn phòng, lấn át cả mùi thuốc tẩy trùng - mùi của những thân thể thiếu tắm rửa.
Sau cùng người trung sĩ ra dấu cho Paul đứng dậy, đi theo anh ta. Hết một dãy hành lang, họ bước qua một cánh cửa lớn dồn bông, vào một căn phòng sang trọng bầy một cái bàn lớn bằng gỗ quý, những chiếc ghế bành bằng da và một tủ kính chứa nhiều chiếc cúp bạc và các phần thưởng thể thao. Trên tường treo la liệt những khuôn hình lồng kính của những ê-kíp điền kinh hay những đội banh cảnh sát, và một bộ sưu tập những chiếc “gậy” cổ xưa rất lạ. Sàn nhà được lót một tấm thảm đỏ dày.
Không màng để ý đến cách bày biện khá tươi đẹp của văn phòng, Paul chăm chú nhìn người đàn ông đang ngồi đằng sau chiếc bàn. Chàng nhận ngay ra người ấy nhờ đã được xem hình của ông ta? Ủy viên Cảnh sát trung ương thành phố Wortley - Adam Dale.
“Ngồi xuống đi cậu bé. Chiếc ghế bành này rất êm.”
Ông ta năm mươi lăm tuổi, và đang ở trong thời kỳ sung sức nhất với một thân hình đồ sộ, cần cổ to lớn và đôi cánh tay cuồn cuộn bắp thịt. Không có một chút mỡ thừa nào. Tất cả đều là xương và bắp thịt, những đường nét như là vạch trong đá, khiến người ta phải gờm. Cái trán khá sáng sủa và không thiếu thông minh, nhưng chiếc cằm không thể nào quên được, có vẻ như thách thức cả thế giới. Đôi mắt màu xám, lạnh như băng.
Dale khởi đầu bằng một giọng bình tĩnh, gần như dửng dưng: “Trong thời gian gần đây, tôi có ý muốn được gặp cậu, nhân dịp này tôi mời cậu về đây, chắc thế nào cũng còn hơn lần khác.”
Paul chuẩn bị sẵn sàng chống đỡ cuộc tấn công: “Tôi không làm việc gì bậy cả.”
“Tôi mong là như thế. Điều này chúng ta sẽ bàn đến sau. Trước hết xin báo cho cậu hay, tôi biết cậu là ai và là người thế nào. Wortley, đối với cậu, có vẻ là một thành phố lớn nhưng đối với tôi, nó chỉ là một cái làng nhỏ. Ở đây không có việc gì lọt qua được mắt tôi. Đó là nghề nghiệp mà cậu. Ngay từ lúc cậu mới tới, tôi đã nhận được những báo cáo về cậu rồi.”
Ông ta lấy một bức điện tín đặt lên bàn: “Lời kêu gọi của thân nhân cậu ở Belfast. Họ yêu cầu chúng tôi tìm và bảo vệ cậu. Tôi biết nơi cậu ở, nơi cậu làm việc và tất cả những việc cậu đã làm.”
Ông ta xoay đi xoay lại một cây thước bằng nhựa cứng trong hai bàn tay mà hồi còn trai trẻ đã bao phen quật ngã các địch thủ trong những lần tranh giải vô địch đô vật.
“Cậu hay nghe đây. Tôi biết cậu đang nghĩ gì về tôi. Cậu đang thù ghét tôi. Tôi là kẻ tàn bạo đã làm cho cha cậu bị án tù chung thân và suýt nữa đã đưa ông ấy đến cột treo cổ. Đó là quan điểm của riêng cậu, nhưng cậu thử đúng vào địa vị của tôi xem. Tôi chỉ thi hành nhiệm vụ mà thôi. Trước sự thật hiển nhiên, tôi không thể có lựa chọn nào khác. Cha cậu chỉ là một trong vô số những kẻ mà pháp luật đẩy vào tay tôi. Thật ra tôi đã quên mất ông ấy. Tôi chỉ nhớ lại vụ án Mathry khi cậu xuất hiện tại thành phố này.”
Dale ngưng nói, đưa đôi mắt khắc nghiệt nhìn Paul: “Tôi được đặt vào chức vụ này là để bảo vệ xã hội. Xã hội gồm có hai hạng người: người lương thiện và kẻ bất lương. Cậu hiểu chứ? Rõ ràng không? Bây giờ, tôi xin hỏi cậu một câu: Cậu đứng về bên nào? Cậu hãy tự hỏi mình đi? Nếu cậu chống lại luật pháp và trật tự, cậu sẽ rước lấy họa vào thân. Cậu hãy nhìn lại hoàn cảnh hiện tại của cậu. Cảnh sát đã thấy cậu trong vườn của một tư gia, giữa đêm tối, mà chủ nhà hoàn toàn không hay biết. Một lần như vậy nữa cậu sẽ bị bắt giam. Hôm nay tôi không làm biên bản. Ở đây chúng tôi áp dụng một nguyên tắc tuyệt diệu. Chúng tôi cho rằng ngừa bệnh hơn trị bệnh. Hôm nay chỉ cảnh cáo thôi, và vạch ra cho cậu thấy hậu quả sẽ ra sao nếu cậu tiếp tục đi theo con đường này.”
Căn phòng im lặng như tờ. Tâm trạng căng thẳng, Paul không thốt được lời nào. Trong một lúc, chàng toan nói hết lòng mình, giải thích thái độ của mình. Nhưng dường như có một linh cảm nào đã ngăn chàng mở miệng.
“Tôi không bảo cậu phải làm thế này thế kia”, Dale nói tiếp với một vẻ thành thật không ai có thể nghi ngờ được, “nhưng tôi thấy tốt hơn hết cậu nên trở về nhà với mẹ cậu. Một địa vị danh giá, theo tôi biết một cô gái nết na đang chờ cậu ở Belfast. Cậu đừng đi vào con đường xấu. Cậu hiểu tôi chứ? Tôi cũng có con cái và tôi hiểu. Tôi sẽ không vui nếu thấy cậu gặp lôi thôi. Bây giờ cậu có thể rời khỏi nơi đây. Nếu khôn ngoan cậu sẽ không bao giờ trở lại nữa.”
Ông vắn tắt nhưng thân thiết từ giã Paul. Không một lời, chàng tuổi trẻ đứng dậy bước ra, đi theo hành lang, suôn sẻ vượt qua căn phòng ngoài, ra đến đường phố mát mẻ. Chàng được tự do. Lau mồ hôi trán, Paul vội vã đi cho xa. Viên chức đó đã nói với tất cả sự thành thật, điều này không thể chối cãi được. Tuy nhiên, giữa những ý tưởng quay cuồng trong tâm trí, Paul nghe tiếng gầm thét của một cơn phẫn nộ đang dâng trào. Chàng đã không có một hành vi nào đáng bị quở phạt. Trong một xứ trọng tự do, không ai có quyền được bắt người khác làm theo ý mình.
Chàng sẽ không phục tùng những đòi hỏi của Dale. Hơn nữa, sự gây áp lực này và hoàn cảnh diễn biến vừa qua càng làm chàng thêm quyết tâm hành động, quyết tâm thực hiện chương trình được suy tính từ mấy ngày nay. Paul tự bảo: Mình phải gặp Swann ngay, trễ giờ rồi cũng phải gặp. Ông ấy thường khuyên mình nên thận trọng, đừng quá hấp tấp. Đúng, nhưng ông ấy đâu biết được những gì sẽ xảy đến với mình… Nếu mình bị sa lầy ở đây, tại Worley này… Không, mình phải hành động, phải làm một cái gì. Hơn nữa chính ông ấy cũng khuyên mình nên kêu gọi đến các nhà chức trách cao cấp.
Chẳng bao lâu chàng đã đến trước bệnh viện. Paul ngỏ lời với ông già gác cổng. Nhưng, sau khi xem kỹ quyển sổ của mình, ông già đưa tay đẩy cặp kính lên trán, lắc đầu: “Swann… James Swann. Tôi rất tiếc. Ông ấy đã ra đi… vĩnh viễn ra đi… hồi xế trưa nay. Ông ấy không phải chịu đau đớn gì.”
Đêm đó Paul thức rất khuya. Chàng thảo một lá thư gửi đến điện Westminster[1] ở Luân Đôn và đem bỏ ngay vào thùng thư.
❀ ❀ ❀
[1] Westminster: trụ sở quốc hội Anh.