Ra khỏi nhà viên biện lý, Paul lặng lẽ đi bộ rất lâu trên những con đường vắng lặng. Đêm lạnh và trong, gió thổi như cắt da báo hiệu cơn giá đến. Trong sự suy nhược sau phản ứng vừa qua, chàng chỉ còn mỗi một ý nghĩ. Vừa đặt chân lên chiếc cầu trên con kênh, Paul nấc lên như được giải thoát, rút khẩu súng lục trong túi ra và ném nó xuống nước. Nước văng tung tóe, Paul đưa mắt nhìn theo những vòng tròn sẫm màu lan dưới ánh trăng. Tháp chuông nhà thờ điểm mười một giờ.
Tiếng chuông đưa Paul trở về thực tại. Bỗng nhiên giữa những ý tưởng đang quay cuồng và niềm chán nản vô biên, Paul sực nhớ chàng không còn một đồng xu nào. Paul đứng khựng lại.
“Mình sẽ nghỉ đêm ở đâu đây?” Không còn cách nào khác. Paul đành chọn giải pháp mà Jerry và các bạn của anh ta sợ nhất: ngủ ngoài trời. Vùng Gầm cầu, gần nghĩa trang, theo một luật lệ bất thành văn, là nơi duy nhất trong thành phố mà những kẻ không nhà có thể ngủ đêm khỏi sợ bị quấy rầy. Paul chậm chạp đi về hướng đó. Đối với chàng thành lũy cuối cùng - mong manh - của danh giá đã sụp đổ. Chàng đã rơi xuống hạng thấp kém nhất của xã hội.
Khu Gầm cầu không xa con kênh bao nhiêu. Đó là hai cái lỗ đen dưới chiếc cầu xe lửa vùng Midlands.
Lúc Paul đến nơi, một số người đã chiếm hết chỗ. Kéo cao cổ áo lên, Paul lách mình vào khoảng bóng tối lạnh giá, hai tay đút trong túi quần, chàng ngồi dựa lưng vào một cây cột sắt. Giá lạnh thật ghê gớm. Cố gắng chế ngự cơn run rẩy lay động cả thân người, Paul thiếp đi trong một giấc ngủ chập chờn.
Ngày đến, xám xịt và đầy sương mù, cùng lúc với tiếng ầm ầm của một đoàn xe lửa chạy ngang qua cầu. Lạnh run, người thanh niên gắng gượng đứng dậy và yếu ớt bước đi. Bụng đói cồn cào, mà túi lại trống rỗng. Không có cả cái gì để mua nổi một mẩu bánh mì. Paul đi về phía khu Hành lang, tới trước Công ty quảng cáo, thấy cửa rào đóng, chàng bèn đến nhà ga ở đường Leonard. Suốt ngày Paul lang thang quanh nhà ga, tìm vác đồ mướn cho hành khách - trong những lời rủa của các phu khuân vác “thứ thiệt” - và kiếm được chín pen-ni không đủ để ăn tối và mướn giường ngủ. Trong một quán cà phê công nhân, chàng gọi một miếng xúc xích nấu xúp, một thứ thức ăn nấu không được chín và nhờn mỡ, rồi trở về dưới Gầm cầu.
Ngày hôm sau trời mưa. Không thể kiếm được việc gì để làm ở nhà ga dưới cơn mưa dai dẳng, Paul đi thất thểu ngoài đường phố, tìm một nơi trú mưa. Paul mệt mỏi rã rời, nhưng hình như trong thành phố, không có một nơi nào chàng có thể ngồi nghỉ mà không phải trả tiền. Cuối cùng, Paul vào một phòng bida. Trong đám khói thuốc mù mịt dưới ánh sáng của những bóng đèn có chụp màu xanh lá cây, Paul tìm được một nơi trú ẩn. Nhưng than ôi! Đôi mắt đờ đẫn của chàng chưa theo dõi hết một ván bida thì đã bị đuổi đi.
Paul trở lại đường phố lạnh lẽo, và đi, đi mãi, đi không ngừng. Đi đến đâu chàng không cần biết.
Gần xế chiều, chàng đến bờ một con kênh nước đen ngòm nơi có các nhà máy và lò gốm. Người chủ một chiếc xà lan gọi chàng, ném một sợi dây thừng bảo chàng buộc chặt vào bờ trong khi chiếc xà lan vượt qua một cái cống ngăn điều khiển bằng tay. Trên xà lan, một người đàn bà trọng tuổi đang chiên trứng với thịt nguội trong chảo. Có lẽ bà ta đoán biết sự cùng túng của Paul. Bà ta đưa cho chàng một miếng bánh sandwich to, trước khi chiếc xà lan tiếp tục di chuyển.
Tấm lòng tốt, cái nhìn thương hại của người đàn bà làm Paul đau đớn xúc động đến độ chàng bỗng có ý muốn bỏ hết tất cả, và trở về nhà, tìm lại một cuộc sống no ấm bình thường. Môi chàng vẫn còn run rẩy nhưng chàng cố gắng chống lại ý muốn bất chợt này. Không, chàng sẽ không từ bỏ cuộc chiến đấu, không bao giờ. Người ướt sũng nước mưa, Paul bước nhanh về hướng gầm cầu.
Từ lúc này, Paul khởi đầu một thời kỳ đau khổ câm lặng xen kẽ với những cơn khủng hoảng tuyệt vọng. Có những ngày chàng phải nhịn đói hoàn toàn. Có những lúc chàng trở thành lú lẫn ngơ ngơ ngác ngác như người mất hồn, Và, trong cơn ác mộng triền miên này, có những lúc có một ý muốn cực kỳ mạnh mẽ thúc đẩy Paul bắt chuyện với một người qua đường để kể lể hoàn cảnh của mình. Lại có lúc chàng chỉ thấy mình chen lấn với những hạng người mơ hồ, va chạm vào họ rồi lí nhí một vài tiếng xin lỗi trước khi bước đi. Luôn luôn chàng có cảm giác mơ hồ như đang bị theo đuổi, bị rình rập và gương mặt của trung sĩ Jupp vẫn theo ám ảnh chàng. Ngày tàn thế nào rồi cũng đến, không sao tránh khỏi. Quần áo Paul rách nát, giày thấm nước và râu ria không biết bao ngày chưa cạo. Tóc dài đến tận cổ áo, đôi mắt mất hết thần sắc. Paul mơ hồ tự hỏi liệu chàng có thể bị chết đói ngay giữa thành phố lớn hoạt động tấp nập này không?
Trong cảnh khốn cùng này, Paul thấy chỉ còn một phương cách có thể cứu được mình: sống nhờ vào sự bố thí của kẻ khác. Paul cắn răng chấp nhận giải pháp đau khổ này. Một hôm, vào lúc chạng vạng, Paul lê chân đến góc khu Chợ Ngũ cốc. Nơi đó, trên một quãng đất trống hình tam giác, giới hạn bởi hai đường xe điện, một chiếc xe thùng đã đậu sẵn, một bên hông xe được hạ xuống làm thành một cái quầy hàng, bên trong là nhà bếp có một ống khói vươn lên cao. Một cô đầu bếp, vận một tấm khăn choàng trắng, trao một tô xúp với một ổ bánh mì cho mỗi người khốn khổ đang đến trước quầy hàng. Paul nhận khẩu phần của mình: tô xúp bốc hơi nghi ngút đem lại sức lực cho cơ thể yếu đuối của chàng. Chàng ngấu nghiến nhai bánh mì nhúng mỡ nước nóng, đoạn lặng lẽ bỏ đi, lẫn vào trong bóng đêm.
Trong cuộc sống tối tăm của Paul, trong cuộc chiến đấu tàn bạo để sống còn, cái căn-tin miễn phí này trở thành điểm quy tụ giúp chàng tồn tại. Mỗi tối, dầu trời mưa hay gió, Paul lại nhập bọn với đám người khốn khổ lặng lẽ chờ đợi. Và ăn xong, lại âm thầm biến mất trong đêm đen.
Một buổi tối thứ tư, cạnh người phát khẩu phần mang tạp dề trắng có thêm một người đàn ông khoảng năm mươi tuổi, thân hình cao thẳng mặc đồ đen khắc khổ với một nụ cười hiền từ trên môi. Paul nhận ra ngay Enoch Oswald. Khi ông giở chiếc nón bằng lụa ra, mớ tóc trắng của ông loáng lên dưới ánh đèn dầu hỏa. Người ta nói tóc đó bằng bạc. Và Paul hiểu xuất xứ của cái tên “Ông Vua Bạc” mà những người khách khốn khổ nương nhờ ông đã tặng cho ông.
Để đầu trần và với một nụ cười vu vơ trên môi, ông đi ngang qua đám người đói khát đang xếp hàng chờ đợi và lặng lẽ giúi vào tay mỗi người một đồng Shilling mới tinh.
Khi Oswald dừng lại bên cạnh, Paul cúi đầu xuống, cảm thấy thật rõ ràng bóng ông đứng đó. Xúc động tràn ngập. Ban đầu là sự làm ơn rồi đến ý muốn tuyệt vọng phát sinh từ cuộc sống cùng khốn của chàng, ý muốn thổ lộ tâm sự với con người tốt bụng này. Chàng cần một chỗ dựa như thế sau khi bị Castles lừa gạt, bị vây hãm trong vũng lầy của lòng người phản trắc, bị săn đuổi, bị dồn vào bước đường cùng.
Ước muốn được tâm sự với Oswald càng lúc càng trở nên mãnh liệt. “Đây là một cơ hội không thể gặp lại lần thứ nhì”, Paul nghĩ mà như muốn nghẹt thở.
Suốt trong những giờ phút đen tối vừa trải qua, Paul thấy rõ chỉ có Louisa Burt mới có thể giúp chàng vén bức màn bí mật. Louisa biết hết mọi chuyện. Chàng chắc chắn như vậy. Cô ta đang ở trong tầm tay của chàng, tất cả những cái khác chỉ là bóng mờ chìm sâu trong dĩ vãng. Và trước mặt chàng, trong lúc này, Oswald là một người có thể - hơn bất cứ người nào khác, do địa vị và ảnh hưởng của ông ta - bắt buộc Louisa phải nói, Paul cảm thấy điều này như đã được Thượng đế sắp đặt trước.
Nhưng thình lình Paul thấy mình bị choáng váng. Trong tình trạng cơ thể bị suy nhược và lên cơn sốt, dịp may đến quá bất ngờ khiến Paul như bị tê liệt. Cổ họng chàng nghẹn lại, và những lời muốn nói không thoát ra khỏi vành môi. Khi Paul lấy lại được bình tĩnh, thì Oswald đã đi rồi, Paul tự nguyền rủa mình một cách thậm tệ.
Chàng không dám gặp thẳng Oswald ở tại nhà ông ta. Hỏi thăm người phát khẩu phần, chàng được biết mỗi tối thứ tư “ông chủ” đều đến thăm căn-tin. Vui vẻ chấp nhận sự không may vừa qua, Paul hứa sẽ không bỏ lỡ cơ hội vào thứ tư tuần tới. Đồng bạc mới lấp lánh trong lòng bàn tay, rõ ràng là một lá bùa hộ mạng.
Ngày giờ trôi qua thật chậm chạp. Đến cuối tuần, thời tiết càng lạnh thêm. Những đám sương mù dày đặc bốc lên từ mặt nước, bao trùm thành phố. Trong ánh sáng yếu ớt của khung trời màu xám, bầu không khí ngập khói của thành phố chứa đầy hơi xun-phua. Paul ho dữ dội. Những lúc trí còn sáng suốt, Paul thấy rõ mình khó kéo dài mãi cuộc sống như thế này.
Ngày thứ tư đến làm tăng hy vọng của Paul. Chàng đến khu Chợ Ngũ Cốc rất sớm, và là một trong những người đầu tiên đứng xếp hàng. Đêm xuống rất nhanh. Những chiếc đèn dầu hỏa được thắp lên, căn tin mở cửa. Bỗng Paul thấy có ai bên cạnh: Không phải Ông Vua Bạc. Chàng ngước đầu lên và nhận ra Lena Andersen.