Thanh gươm công lý

Lượt đọc: 321 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
XVII

❊ ❊ ❊

Cùng buổi tối hôm đó, Paul cảm thấy trong lòng nảy sinh một khích động càng lúc càng thêm mạnh mẽ và gay gắt. Mẹ chàng và ông mục sư đi lễ tám giờ ở một nhà thờ lân cận mong tìm khuây khoả, và mặc dù hai người nằn nì, Paul vẫn từ chối. Ella hờn dỗi rút vào phòng. Mathry đi ngủ, tuân theo những dặn dò cứng rắn của Dunn và Mc Evoy. Paul ngồi cô độc trong phòng khách của khách sạn, tâm hồn xao xuyến vì những xúc động trong ngày. Chàng cảm thấy mệt mỏi kỳ lạ và không tài nào xua đuổi một linh cảm ra khỏi tâm trí.

Nhiều tờ báo nằm bừa bãi trên sàn nhà, dưới chân chàng. Nhiều tin đồn truyền đi khắp nơi và báo chí vồ lấy tin “giật gân” cuối cùng của vụ án Mathry. Từ chiếc ghế bành, Paul dễ dàng đọc được hàng tít lớn trên một tờ báo:

“ÔNG VUA BẠC” ENOCH OSWALD ĐÃ BIẾN MẤT MỘT CÁCH BÍ MẬT

Và khi chàng đọc lại hàng tít đó đến lần thứ mười, thì điều dự cảm trở thành sự xác định. Chưa tới chín giờ. Chàng đứng dậy, đội nón, khoác áo ngoài vào và bước ra khỏi khách sạn.

Lúc đêm vừa xuống, sương rơi ướt đẫm lề đường và bây giờ, từng đám mù xám lạnh treo lơ lửng trên đường phố. Paul đi về khu Eldon, dừng lại trước số 52, Ushaw Terrace. Như một bóng mờ trong đêm tối, chàng bước lên cầu thang không một tiếng động. Trí óc vẫn sáng suốt, nhưng tim đập thình thịch, chàng bước lên đầu cầu thang, không dừng lại trước căn của Prusty, mà đến gõ nhẹ vào cửa căn nhà định mệnh.

Không có tiếng trả lời. Phải chăng chàng đã lầm? Không chờ đợi lâu nữa, Paul rút trong túi ra chiếc chìa khoá Prusty trao, tra vào lỗ khoá và vặn một cách dễ dàng. Chàng đẩy cửa bước vào rồi đóng lại: “Có ai đây không?”

Cũng không có tiếng đáp. Không có ánh đèn. Đứng im lìm trong bóng tối đen lòm của phòng ngoài, chàng cảm thấy sự im lặng càng trở nên nặng nề hơn với màn sương mù dày đặc bên ngoài và vẻ trống không lạnh lẽo của một gian nhà không người ở. Tuy nhiên gian nhà không có vẻ gì bị bỏ hoang cả. Chàng cẩn thận quẹt một cây diêm lên. Tấm thảm trải nhà vẫn sạch sẽ, các giá móc quần áo bằng gỗ không một vết bụi. Một cánh cửa được mở sẵn, cánh cửa của phòng khách. Chàng tiến lên mấy bước đi vào: “Có ai không?”

Vẫn im lặng. Có lẽ chỉ có một mình chàng trong gian nhà. Paul thắp khí đốt trong cái lồng đèn bằng thuỷ tinh màu hồng. Cho tới lúc đó chàng vẫn khá bình tĩnh, đầy một quyết tâm có từ lúc định ý đến đây. Nhưng khi trông thấy căn phòng nhỏ bé, nơi diễn ra tấn bi kịch làm đảo lộn biết bao cuộc đời, Paul thấy lạnh khắp cả người. Vẻ tầm thường của khung cảnh càng gia tăng gấp mười sự kinh sợ: cái bàn gỗ sồi dưới chiếc đèn treo bằng đồng, hai chiếc ghế vải đặt ở hai bên lò sưởi, củi lửa đã sẵn sàng trong lò đàng sau bức bình phong bồi giấy có hình. Cái giá để củi và tấm chắn lửa, cái gương soi treo bên trên lò sưởi, tất cả đều sạch sẽ, bóng loáng. Chiếc đồng hồ treo chỉ đúng giờ.

Paul bỗng giật nẩy mình, nín thở. Một tiếng động đưa ra ở phòng bên, một tiếng răng rắc của sàn nhà bị giẫm lên trong căn nhà câm lặng vang to nghe như tiếng sấm. Paul mở to mắt, nhìn trân trân vào cánh cửa phòng ngủ; chàng thu hết can đảm để không quay lưng chạy trốn khi nghe tiếng chân kéo lết trên sàn nhà. Đó mới là điều mà chàng đang chờ đợi, chính vì điều này mà chàng đến đây… Cánh cửa bật mở, Enoch Oswald hiện ra trong bộ y phục giản dị màu đen theo thói quen của ông, gương mặt xanh xao, chiếc cà vạt rối bù, hai mắt và mí mắt nặng nề như vừa mới ngủ dậy. Paul nhìn chăm chăm vào ông ta đang tiếp đến gần chàng.

“Chính cậu đấy à?” Oswald nói bằng một giọng nhỏ, không hồn: “Tôi đang chờ đợi cậu. Tôi biết cậu sẽ đến. Cậu có chìa khoá mà.”

Ngồi xuống một chiếc ghế bên cạnh bàn, ông ra dấu cho Paul đến ngồi gần ông, rồi nói: “Tôi không có gì để mời cậu. Rất tiếc. Tôi đến đây từ hôm qua. Bản năng hay đúng hơn một ý muốn ngông cuồng thúc đẩy tôi và tôi đã không nghĩ gì đến ăn uống từ bữa đó.”

Oswald đưa mắt nhìn khắp căn phòng rồi trở lại nhìn Paul: “Cậu hãy cho tôi biết… vì sao cậu lại đến đây?”

Làm sao diễn tả được ý tưởng của mình? Miệng khô ran, Paul cố gắng tìm lại giọng nói quả quyết của chàng: “Tôi có cảm giác là ông đang ở đây. Và tôi đến… nói với ông… Hãy đi trốn đi… ngay lập tức.”

Oswald bỗng như ra khỏi cơn đờ đẫn và mắt ông loé sáng lên một tia yếu ớt: “Này cậu, cậu làm tôi rất đỗi ngạc nhiên. Tôi biết rõ những hoạt động của cậu trong các tháng vừa qua… Và tôi không nghĩ rằng cậu đặc biệt… có cảm tình với tôi.”

“Tôi đã thay đổi ý kiến.” Paul nói nho nhỏ: “Những gì tôi đã đau khổ, những gì tôi đã chứng kiến ở phiên tòa ngày hôm nay, những gì tôi đã được biết về bộ máy tư pháp… Tất cả những điều đó đã khiến tôi thay đổi cách nhìn. Trong vụ án này, đã có quá nhiều đau đớn và thống khổ. Người ta đã hành hạ cha tôi suốt mười lăm năm trời. Bây giờ tại sao đến lượt ông? Vậy ông hãy đi đi trong lúc còn có thể đi được. Từ đây cho đến tối mai, ông không sợ gặp chuyện gì nguy hiểm. Ông có hai mươi bốn tiếng đồng hồ để rời khỏi xứ này. Đó là dịp may còn lại của ông.”

“Dịp may, dịp may…” Oswald lắp bắp lặp lại bằng một giọng khó tả.

Một trạng thái ngây ngất xâm chiếm lấy ông. Môi ông run run, đôi mắt to đẫm lệ dưới đôi lông mày bạc.

“Này cậu.” Ông kêu lên bằng một giọng nồng nhiệt, “Hãy còn một hy vọng cho nhân loại. Có Thượng đế, tôi biết như vậy và bây giờ tôi chắc chắn như vậy.”

Không thể tự kềm chế được mình, ông đứng lên và bước từng bước dài quanh phòng, bẻ những khớp ngón tay kêu răng rắc, thỉnh thoảng ngước mặt lên như đang cầu nguyện thầm lặng. Sau cùng, cố gắng lấy lại bình tĩnh, ông trở lại ngồi xuống ghế và bíu chặt cánh tay Paul: “Cậu bé thân mến của tôi, ngoài lòng biết ơn của tôi ra, tôi còn nợ cậu một lời giải thích. Cậu có quyền được biết tất cả.”

Vẫn không nới lỏng cánh tay Paul, ông bắt đầu kể lại câu chuyện của ông với một giọng xúc động và bằng một ngôn ngữ rất lạ lùng khiến Paul có cảm giác ông không còn tỉnh trí nữa: “Này cậu, trong cuộc đời tôi, tôi đã được Chúa viếng thăm. Từ thuở ấu thơ, tôi đã bị chứng động kinh.”

Ông thở một hơi dài thật mạnh: “Cha mẹ tôi đã lớn tuổi khi sinh ra tôi. Tôi là con trai độc nhất. Do đó tôi rất được cưng chiều. Tôi được nuôi nấng dạy dỗ ở nhà, khỏi phải đi đến trường.”

“Tôi phát triển từ từ và cảm thấy thích môn y khoa. Tôi vào trường đại học, rồi vào bệnh viện Saint Mary. Nhưng than ôi! Những cơn bệnh động kinh của tôi không cho phép tôi tiếp tục việc học, tôi bắt buộc phải trở về nhà cha mẹ. Tuy nhiên các lần lên cơn thưa dần đi và chấm dứt hẳn vào khoảng năm tôi hai mươi lăm tuổi cho nên tôi có thể phụ giúp cha mẹ trong các công việc kinh doanh. Năm ba mươi tuổi, tôi đính hôn với một thiếu nữ cùng giai cấp, gia đình nàng bằng lòng gả nàng cho tôi sau một thời gian nhận xét và biết chắc chắn tôi đã hoàn toàn bình phục.”

Một tiếng thở dài đau thương nữa.

“Bất hạnh thay, trong thời gian này tôi có quen biết cô Mona Spurling. Như cậu đã biết, cô ta làm việc tại cửa hàng hoa nơi tôi đến mua để tặng vị hôn thê của tôi. Tôi không nói nhiều về sự tầm thường của cuộc gặp gỡ đầu tiên này, cũng như về sự tiến triển mật thiết của mối tình vụng dại này. Tôi nhìn nhận những sai lầm của tôi, sự yếu đuối của tôi. Tuy nhiên, tôi có thể nói một cách không chối cãi được rằng cô gái bán hoa ấy đã góp phần rất nhiều trong vụ tội lỗi này. Hỡi cậu bé của tôi, đừng bao giờ để bị rơi vào lưới rập của một người đàn bà kiêu kỳ và vụ lợi. Mona đòi hỏi tôi đủ mọi thứ: áo dài, nữ trang, tiền bạc, một căn nhà, và khi tôi đề nghị tặng một số vốn cho nàng, cho đứa bé ở trong bụng, nàng liền sỉ nhục tôi thậm tệ. Nàng buộc tôi phải làm đám cưới với nàng.”

“Đúng vào lúc này cha tôi mất. Xúc động mạnh vì sự đau đớn và những lo buồn, căn bệnh của tôi tái phát mạnh mẽ. Chính vào lúc diễn ra một cơn động kinh dữ dội, tôi lại đến gặp cô gái, cố gắng làm sáng tỏ tình thế. Cậu bé thân mến của tôi, cậu không thể hiểu được những giờ theo sau cơn động kinh là nguy hiểm đến mức nào. Người ta tỉnh dậy, xanh xao, nhợt nhạt, lưỡi bị cắn và miệng trào đờm, trí óc ở trạng thái như buồn ngủ, quên lãng, nhưng những đam mê lại không mất chút nào tính cách dữ dội của chúng. Chính ở trong trạng thái như vậy và bị dồn vào đường cùng bởi người đàn bà đó, tôi đã gây ra tai họa, bằng cách giết cô ta.”

Mắt ông loé lên một vệt sáng mờ bí hiểm khiến Paul bấu chặt tay vào chiếc ghế bành. “Ông ta đã điên rồi”.

“Ý định đầu tiên của tôi là thú nhận hành vi tội ác của mình. Nhưng lần đầu tiên, một tiếng nói vang lên trong tôi: ‘Hãy dừng lại!’ Không phải vì tôi sợ những hậu quả của tội ác, nhưng đúng hơn vì tôi thấy mở ra trước mắt tất cả một triển vọng thánh thiện: những gì tôi sẽ làm được cho nhân loại để đền bù lại tội lỗi của mình; nếu tôi còn được tự do.”

Oswald dừng lại một lúc, rồi nói tiếp: “Lúc đó tôi kêu to lên: ‘Tôi sẽ dâng hiến tất cả cuộc đời mình cho việc săn sóc người nghèo khổ, người mù, người bại liệt và tôi sẽ được ban phép lành’.”

“Còn kẻ bị kết án oan thì sao?” Paul ngắt lời.

“A!” Oswald thở dài bằng một giọng hối tiếc sâu xa: “Đó là khuyết điểm duy nhất của chương trình cứu rỗi của tôi. Tôi không phủ nhận rằng đã nhiều lần tôi muốn nạp mình cho công lý của con người xử tôi. Nhưng có tiếng nói càng lúc càng nghiêm trọng, thốt ra trong đêm tối: ‘Sao mày giống như một người bắt đầu cất nhà rồi mà không bao giờ kết thúc chăng? Cứ tự thú đi, để rồi theo luật, tiền bạc của mày sẽ mất hết.’ Cậu ôi! Tôi hối hận! Nhưng có làm được gì đâu? Chúng ta là công cụ của Đấng tối cao, đau khổ là phần dành cho mình, cứu cánh sẽ biện minh cho phương tiện.”

Một nụ cười nữa thoáng nhanh trên mặt Oswald: “Có những kẻ, chính cậu cũng biết họ, tìm cách kiếm lợi trên cái tội lỗi của tôi mà họ đã mơ hồ đoán biết được. Với những kẻ đó tôi cũng khuất phục được họ. Tôi đem họ về nhà, nhồi nặn họ như người thợ làm đồ gốm nhồi nặn đất sét; dầu vậy, họ vẫn là một mối đe dọa đối với tôi. Ồ! Cậu đừng tưởng là tôi được sung sướng. Trái lại tôi phải luôn luôn ép mình khắc khổ hết sức. Căn bệnh thần kinh thời trai trẻ của tôi không để tôi được nghỉ ngơi. Hai hay ba lần mỗi tuần, tôi bị hành hạ bởi những cơn động kinh, những cơn suy sụp tinh thần mà tôi phải kiên nhẫn chịu đựng. Và nhất là tình trạng căng thẳng thường xuyên này, lúc nào cũng phải giữ cho hành động của tôi theo sát quy ước của con người để cho những kẻ rình mò tôi không khi nào thấy được sự bí mật của tôi cả.”

Xúc động, Oswald đứng lên đi đi lại lại, vai xệ xuống, tay nắm chặt.

Một cái rùng mình lay động cả người Paul, khi nhìn thấy sự rúng động và nỗi đau đớn của Oswald càng lúc càng dữ dội. Trong Paul chỉ còn sự thương hại. Ông ta đã hóa điên.

Thình lình, từ trong màn sương mù bao trùm mọi cảnh vật bên ngoài, có lẽ từ con kênh đào nào đó, vọng đến một tiếng còi tàu yếu ớt. Và tiếng than thở xé lòng đó giống tiếng kêu của một linh hồn quay quắt, như nhát dao đâm thủng tim của Oswald. Một tiếng rên rỉ thoát ra từ đôi môi ông; đoạn đứng thẳng người lên, đôi mắt bất động, đầu hất ra đàng sau, ông thốt lên: “Đã gần đến giờ! Xin Chúa hãy ban phép lành cho kẻ tôi đòi của Chúa!”

Giọng nói của ông vỡ tan và gương mặt bỗng xám đi. Ông đưa hai bàn tay cứng đơ ra, rồi từ từ tỉnh táo lại. Ông dựa vào bàn, rút khăn tay lau trán, rồi nở nụ cười: “Cám ơn lòng tốt của cậu. Ngày mai mọi sự sẽ tốt đẹp. Bây giờ cậu có thể để tôi ở lại đây được rồi.”

Paul ngần ngại, đầy thương hại: “Ông hứa với tôi là ông sẽ đi xa chứ.”

“Tôi xin hứa với cậu.” Oswald nói, đầu gật nhẹ và bàn tay đặt lên vai chàng thanh niên: “Tôi đã lo liệu tất cả. Tôi có những phương tiện riêng. Vĩnh biệt và xin Chúa ban phép lành cho cậu.”

Bàn tay ông lạnh buốt. Ông mở cửa và nhường lối cho Paul.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.