Tối hôm sau, lúc hết giờ làm việc, Paul đến gặp Mark mà hồi xế chiều chàng đã gọi điện thoại hẹn nhau trước tiệm Bonanza. Boulia tỏ vẻ sung sướng được gặp Paul và nồng nhiệt siết chặt tay chàng.
“Thế nào? Chúng ta khởi sự tối nay chứ?” Anh ta hỏi.
“Phải, nhưng trước hết ta đi ăn tối đã.” Paul đáp lại.
“Thôi, cảm ơn anh. Tôi đã ăn hồi năm giờ rồi. Còn anh?”
“Tôi không thấy cần gì hết.”
“Từ lúc nói chuyện với anh bằng điện thoại, tôi nôn nóng quá.” Mark hăm hở nói, trong lúc đi sát bên Paul: “Anh hãy cho tôi biết về Burt.”
Paul ngần ngại. Tính tình sôi nổi dễ dãi của Boulie có thể làm hư việc. Nhưng tấm lòng hào hiệp của anh ta khiến Paul phải nể trọng. Cuối cùng Paul đáp: “Burt làm gia nhân và có vẻ không thành công mấy trong cuộc đời. Hôm nay là ngày cô ta được nghỉ để đi chơi, và tôi biết nơi chúng mình có thể gặp cô ta.”
“Anh làm việc hay lắm.” Mark reo lên và liền đó hỏi tiếp: “Còn Swann, bệnh tình ông ấy thế nào?”
“Rất nặng, hồi trưa tôi muốn vào thăm ông ấy nhưng người ta không cho.”
Thế rồi cả hai im lặng băng qua công viên, đi vòng theo nhà nghe nhạc cửa đóng - vì là mùa đông - đứng như một cái bóng trong màn đêm buông xuống. Họ đi quanh hồ nước rồi leo lên khu đồi có viện bảo tàng vạn vật học và phòng triển lãm mỹ thuật.
Họ đến khu Porlock Hill, một trong những khu đẹp nhất của thành phố với những đại lộ thênh thang hai bên có những ngôi nhà xinh xắn núp dưới bóng hàng cây dẻ cổ thụ. Tiếp giáp với các đại lộ là vài con đường cũ kỹ, nhỏ hẹp có lát đá - vết tích của một quá khứ xa xưa - với những chuồng trại sửa sang thành nhà ở, tiệm quán, và một nhà hàng: Cây Sồi Vàng.
Khi nhìn thấy bảng hiệu, Paul nói: “Chúng ta đến nơi rồi. Khỏi cần nhắc là anh phải cẩn thận. Nếu anh thấy không có gì đáng nói thì làm thinh, chỉ có thế thôi.”
Họ băng qua đường và đẩy cửa bước vào. Một gian phòng bày biện khá đẹp, với những chiếc ghế ngồi bọc len cũ kỹ, những bóng đèn với chụp viền vải. Trên tường treo những hình ngựa đua và phía sau quầy giải khát, một tấm gương đã rạn nứt nằm trong một cái khung nạm vàng tróc gần hết. Khách hàng mỗi lúc một đông - những thương gia trong khu phố và những thợ đi làm về trễ. Paul dẫn bạn đến một cái bàn gỗ nám khói, gọi hai ly bia, kín đáo quan sát khắp phòng rồi quay lại bảo Mark: “Cô ta chưa đến đây, có thể tối nay cô ta không đến.”
Paul vừa nói xong thì cánh cửa ra vào xoay tròn và một người đàn bà bước vào, đi thẳng đến một góc phòng như một khách hang quen thuộc. “Chắc đúng là Lousia Burt.” Paul nghĩ, cổ họng như nghẹn lại. Cô ta chừng ba mươi tuổi, mông và ngực to lớn nặng nề, mặc chiếc áo len dài rẻ tiền, mang găng tay màu vàng và xách một chiếc xắc kiểu cọ. Con người cô ta toát ra một vẻ thô kệch và thấp kém khiến Paul phải bối rối trong một lúc.
Cô ta ngồi xuống, gọi một ly rượu “gin”, lục lọi trong chiếc xắc rồi đảo mắt nhìn khắp phòng. Bắt gặp ánh mắt của cô ta, Paul mỉm một nụ cười nhẹ đáp lại, và cô ta liền quay phắt đi chỗ khác như thể giá vừa bị xúc phạm. Nhưng hai phút sau, cô ta lại quay mặt nhìn về phía Paul và bạn chàng… Lần này, Paul đứng dậy tiến đến gần. Hành động này rất trái với bản tính chàng, nhưng hôm nay chàng lại làm với một vẻ chín chắn, quen thuộc.
“Chào cô.”
“Có phải anh nói với tôi đấy không?” Cô ta mở lời sau một lúc im lặng ngắn.
“Phải, cô cho phép tôi và bạn tôi được ngồi chung bàn với cô. Cô đang cô đơn và…”
“Tôi không cô đơn. Tôi đang chờ đợi một người bạn.”
“Tiếc quá!”
“Nhưng có thể anh ấy bận việc tối nay. Anh ấy làm ăn lớn lắm.”
“Nếu vậy thì mặc kệ anh ta và càng hay cho chúng tôi. Cô cho phép tôi đãi cô một món gì nhé?”
“Không, không.Tôi không quen như vậy. Nhưng nếu anh muốn…”
Paul ra dấu cho Mark đến. Người bồi bàn đem ly của họ theo.
“Cô vui lòng cho phép tôi được giới thiệu anh bạn của tôi?”
“Rất hân hạnh. Tôi quên mang theo danh thiếp. Tôi là Burt, cô Burt.”
Cô ta hơi nhích sang một bên nhường chỗ cho hai chàng thanh niên ngồi và bằng một điệu bộ rất đỏm dáng, đưa bàn tay vuốt vuốt những lằn xếp của chiếc áo, rồi nâng ly rượu lên uống cạn.
“Đến phiên tôi đãi cô Burt.” Mark nói: “Cô thích uống gì?”
“Nói thật với anh, không biết có nên nhận hay không. Xin anh cho tôi một ly gin.”
“Điểm yếu của mẹ tôi đấy.” Mark nói giọng đùa bỡn.
Cô ta không cười, nhìn thẳng vào hai chàng, không che giấu được vẻ thiện cảm. Đôi mắt xanh của cô ta trông ngu ngơ như mắt búp bê, gương mặt nhợt nhạt trét đầy phấn, da dày, lỗ chân lông nở to ra, đôi má phúng phính như má con nít lủng sâu ở hai bên khóe miệng, tạo cho đôi môi ướt nhếch lên tương phản với vẻ mặt đầy mưu mẹo và tính toán. Cái trán rất thấp, hầu như không có.
“Xin chúc sức khỏe cô.” Paul nói, tay nâng ly rượu mà người bồi bàn vừa đem đặt trước mặt chàng.
“Không có gì thích bằng một buổi tối vui vẻ bên cạnh bạn bè.” Mark nói thêm vô: “Cô sẽ cảm thấy thoải mái, dễ chịu, bao nhiêu ưu phiền của cuộc sống đều tan biến. Chúng ta làm gì bây giờ?”
“Tôi phải về nhà lúc chín giờ.” Cô gái nói một cách trịnh trọng như một phụ nữ đầy phẩm giá: “Tôi không thể đi chỗ nào cũng được. Tối nay không được đâu.”
“Không sao.” Paul nói: “Lần sau chúng tôi sẽ may mắn hơn. Vả lại, như thế chúng ta sẽ có thì giờ tìm hiểu nhau hơn.”
Cô ta chấp nhận lời mời của Paul và chăm chú nhìn hai chàng: “Nhìn các anh tôi biết ngay là những người đàng hoàng. Thế mới biết thế nào là có giáo dục và tư cách.”
Đôi mắt cô ta nhìn Paul với một vẻ chú ý đầy thiện cảm: “Hình như chúng ta đã gặp nhau ở đâu rồi, phải không?”
“Không.” Paul đáp.
“Anh ấy chưa có được cái hân hạnh đó.” Mark bình phẩm một cách tế nhị.
Paul khéo léo đưa đẩy cuộc nói chuyện. Lợi dụng tánh khoe khoang của cô gái, chàng bày tỏ sự thán phục được biết cô ta là một “quản gia”, trông coi đám tôi tớ của một gia đình lớn ở Porlock Hill. Sau khi đã nốc cạn vài ly, bản tính đa nghi của Burt đã biến mất và bỗng nhiên, đôi mắt đen tối của cô ta sáng lên và cô ta bắt đầu thổ lộ tâm sự, than thở số phận của mình: “À! Thật là thích thú được nói chuyện với những người lịch sự đàng hoàng. Không như những kẻ mà tôi có thể nói tên ra đây, nhưng tôi vẫn im lặng vì tôi là một người đàn bà có phẩm giá. Các anh hiểu chứ, ấy là vì tôi đã được hưởng một nền giáo dục rất đàng hoàng nơi các bà xơ, trong một tu viện ở Pháp. Ôi! Tu viện thật là đẹp, thật là yên tĩnh và các bà xơ hiền lành yêu tôi như con cưng vậy. Bà này kêu Louisa, bà kia kêu Lousia, tất cả đều quý chuộng tôi, nhất là bà mẹ bề trên. Bà phục dịch tôi đủ mọi thứ: lo cho tôi ăn sáng tại giường ngủ, tự tay thêu tất cả quần áo lót của tôi. Ấy là vì mẹ tôi là người Pháp và ai cũng biết tôi giàu sang thế nào, nếu tôi không bị người ta làm hại, và có lẽ bác bà xơ đoán biết những khó khăn đang chờ đợi tôi.”
Cô ta dừng lại, đôi mắt đẫm lệ: “Những điều tôi vừa nói đó làm anh ngạc nhiên phải không?”
“Cô ta nói láo thật hay”. Paul tự bảo mình, vừa làm bộ rất ngạc nhiên.
Cô ta bám vào cánh tay Paul: “Nếu anh biết được những gì tôi đã phải chịu đựng! Con của một sỹ quan cao cấp, mà không phải là loại Quân Cứu Rỗi[1] đâu! Cha tôi là đại tá của quân đội chính quy. Nhưng cha tôi rất vũ phu, thường hay đánh đập mẹ tôi, nhất là vào các chiều thứ bảy khi ông say rượu. Tôi muốn bỏ nhà đi trốn. Tôi rất thích sân khấu. Sân khấu… với khán giả vỗ tay hoan nghênh và ái mộ. Đó là tất cả hoài bão của tôi. Nhưng tôi không được may mắn…”
“Sao thế?” Mark hỏi, tỏ vẻ thương cảm.
Cô gái lắc đầu, hai mí mắt nặng nề sụp xuống che kín đôi mắt: “Có một chuyện gì đó. Tôi chỉ làm bổn phận của tôi thôi, các anh nên nhớ điều đó. Tôi đã nói sự thật, tất cả sự thật và chỉ có sự thật thôi. Xin Chúa hãy che chở cho tôi. Và tôi đã được cái gì? Chả có gì hết, hay gần như thế. Chỉ có một số tiền sống vừa đủ trong sáu tháng… ”
“Bao giờ cũng thế, người làm việc tốt thì không được kẻ khác biết ơn.” Paul nhìn nhận với một vẻ đóng kịch cay đắng rất hay.
“Tôi không cần những lời cảm ơn!” Cô gái kêu lên: “Điều tôi muốn là họ phải công bằng với tôi, phải đặt tôi đúng vào chỗ của tôi. Bộ tôi phải là một gia… một quản gia suốt đời hay sao?”
Pau đã khéo léo giữ im lặng, nhưng người bạn không thận trọng được như chàng: “Cô hãy kể cho chúng tôi nghe về chuyện đó đi.” Mark nói, vừa nghiêng đầu sang bên cô gái: “Có lẽ chúng tôi sẽ có thể giúp được.”
Một sự im lặng đột ngột bao trùm. Paul cúi xuống và cắn môi. Lousia nhìn chằm chằm vào Boulia và có vẻ sực tỉnh. Đôi má phính không còn đỏ gay vì giận dữ nữa. Sau khi liếc nhìn đồng hồ, cô ta uống cạn ly rượu và đứng lên: “Các anh đã thấy mấy giờ rồi chưa? Bây giờ tôi phải về nhà.”
Giấu vẻ thất vọng, Paul giúp Louisa lấy các vật dụng của cô ta, trả tiền rượu và đưa cô ta ra cửa: “Đêm đẹp quá!” Chàng vừa nói vừa nhìn lên bầu trời lấp lánh các vì sao: “Cô cho phép chúng tôi đưa cô về nhà nhé?”
Lousia có vẻ ngần ngại và miễn cưỡng bằng lòng: “Nếu các anh muốn… Nhưng chỉ tới cổng hàng rào thôi nhé.”
Ba người rời con đường lát những miếng đá tròn nhỏ, tiến vào một lối đi vắng vẻ và tối đen. Burt mang giày cao gót đi giữa hai chàng thanh niên. Paul hết sức cố gắng gây tình cảm với cô ta. Họ ra đến một đại lộ, hai bên có hàng cây cao và những dãy biệt thự mái ngói đỏ nằm giữa các khu vườn. Burt dừng lại trước một biệt thự.
“Đến nơi rồi.”
“Nhà tuyệt đẹp!”
“Phải, tôi làm cho gia đình ông Osward… một gia đình rất được nể trọng.” cô gái nhìn nhận, vẻ tự hào.
“Chắc chắn là phải như vậy.” Paul tiếp lời với một giọng đầy tin tưởng: “Chúng ta có thể gặp lại nhau vào thứ tư tuần sau không?”
Lousia làm ra vẻ ngần ngại lấy lệ: “Đồng ý, cũng giờ này. Ở nhà hàng Cây Sồi Vàng.”
“Tốt lắm.”
Paul giở nón ra, đưa bàn tay ra một cách hết sức lịch sự. Cùng lúc ấy cửa biệt thự mở rộng và một người đàn ông lớn tuổi đi ra, đầu trần, môi ngậm một điếu xì gà, tay cầm vài phong thư. Ông ta đưa tay đẩy cổng rào và nhanh nhẹn tiến về phía thùng thư đặt ở góc đại lộ. Trong bóng tối không thấy rõ nét mặt ông chỉ thấy lờ mờ cái đầu tóc bạc. Đi ngang qua chỗ ba ngươi đang đứng, ông nhận ra Burt và cất giọng chào vui vẻ: “Chào Lousia.”
“Dạ thưa chào ông.” Lousia trả lời bằng một giọng thật quỵ lụy, sự thay đổi đột ngột đến buồn cười.
Cô ta vội vã giã từ hai chàng thanh niên, không giấu được vẻ bối rối. Vượt qua cổng rào, cô ta quẹo sang lối đi bên trái dành cho gia nhân và biến mất sau một bụi cây hoa nguyệt quế. Paul và Mark quay lưng đi. Có tiếng cánh cửa đóng sầm phía sau nhà.
Cả hai lặng lẽ đi dọc theo đại lộ.
“Tôi lấy làm tiếc đã làm cho cô ta ngưng lại.” Boulia cuối cùng nói với một giọng biết lỗi: “Cô ta đang sắp sửa thổ lộ tiếp… Câu nói ngu xuẩn của tôi đã làm cô ta nín bặt.”
Paul mím chặt môi, cố giữ không thốt ra một tiếng nặng nề.
❀ ❀ ❀
[1] Đạo quân cứu rỗi (Salvation Army): một tổ chức xã hội – tôn giáo do William Booth thành lập vào năm 1878 tại Anh và chỉ huy tước vị đại tướng do ông tự phong. Đạo quân tổ chức cứu trợ xã hội và từ thiện tai Anh cùng nhiều nước khác trên thế giới, đồng thời thuyết giảng về sự cứu rỗi của Thiên Chúa.