Thanh gươm công lý

Lượt đọc: 143 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
XVI

❊ ❊ ❊

Hôm sau, Paul đăng ký mua tháng tờ Tin tức. Mỗi buổi chiều, người ta sẽ đem báo đến cho chàng. Tờ nhật báo này tường thuật rất đầy đủ những phiên họp của quốc hội. Mặc dầu biết cuộc vận động của Birley không thể có kết quả ngay, nhưng này nào Paul cũng chăm chú theo dõi.

Niềm hy vọng làm chàng thêm can đảm, đạp đổ mọi chướng ngại và vui vẻ với mọi người. Ở nhà, Paul làm quen với người khách trọ duy nhất đồng tuổi với anh: anh James Crocket, phụ tá kế toán. Crocket là một người trầm tĩnh, hơi chậm chạp, có thói quen rất đúng giờ giấc, ưa mặc áo cổ cứng thắt cà vạt thẳng thớm, đã để một thời gian khá lâu mới chấp nhận sự làm quen của Paul.

Vào một sáng thứ bảy, khi gặp Paul trên thềm cầu thang, anh ta rút hai tấm vé trong túi ra và hỏi với một vẻ hơi do dự: “Anh có thích cái này không? Cha tôi, hội viên của Hội quản trị đã cho tôi.”

Paul xem xét hai cái thẻ: “Anh không dùng ư?”

“Vợ tôi bệnh, nơi đó đẹp lắm, anh biết không? Ngày chủ nhật dân chúng không được phép vào. Chỉ có hội viên và thân nhân, bè bạn của hội thôi.”

Để làm vui lòng người láng giềng, Paul nhận hai cái thẻ, cảm ơn và chạy thẳng đến nhà hang Bonanza. Điều lạ lùng là hôm nay chàng đánh đàn không thấy chán, mà còn thích thú nữa. Thỉnh thoảng, chàng liếc nhìn Lena, muốn làm cho nàng bỏ vẻ dè dặt đối với mình. Nhưng việc này không phải dễ. Lena dường như trở lại vẻ lạnh lùng của những ngày đầu tiên và thỉnh thoảng trong đôi mắt nàng hiện lên một nét u buồn sâu xa. Paul đau đớn nhận thấy nàng có ý lẩn tránh mình. Vào giờ ăn trưa, một động lực bất ngờ làm chàng trở nên táo bạo, cố lấy giọng thản nhiên nói: “Lena, tại sao chúng ta không cùng đi chơi chung với nhau… ngày mai?”

Nàng lặng thinh và Paul nói tiếp: “Một người bạn cho tôi hai thẻ vào cổng vườn bách thảo, chả có gì đặc sắc cả, nhưng nó cũng làm cho cuộc sống trẻ trung của chúng ta bớt buồn tẻ phần nào.”

Nét mặt người thiếu nữ đã thay đổi, nhưng nàng vẫn lặng thinh.

“Cô sợ điều gì? Sợ bị hoa lan đâm?” Paul nói giọng hờn mát.

Nàng nở một nụ cười yếu ớt, nhưng luôn luôn trong ánh mắt vẫn còn vẻ sợ hãi đủ thứ. Nàng nói, vừa quay đầu đi nơi khác: “Anh tốt bụng quá. Tôi thật ít khi đi chơi.”

Paul không hiểu tại sao nàng lại lúng túng vì một chuyện mời mọc chẳng có gì quan trọng.

Cửa hàng bắt đầu đông khách.

“Cô hãy suy nghĩ kỹ” chàng vừa nói vừa quay ghế lại ngồi trước cây đàn “và cho tôi biết quyết định của cô.”

Lena quay trở về quầy hàng của mình, xúc động một cách kỳ lạ. Trong sáu tháng ở Wortley, nàng phớt lờ với mọi sự chú ý của nam giới. Tuy vậy, họ vẫn tán tỉnh nàng, nhiều khi rất thô lỗ. Chẳng hạn, Harris lúc đầu đeo đuổi nàng ráo riết, nhưng trước sự lạnh nhạt của nàng, ông ta phải bỏ cuộc. Buổi chiều, từ cửa hàng về nhà một mình, hơn một lần nàng bị một gã đàn ông xáp đến nên cạnh hoặc lẽo đẽo theo sau để tán tỉnh. Những cuộc đeo đuổi này làm nàng sợ hãi và biến gương mặt xinh đẹp của nàng thành một khối băng giá. Nhưng hôm nay, sự mời mọc của Paul có tính cách khác hẳn và do đó còn nguy hiểm hơn nhiều. Nàng chẳng tự thề sẽ không bao giờ để lòng rung động trước những người đàn ông hay sao?

Tuy thế, buổi chiều càng đến gần, nàng càng tin tưởng vững chắc rằng mình không làm điều gì bậy khi nhận lời mời của Paul. Rõ ràng sự mời mọc này không che giấu một ý định xấu xa nào; thái độ của Paul bao giờ cũng ngay thẳng và thân hữu; không khi nào chàng có một cái nhìn khả nghi, cũng không đụng chạm bằng tay. Lợi dụng dịp đầu tiên đi qua chỗ cây đàn, Lena báo cho Paul biết nàng sẽ đợi chàng lúc hai giờ, tại nhà.

Ngày hôm sau dưới bầu trời rực rỡ, chàng tuổi trẻ vừa dùng xong bữa trưa liền lên đường đến khu Ware Place. Khu phố này không xa cửa hàng lắm, nhưng lại rất yên tĩnh và đứng đắn. Phần lớn các cửa sổ của những ngôi nhà cao nám khói được sơn bằng các màu tươi, đem đến cho con đường cổ kính một nét trẻ trung. Khi chàng vừa đến trước căn nhà số 61 thì cánh cửa cái mở ra và Lena xuất hiện, thân khoác một chiếc áo choàng sắc màu kín đáo. Một bà cụ đứng sau lưng nàng, trên thềm cửa. Paul nhận ra đó là bà cụ[1] đứng đợi Lena trước cửa nhà hàng hôm trước. Bỗng bà cụ hình như ra vẻ quyết định, tiến lên trước, mỉm cười chìa bàn tay bị thấp khớp cong queo cho chàng bắt, rồi nói: “Tôi là bà Hanley. Cô bé đã nói với tôi rất nhiều về cậu.”

Bà ta khoảng năm mươi tuổi, tóc muối tiêu. Thân hình đã thấp dưới mức trung bình, chứng phong thấp lại làm lưng bà khòm xuống đến độ bà phải ngẩng lên để nhìn Paul. Dáng đi hơi cứng của bà như che giấu một bản tính tốt bụng. Mắt bà trông thật vui. Bà nói tiếp, mắt vẫn nhìn Paul: “Người ta bảo cậu là một nhạc sĩ tài ba?”

“Người ta nói quá lời, thưa bà.” Paul cười: “Tôi chỉ gõ đàn thôi, chơi nhạc như ”xẩm kéo đờn cò“ mà là nhạc sĩ sao được.”

“Tôi sung sướng thấy cậu đưa Lena đi dạo. Cô ấy cần sự tiêu khiển. Tôi không muốn hai người mất thì giờ. Thôi, chào cậu nhé.”

Bà Hanley có vẻ rất hài lòng, nở nụ cười đầy thương yêu khích lệ Lena: “Chúc cô đi chơi vui vẻ.”

Bà khập khiễng đi vào nhà, tay vịn vào lan can bằng sắt để bước lên các bậc thềm.

Paul và Lena lên đường. Chiếc xe điện màu đỏ đưa họ đi dọc theo đường Ware - rất yên tĩnh vào ngày chủ nhật - băng qua công viên quảng trường Leonard để đến khu ngoại ô giàu sang Garland Road với những biệt thự bằng gạch đỏ ẩn mình sau những hàng rào nguyệt quế và araucaria[2].Vườn bách thảo nằm ở rìa khu phố. Họ xuống xe điện ở trạm chót và tiến qua cổng rào lớn.

“Vườn này cũng khá.” Paul mỉm cười nói, sau khi liếc nhanh về phía những sân cỏ cắt phẳng, con đường rộng rãi hai bên trồng cây dẫn đến một cái hồ và những nhà kính rải rác trong khu vườn bao la: “Ở bên ngoài mình không thấy được gì. Tôi đề nghị chúng ta đi dạo một lát rồi hãy vào nhà kính. Cũng xin phép được khen cô hôm nay rất đẹp đấy, Lena ạ.”

Nàng không đáp lại lời khen. Tuy nhiên, đây là một lời khen rất thành thật mà Paul đã nghĩ đến từ lúc xe điện chạy trên đường Ware. Hơn nữa Paul không thể không thấy những người qua đường trầm trồ liếc nhìn Lena. Từ lâu nay, chàng chỉ được nhìn Lena trong bộ đồng phục của cửa hàng, đã che khuất hết những nét thanh tú của người thiếu nữ. Hôm nay nàng khác hẳn mọi ngày. Nàng đẹp lộng lẫy với nước da hồng hào, suối tóc màu mật, hình vóc ưa nhìn và dáng đi uyển chuyển. Chàng chỉ có thể nhìn rõ đôi mắt Lena sẫm mày hạt dẻ lúc ở ngoài ánh sáng. Nhưng nơi Lena, điều làm cho người ta có cảm tình nhất là vẻ giản dị, khiêm tốn và tính tự trọng của nàng. Paul bỗng cảm thấy muốn hiểu rõ nàng hơn: “Lena, hãy cho tôi biết về cô… Về gia đình cô…”

Vài phút trôi qua. Đôi mắt đăm chiêu nhìn về phía hồ nước chiếu lấp lánh giữa những cành cây trụi lá, Lena vắn tắt kể cho Paul nghe chuyện nàng ra đời tại một ngư cảng nhỏ trên bờ biển phía đông, ở Sleescald. Tổ tiên người Thụy Điển của nàng, chắc đã ghé lên sinh sống ở đó từ bao năm về trước. Cha của Lena, góa vợ khi Lena lên bảy, có phần trên một chiếc tàu lưới cá nên đã trải qua cuộc sống bồng bềnh trên biển cả. Các chuyến ra khơi thất bại, có những lúc, con tàu trở về bến gần như trống không. Nếu không có những sản phẩm do nông trại sản xuất thêm, họ sẽ sống thiếu thốn, khổ cực. Và cuối cùng cái miếng đất nhỏ bé nằm tiếp cận với một mỏm đá nhọn nhìn ra biển Bắc, cũng không đủ sức thỏa mãn các nhu cầu của gia đình. Khi cha mất, hai người anh của Lena, bỏ đi tìm sinh kế trên những cánh đồng bao la ở Manitoba và đã thành công. Bây giờ họ sống rất sung túc trong một trang trại đẹp đẽ. Năm mười tám tuổi, Lena đến ở Astbury cách Wortley khoảng hai mươi dặm về phía đông để làm việc tại văn phòng nhận khách của khách sạn Country Arms Hotel.

“Chỉ có mình cô là gái trong gia đình?” Paul hỏi sau một lúc im lặng ngắn.

Nàng gật đầu.

“Cô không thích ở Astbury?”

“Thích chứ. Thích nhiều.”

“Tuy vậy, cô vẫn rời bỏ nơi đó.”

“Phải.”

Lần này thì im lặng hẳn và Paul biết Lena có thể nói nhiều hơn nữa về việc này, nếu nàng muốn.

“Rồi cô đến ngụ ở nhà bà Hanley”

“Vâng.”

Lena quay mặt nhìn Paul: “Tôi không thể nào nói hết được lòng tốt của bà ấy đối với tôi.”

“Bà ấy cho cô mướn phòng?”

“Không, bà không quen cho mướn phòng. Nhưng bà để cho tôi sử dụng hai phòng ở tầng trên. Chồng bà hầu như luôn luôn ở trên mặt biển. Ông ấy là trưởng thợ máy của một chiếc tàu dầu.”

Paul lấy làm lạ về việc nàng bỏ một chỗ làm có nhiều tương lai trong kỹ nghệ khách sạn để nhận một chân nữ chiêu đãi viên trong một cửa hàng bình dân. Nhưng đó là việc riêng của nàng, và hơn nữa nàng lại tỏ vẻ né tránh, không muốn đả động đến nó. Paul bỏ qua vấn đề này và đưa cô bạn gái đến xem những nhà kính, trong đó, giữa bầu không khí nóng và ẩm, bên trên những ống dẫn hơi nước rất to, các cụm hoa lạ đang nở.

Trong khi đi một vòng ngắm nghía các kỳ hoa dị thảo, Paul không quên để ý đến những thay đổi nơi người bạn gái. Nét ưu tư thường ngày của nàng hoàn toàn biến mất. Nàng trở nên linh hoạt, biểu lộ một khả năng nhận xét rất tinh tế. Đôi lúc, nàng biết bổ túc những thiếu sót của kiến thức bằng những kinh nghiệm thông thường. Nàng tỏ ra tự nhiên, không kiểu cách. Khi hai người dừng lại trước một cây cam nhỏ đầy quả, nàng lặng thinh đứng ngắm ngây ngất trước vẻ đẹp của cây. Chăm chú nhìn nàng, Paul thấy hai ngấn lệ lấp lánh dưới hàng lông mi. Chàng cũng cảm thấy xúc động và im lặng.

Hai người vào uống trà trong ngôi chùa Nhật Bản được dùng làm quán ăn uống. Một gian phòng nhỏ toàn bằng tre, mọi cửa đều mở rộng. Nước trà nguội và lạt, những chiếc bánh ngọt thơm mùi hồi chỉ vừa đủ miệng cho những con chim sẻ đang nhảy nhót dưới chân họ. Nhưng chính cái tình cảm đang nảy nở giữa hai người đã làm cho họ nói với nhau đủ thứ chuyện trên đời và quên hẳn cái đạm bạc của thức ăn, thức uống.

Lena là một cô bạn khả ái, luôn luôn ham thích tìm hiểu, luôn luôn sẵn sàng nói lên một câu nhận xét, chứng tỏ nàng nói có ý thức rõ rệt. Paul bỗng nói với nàng: “Cô không hỏi vì sao tôi đến Bonanza. Cô có nghĩ chỗ làm này thích hợp với tôi không?”

“Không.” Nàng đáp, đôi mắt nhìn xuống, “Tôi nghĩ anh có một lý do đặc biệt.”

“Cô nghĩ đúng.”

“Anh đang gặp khó khăn?”

Chàng gật đầu.

“Hy vọng tương lai sẽ đẹp đẽ hơn.” Nàng thì thầm.

Những lời giản dị này làm Paul cảm động. Dưới ánh chiều tà, gương mặt thanh tú và u buồn của nàng có một vẻ đẹp kỳ lạ. Đôi hàng mi dài rủ bóng trên má nàng.

Ra khỏi vườn bách thảo, họ đi ngược trở lại con đường Ware. Lúc này, gương mặt Lena mang một vẻ suy tư, một cuộc chiến đấu nội tâm đang diễn ra. Một hay hai lần, nàng nhìn Paul và có vẻ muốn nói với chàng một điều gì đó, nhưng lại thôi. Về phần Paul, chàng cũng nín lặng. Chàng đang trở về với thực tế. Trước nhà bà Hanley, chàng dừng lại và nắm tay Lena.

“Một chiều thật đẹp!” Lena nói chầm chậm: “Chính anh đã đem nó đến cho tôi và, xin cảm ơn anh.”

Đôi mắt nàng ngần ngừ nhìn lên phía cửa sổ.

Trong một lúc, Paul đoán nàng sẽ mời mình vào nhà, nhưng chẳng có gì cả. Một sự im lặng kéo dài khiến cả hai cùng bối rối.

“Paul…”

Đây là lần đầu tiên nàng gọi Paul bằng tên riêng.

“Lena.”

Nàng quay mắt đi chỗ khác, vẻ xúc động mãnh liệt:“Không, không có gì cả…”

Một lần nữa, nàng muốn nói ra một điều gì đó, nhưng lại không thể nói được.

“Chúc anh ngủ ngon.” Nàng thì thầm rất nhanh.

Lena vội vã bước lên lối đi nhỏ vào nhà. Cánh cửa mở ra và đóng lại sau lưng nàng.

Paul đứng lặng nhìn theo với một niềm hoang mang và thất vọng. Một chút lo âu nhè nhẹ xâm chiếm lấy chàng, Paul bước từng bước về nhà, dọc theo những con đường yên tĩnh của ngày chủ nhật.

Paul về đến phòng mình lúc gần sáu giờ chiều. Tờ Tin tức để sẵn trên bàn. Chàng thắp đèn ga lên, và mở tờ báo ra đọc với vẻ háo hức thường lệ. Một cái tên bỗng đập vào mắt chàng: cái tên mà chàng đang tìm kiếm. Tim tràn ngập niềm vui và mắt rớm lệ, Paul từ từ đọc bài báo, và niềm vui cũng từ từ biến mất, nhường chỗ cho một nỗi thất vọng bao la.

Bài báo rất ngắn:

"Tại Hạ nghị viện, ông George Birley, dân biểu của Wortley, nhắc lại trường hợp của Rees Mathry hiện đang thi hành án tù chung thân tại nhà tù Stoneheath. Vị đại biểu đáng kính đặt câu hỏi có nên xét lại bản án trước những yếu tố mới mà ông vừa tìm ra không? Mặt khác, chính phủ có thể cứu xét ân giảm cho một tội phạm đã ở tù được mười lăm năm rồi không?

Sir Walter Hamilton, tổng trưởng Tư pháp đã trả lời “không” cho cả hai câu hỏi. Thật vậy, ông không thấy có lý do nào để xét lại bản án căn cứ vào những sự kiện được xem là “mới” do ông dân biểu đáng kính trình bày với ông. Hơn nữa, tội phạm Mathry - nhiều lần bị phạt đánh đòn bằng roi da vì thái độ bất phục tùng - có điểm hạnh kiểm rất thấp nên không được quyền hưởng một sự ân giảm nào cả. Hồ sơ vụ án Mathry được xếp lại vĩnh viễn".

Paul bỏ tờ báo xuống bàn. Chàng cũng không buồn ngước mắt lên khi bà chủ nhà bước vào và đặt trước mặt chàng một lá thư bảo đảm vừa mới tới.

Paul mở lá thư ra, chăm chú đọc. Đó là thư của Goerge Birley mà nội dung xác nhận những điều Paul vừa đọc trong tờ báo. Vị đại biểu đã giữ lời hứa và đã làm tất cả những gì ông có thể làm được. Tuy nhiên ông đã bị từ chối dứt khoát, do đó mọi cuộc vận động mới cũng sẽ đều không có kết quả. Ông cố gắng xoa dịu Paul, khuyên “người bạn trẻ” nên từ bỏ và cũng đừng bao giờ nghĩ đến câu chuyện đau khổ này nữa.

Đây là thư của một người khả kính, không thiếu từ tâm. Nó làm tim Paul suýt tan vỡ.

❀ ❀ ❀

[1] Đây là chỗ mà có lẽ dịch giả dùng từ không chính xác. Bởi trong chương XIII cũng như ở đoạn dưới, người này chỉ là một người đàn bà đứng tuổi (Quang Hải).

[2] Araucaria: một loại cây thuộc họ thông.

Nguồn: tve-4u
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.