Swann nằm trong căn phòng dài và hẹp, tường quét vôi trắng. Một vùng ánh sáng chói chang rọi xuống từ khung kính gắn trên mái nhà xiên xiên. Đây là căn phòng dành cho người nghèo, mọi tiện nghi, trang hoàng đều không có. Tất cả chỉ gồm một cái giường được che bằng một tấm màn trắng, và một cái chai dưỡng khí với ống dài để thở. Một mùi đặc biệt khó tả của bệnh tật, của cơ thể con người đang tàn lụi tràn ngập mùi hăng hăng của chất sát trùng.
Swann nằm dài trên giường, hai cái gối kèm bên mình, mắt nhìn lên trần nhà. Nhìn ông, người ta có thể đoán lúc trước ông cao lớn và rất khỏe mạnh. Nhưng gương mặt gầy xọp với đôi má lõm sâu càng làm cái mũi thêm dài ra, bây giờ chỉ còn là một vệt vàng khè có từng mảng mầu nâu, đặt trên màu trắng của tấm vải trải giường. Hai bàn tay ông bất động. Mười đầu ngón tay sưng phù. Các khúc xương sườn lồi ra đưa lên đưa xuống theo nhịp thở ngắn.
Lúc ấy là giờ thăm bệnh. Paul đứng sát gẩn giường, bên cạnh là Mark Boulia. Cả hai người vừa mới đến và Mark tế nhị giới thiệu Paul với người bệnh. Paul hết sức trình bầy hoàn cảnh của mình và nôn nao chờ câu trả lời của Swann lúc ấy đang chìm đắm trong suy tư.
Một lát sau, ông nhìn chàng tuổi trẻ và nói yếu ớt, giọng khàn khàn: “Cậu giống anh ta lắm.”
Rồi ông lại ngước mắt ngắm khung kính ở trên lầu, và im lặng một lát trước khi nói tiếp, cũng với một giọng mệt nhọc: “Gặp được cậu thật cũng lạ! Sau những bất hạnh dồn dập, tôi thề là sẽ câm miệng như hến. Thật dại dột đã nói ra! Nhưng cậu là con của Mathry, còn tôi, cuộc đời tôi đã tàn. Vậy…”
Một giây phút im lặng nữa. Sau đó Swann gợi lại quá khứ xa xưa: “Khi được giao điều tra vụ Eldon, tôi đang hồi hăng hái - thật khác xa bây giờ - lúc nào tôi cũng còn nhớ câu chuyện như chỉ mới xảy ra hôm qua, lúc nhân chứng quan trọng đầu tiên xuất hiện. Một người thợ đóng sách tên Rocca đến trình diện ở đồn cảnh sát trung ương… Phải, Harry Rocca nhỏ thó, một con chim trĩ, một kẻ hèn nhát nhất mà tôi từng gặp. Anh ta sợ đến líu lưỡi. Nhưng cuối cùng tôi cũng hiểu được rằng anh ta quen biết nạn nhân gần một năm, thường ngủ với nàng và nhất là anh ta đã ở bên nàng trong đêm 7 tháng 9. Nhưng anh ta không dính líu gì đến vụ án mạng bởi vì ngày 8 và 9 tháng 9 anh ta đến Doncaster coi đua ngựa, và có cả tá người làm chứng cho anh ta. Anh ta đến trình diện để đánh tan mọi nghi ngờ về mình. Điều này không giúp ích gì cho chúng tôi. Chúng tôi thừa biết Mona Spurling được nhiều đàn ông ái mộ, nhưng chúng tôi vẫn quyết định giữ Rocca lại để điều tra. Khi biết điều này, Rocca xỉu đi và mắc bẫy ngay. Anh ta bèn cho chúng tôi biết về nguời bạn của mình: Mathry. Rocca nói rằng Mathry si mê cô Spurtling và đang rất lo lắng về chuyện ồn ào của tấm bưu thiếp mà anh ta đã gửi cho cô gái.”
“Sau cùng, Rocca tiết lộ cho chúng tôi biết Mathry cố ngụy tạo ra một bằng chứng vắng mặt giả. Các cậu hãy tưởng tượng nỗi vui mừng của chúng tôi. Sau ba tuần lễ tìm kiếm vô hiệu quả, giờ đây bỗng nhiên thấy một dấu vết nóng hổi bất ngờ xuất hiện: Người đàn ông ấy vừa lên xe lửa đi Liverpool để xuống tàu. Một cú điện thoại được gọi đi, và Mathry bị bắt ngay trên sân ga.”
Swann dừng lại liếm đôi môi khô: “Một điều không may cho Mathry là anh ta rất nóng tính, anh ta chống cự lại và đã phạm một lỗi lầm nghiêm trọng: đánh một nhân viên cảnh sát. Nếu các cậu nhớ thêm rằng Mathry bị bắt đúng vào lúc anh ấy toan xuống tàu trốn sang Nam Mỹ, thì các cậu sẽ thấy rõ cái tình trạng nguy hiểm của anh ta. Chưa đủ, anh ta lại càng làm cho nó thêm trầm trọng hơn nữa. Dĩ nhiên, câu hỏi đầu tiên được đặt cho Mathry là: ‘Ngày 8 tháng 9 trong khoảng thời gian từ 8 đến 9 giờ tối, anh ở đâu?’ Không biết gì về sự phản bội của bạn mình, Mathry trả lời: ‘Tôi chơi bida với một người bạn tên Rocca’. Sau những sự kiện như vậy, không ai cho rằng anh ta là người vô tội.”
Swann ngả đầu ra phía sau và đôi mắt mờ đục của ông lóe lên một ánh kỳ lạ: “Cần phải nói cho cậu biết về ông Adam Dale, ông chỉ huy của tôi. Lúc bấy giờ ông ấy là sếp đứng đầu ngành cảnh sát của Wortley. Ông là con của một tá điền ở Canberland và khởi đầu từ vị trí thấp nhất, ông ta lần lượt leo lên từng nấc cho đến hết bậc thang trong ngành.”
“Là người giữ kỷ luật nghiêm minh, ngay thẳng với thuộc cấp, ông ta đã phục vụ đắc lực cho luật pháp, không bao giờ chấp nhận một sự nhượng bộ nào. Ông ta thường khoe với tôi về trực giác bén nhạy không thể nào sai lầm được của ông. Ngay từ lúc đầu, ông ta đã nghi ngờ Mathry.”
Trở lại vẻ tinh anh, người bệnh chống một khuỷu tay ngồi dậy: “Nhưng tôi không đồng quan điểm với ông ấy về những bằng chứng khiến có thể buộc tội Mathry. Tôi nêu lên nhận xét rằng Mathry đã mua vé đi Nam Mỹ dưới tên thật của mình, và đã công khai mướn phòng khách sạn ở Liverpool cho anh ta và cả gia đình, không tìm cách giấu lý lịch của mình. Một kẻ có tội muốn đánh lạc dấu vết của mình, không bao giờ làm như vậy. Hơn nữa, Mathry đã gây cho tôi một cảm giác tốt. Anh ấy thành thật nhìn nhận có gửi cho Mona Spurling một tấm bưu thiếp do chính tay anh ấy viết. Anh ta nói rằng đó chỉ là một sự đùa cợt. Sau cùng, vết thương ghê gớm trên mình của nạn nhận chỉ có thể được gây ra bởi một người có sức mạnh phi thường, mà Rees thì không có vẻ gì của một lực sĩ cả. Tính tình bộp chộp khiến anh ta vụng về bịa ra bằng chứng là đã ở bên Rocca. Lo lắng, căng thẳng, hoảng sợ về những điều mà người ta làm rùm beng chung quanh tấm bưu thiếp, Rees đã muốn dựa vào một người nào đó làm bạn đồng minh. Ý tưởng này tự nó là dại dột, nhưng rất phù hợp với những gì chúng tôi được biết về tính tình của anh ấy.”
“Tôi trình bầy tất cả những nhận xét trên với Dale nhưng ông ta gạt bỏ hết. Ông ta đã tin chắc điều mình nghi một cách thành thật, các cậu hãy nhớ như vậy. Ông ta tin mình đã nắm được thủ phạm và sẽ không bao giờ chịu buông tha.”
Swann đuối sức, ngả đầu lên gối để thở, rồi chậm chạp nói tiếp: “Các cậu biết thế nào là bộ máy hành chính. Nó cứ lăn theo cái cách của nó, theo những nguyên tắc hẹp hòi, thế là cuộc điều tra tiến triển theo chiều hướng thông thường của nó. Người chỉ huy muốn gì? Tìm lại vũ khí gây án mạng, kiếm những vệt máu trên quần áo của Mathry và tìm ra những nhân chứng buộc tội. Vũ khí, ông ta đã tìm thấy nó gần như ngay lập tức trong hành lý của người bị tình nghi. Đó là một con dao cạo kiểu xưa, lưỡi rất rộng, do Đức sản xuất. Nó hơi sét một chút. Mathry mau mắn nhìn nhận đã có con dao này nhiều năm rồi, do cha anh để lại. Nhiều lần anh toan vứt nó đi, nhưng cuối cùng lại đổi ý vì lý do tình cảm. Các cậu có thể tin rằng anh ra đã giữ lại con dao sau khi dùng nó giết chết cô gái không?”
“Không! Không! Không bao giờ! Đó là một điều vô lý nhất. Việc làm đầu tiên của một tên sát nhạn là vứt bỏ ngay vũ khí của hắn. Ấy vậy mà Dale, khi đưa cho tôi xem con dao, đã sung sướng nhảy lên: ‘Tôi nói với anh có sai đâu! Bây giờ chúng ta nắm được thủ phạm rồi’.”
“Người ta gửi con dao và quần áo của Mathry đi giảo nghiệm, đồng thời hỏi cung ba người đã trông thấy tên sát nhân ra khỏi phòng của Mona Spurling trong buổi tối xảy ra án mạng: Prusty, Edward Collins và Louisa Burt.”
“Prusty cận thị, Collins hơi ngây ngô, loại người mà chúng ta có thể bảo gì nói nấy, còn Lousia Burt thì có bản tính khác hẳn. Cô ta chỉ thoáng thấy tên sát nhân trong bóng tối của một đêm mờ mịt, mưa gió, ngày 8 tháng 9 trên một con đường đèn không đủ sáng, thế mà cô ta quả quyết xác nhận và kể ra quá nhiều chi tiết - đến bây giờ tôi vẫn nhớ được khuôn mặt tròn và bướng bỉnh của cô ta - cô ta khai: ‘Một người đàn ông độ 45 tuổi; cao, mình dây, da nâu, râu cạo nhẵn nhụi, mũi thẳng. Hắn đội một nón kết vải ô vuông, mặc chiếc áo mưa màu sậm và mang giày màu vàng’.”
“Lúc đầu, Dale chấp nhận lời khai này, không bác bỏ. Nhưng khi Mathry bị bắt, bản nhạc liền thay đổi điệu, bởi vì Marhy không cao, không thon, không nâu, cằm không cạo nhẵn. Trái lại anh ấy là người tầm thước, nước da trắng và để ria. Y phục mô tả cũng không phù hợp với sự thật. Nhưng Lousia không bối rối vì một chuyện nhỏ nhặt như thế. Cô ta thản nhiên bảo rằng mình đã nói lộn vì người lấy lời khai hối thúc cô quá. Và, rất bình tĩnh, cô ta khai lại. Người mà cô ta thấy không phải cao nữa, cũng không phải nhẵn râu.Cái nón kết của anh ta trở thành cái mũ mềm. Chiếc áo đi mưa trở thành một chiếc áo choàng màu xám. Tóm lại, sự mô tả của cô ta lần này phù hợp với hình dạng của Mathry, nhưng cũng chỉ phù hợp một cách mơ hồ thôi.”
Swann dừng lại một lần nữa. Môi mím chặt, ông gắng lấy lại hơi thở điều hòa: “Người ta cho các nhân chứng đi nhận diện kẻ bị bắt. Dale đưa họ đến Liverpool, và tôi cũng đi theo. Có mười một nhân viên cảnh sát mặc thường phục cùng đứng xếp hàng với Mathry. Đó là cách thức thông thường, và vài người cho là cách thức tốt. Dẫu sao, hai nhân chứng cũng không ngần ngại nhìn ra đúng mặt Mathry. Thế là Mathry bị đem về Wortley và chính thức bị tố cáo đã giết cô Mona Spurling.”
Người bệnh cố gắng quay đầu về phía Paul: “Tôi cũng chưa cho là Mathry hoàn toàn mất hết hy vọng… Việc tìm ra thủ phạm thật quá hoàn hảo và quá dễ dàng khiến tôi có cảm giác nó phải che đậy một khuyết điểm nào đó. Nhưng tôi đã lầm khi chẳng nghĩ đến ông biện lý. Cậu có thể cho rằng ông cò Dale - rất ngay thật - chịu trách nhiệm về việc Mathry bị kết án? Không phải! Chính Sprott, viên biện lý, một tên khôn ranh quỷ quyệt đã sắp xếp hết mọi chuyện. Ông ta đã thành công và đạt được danh vọng. Hiện giờ ông ta tên là Sir Matthew; và ông ta sẽ còn tiến cao lên nữa, lên đến nấc thang tột đỉnh. Nhưng vào lúc xảy ra vụ án, ông ta chỉ là một kẻ mới vào nghề, một người vô danh. Một kẻ cơ hội cùng mình.”
“Ngay khi ông ta vừa hé miệng, tôi biết ngay rằng ông ta muốn cái đầu của Mathry.”
“Bên buộc tội bèn triệu tập các chuyên viên giảo nghiệm của mình, nhưng lại không gọi ông Tuke, vị bác sĩ đầu tiên khám nghiệm tử thi, ra làm chứng trước tòa.”
“Ngoài ông Dobson, bác sĩ giám định tư pháp, giáo sư Jenkins cũng đến làm chứng rằng con dao cạo của bị cáo, có thể đã gây ra vết thương, nguyên nhân của cái chết. Tuy không chịu thề là đã tìm thấy những vết máu trên con dao hay trên y phục bị cáo, ông xác nhận có tìm thấy những vi thể của nhũ hoa trên các vật dụng đó. Rồi đến lượt chuyên viên về khoa chiết tự xác nhận cái thư bị đốt phân nửa đúng là của Mathry ‘Viết bằng tay trái để che giấu nét chữ của mình’. Còn Collins và Burt, với vẻ mặt ngây thơ và đôi mắt to ngoan ngoãn, đã gây ảnh hưởng rất lớn đối với bồi thẩm đoàn. Cô ta xác nhận và thề quyết: ‘chính là chiếc áo choàng của hắn’, ‘đúng là hắn’. Và nói về việc nhận diện bị cáo trong trụ sở cảnh sát tại Liverpool cô ta hãnh diện khoe: ‘Tôi là người đầu tiên nhận ra hắn!’.”
“Rồi đến phần buộc tội, viên biện lý thao thao bất tuyệt trong suốt ba tiếng đồng hồ, không một lúc nghỉ, cũng không cần nhìn vào bài viết sẵn. Thật là một dòng thác ngôn từ hùng biện. Ông ta mô tả lại án mạng như một khúc phim rùng rợn và tàn bạo: ‘Tên sát nhân siết chặt con dao cạo trong tay, tấn công dã man một cô gai đáng thương, không tự vệ, tình nhân của hắn, mang trong bụng đứa con không bao giờ ra đời, rồi tìm cách chạy ra nước ngoài để tránh hình phạt’. Một kiệt tác của khoa hùng biện, tôi đảm bảo với cậu như vậy… Và các bồi thẩm, miệng há hốc, nuốt từng lời nói của ông ta…”
“Còn biện hộ thì thật là thảm hại. Bị cáo nghèo nàn, không có tiền để nhờ được một người trong luật sư đoàn bào chữa. Luật sư thí là một ông già giọng nói yếu ớt, ngay cả hồ sơ vụ án cũng không thuộc. Hình như ông ta cũng không biết điểm nào là điểm có lợi để bào chữa cho Mathry.”
“Một cuộc xử án như thế không kéo dài lâu. ‘Có tội!’ Những tiếng phản đối cùng những tiếng hét dữ dội của người tù làm xé lòng tôi. Người ta phải lôi anh ấy ra khỏi phòng xử, và mọi người hoan hỷ khen mừng. Collins và Burt được lãnh 500 đồng tiền thưởng. Chỉ có Chúa mới biết họ có xứng đáng hay không.”
Swann kiệt sức thực sự; đầu ông yếu ớt ngả xuống gối, ông thì thầm: “Ngày mai hay ngày mốt các cậu hãy quay trở lại để biết nốt câu chuyện.”
Một sự im lặng nặng nề. Boulia lặng lẽ rót đầy một ly nước đưa lên miệng ông Swann. Ông uống một cách ngon lành, mắt nhắm nghiền. Paul vẫn đứng im lìm, hai bàn tay ôm lấy đầu. Chàng muốn mở miệng nói, nêu hàng ngàn câu hỏi, nhưng thấy rõ rằng ông Swann đã đuối sức. Mark nhón gót bước nhẹ ra cửa, Paul đi theo, sau khi đã vụng về xiết chặt bàn tay của Swann.