“Vạch kim tuyến”:
Anh hãy nói xem, thế nào là vạch kim tuyến của văn học?
Trong chuyên mục thư ngỏ của tạp chí GQ số tháng Tư, tôi đã viết bài “Đại thị”, cho rằng tiểu thuyết của Hàn Hàn chưa nhập môn, tạp văn chỉ là chút thông minh vặt, rằng văn học quả thực có một vạch kim tuyến, một tác phẩm đạt được là đạt được, chưa đạt được là chưa đạt được; đối với người ngoài ngành thì mờ ảo ẩn hiện, đối với người tinh tường thì rõ như ban ngày. Bài viết này đã rước về vô số lời mắng mỏi, giúp tôi ôn lại rất nhiều thành ngữ mang nghĩa miệt thị gồm bốn chữ trong tiếng Hán (văn nhân tương khinh, dậu đổ bìm leo, chuốt danh trục lợi, miệng nam mô bụng một bồ dao găm v.v.. Thành ngữ duy nhất mà tôi thiên về chấp nhận là “giúp Trụ làm ác” theo nghĩa khách quan, dù tôi không cho rằng nó trầm trọng đến thế, Phương Trâu Tử và Trụ Vương hình như cách nhau mấy bậc rồi chứ?), đồng thời cũng ban cho tôi thêm một ngoại hiệu: “Phùng Kim Tuyến”, thậm chí có người còn cho rằng bài viết này đã sáng tạo ra một thành ngữ bốn chữ mới: “Phùng Đường kim tuyến”. Lộ Kim Ba, nhà xuất bản chung của Hàn Hàn và tôi, nói rằng, Phùng Kim Tuyến này, anh nên viết một bài, trình bày cho ra lẽ vạch kim tuyến mà anh nói, nói xem thế nào là văn học hay.
Nói trước, văn học rốt cuộc có tiêu chuẩn hay không?
Văn học đương nhiên có tiêu chuẩn.
Giống như âm nhạc, hội họa, điêu khắc, thư pháp, điện ảnh, kịch nghệ và các hình thức nghệ thuật khác, giống như mỹ nhân, ngọc đẹp, rượu ngon, trà thơm, hương quý, món ngon và những sự vật tốt đẹp khác, giống như văn minh, dân chủ, nhân quyền, đạo đức, Phật pháp, giá trị phổ quát và những sự vật mơ hồ khác, dẫu cho “văn vô đệ nhất, võ vô đệ nhị”, dẫu cho khó định lượng, dẫu cho chủ quan, dẫu cho trong một số thời kỳ đặc biệt có thể chệch hướng nghiêm trọng, nhưng văn học có tiêu chuẩn. Hai, ba ngàn năm nay, hương khói nối đời, một vạch kim tuyến cứ thế kéo dài không dứt. Dưới vạch kim tuyến này, hãy xem thật ít thôi, kẻo trong lúc vô tri vô giác sẽ làm hỏng gu thẩm mỹ của chính mình. Trên vạch kim tuyến này, ngoài những cao thủ múa chữ đỉnh cao vài trăm năm mới xuất hiện một người như Trang Chu, Tư Mã Thiên, Lý Bạch, Đỗ Phủ ra, thì không phân biệt rõ cao thấp sang hèn. Hai mươi bốn phẩm thơ, hoa rụng vô ngôn, người nhạt tựa cúc, nước chảy hôm nay, trăng sáng tiền thân v.v.. đều hay cả, muôn tía ngàn hồng, hoa nào đẹp mắt người nấy, bạn có thể chỉ ăn món mình thích, cũng có thể há miệng nuốt chửng tứ phương, nếm trăm loại cỏ, trúng trăm loại độc, cứ yên tâm mà xem, phóng khoáng mà đọc, Chương Tử Di xem xong cũng không biến thành Chương Tử Di, ăn bò Kobe cũng sẽ không biến thành bò Kobe. “Văn chương ngിയên cổ sự, được mất tấc lòng hay”. Tiếc là, cũng giống như những sự vật kể trên, giống như chân lý, vạch kim tuyến này rất khó miêu tả, thường nằm trong tay số ít người, không do đa số quyết định. “Các người thân và tên tuổi đều cùng diệt vong, sông núi vẫn trôi muôn đời không dứt”. Điều may mắn là, “nguyên tắc số đông” ở đây vẫn phát huy tác dụng. Lấy một trăm năm làm thước đo, khi sự huyên náo của thời đại phai nhạt hết, sẽ hiển lộ ra những bài văn chương bất hủ chiến thắng được thời gian. Nếu để Khổng Khâu, Trang Chu, Lã Bất Vi, Tư Mã Thiên, Ban Cố, Chiêu Minh Thái tử, Lưu Nghĩa Khánh, Tư Mã Quang, Tô Đông Phao, Vương An Thạch, Tăng Quốc Phiên, Ngô Sở Tài v.v.. sống ở thời đại hôm nay, để họ chọn ra ba trăm bài văn tiếng Hán hay từ năm trăm năm trước Công nguyên cho đến năm hai ngàn sau Công nguyên, Kinh Thi, Sở Từ, Hán phú, Đường thi, Tống từ, tiểu thuyết Minh Thanh, tản văn Tiên Tần, chính sử, dã sử, tiểu phẩm nhà Minh, tông đăng lục nhà Phật, trăm bề không kiêng kỵ, tôi sẵn lòng tin rằng, độ trùng lặp sẽ vượt qua một nửa. Những đặc điểm được phản ánh qua những bài văn hay được người tinh tường công nhận đó, chính là vạch kim tuyến kia.
Nói tiếp, tiêu chuẩn văn học hay này rốt cuộc có quan trọng hay không?
Tiêu chuẩn đương nhiên rất quan trọng.
Trung Quốc xưa nay đất rộng người đông, dân số đông đúc, sản vật thì khan hiếm, con người ta thích tranh giành, đi đường tắt, phá quy củ, đục nước béo cò, kẻ thắng làm vua, nước chảy bèo trôi. Không có tiêu chuẩn, không có lằn ranh đỏ, thì dễ bề làm ăn qua quýt, cứ trượt mãi xuống những nơi thấp hơn, dễ tự mãn, dễ khiến cho kẻ tiểu nhân thành danh. Thế nhưng, không có tiêu chuẩn thì rất khó nâng cao hiệu suất học tập, rất khó liên tục sáng tạo ra những thứ hay ho. Sau khi hoàn toàn mất đi tiêu chuẩn, số lượng người tinh tường tiếp tục giảm sút, bị chế giễu, bị lưu đày, bị hoạn vị, bị tàn sát, kẻ tiểu nhân thành danh rồi tiếp đó biến thành thần (hoặc chính xác hơn là bị đẩy lên bệ thờ, thế nhưng, hắn ta cũng đâu có từ chối đâu), sau đó nữa, thường sẽ xuất hiện cảnh “chỉ hươu bảo ngựa”, những người tinh tường còn sót lại vì đủ loại lợi ích và kiêng kỵ mà tập thể câm nín, dẫu có xảy ra chuyện gì, cũng chỉ “hì hì, hì hì, hô hô, tạm được, qua loa”, thế là gà bay chó sủa, lông gà vỏ tỏi, thời mạt thế đã đến. “Muốn đạt đến tầm người lập ngôn thuở xưa, thì đừng mong cầu mau chóng, đừng bị danh lợi dụ dỗ, nuôi dưỡng gốc rễ rồi hãy đợi kết quả, bôi thêm mỡ để mong ánh sáng chiếu rọi.” Chậm rãi thôi, đi cửa hẹp, nhìn về lâu dài, hóa ra lại là con đường nhanh nhất, ngắn nhất dẫn đến những điều tốt đẹp.
Cuối cùng nói xem, vạch kim tuyến của anh rốt cuộc là gì?
Người phương Tây có “Năm mươi bài học tiểu thuyết”, người Trung Quốc có “Văn tâm điêu long”, những trước tác văn luận dày cộm này đều xây dựng một hệ thống tiêu chuẩn khá phức tạp. Phiên bản súc tích cũng có, người phương Tây có tiêu chuẩn 6C cho bài văn hay, dùng sáu tính từ: CONCISE (súc tích), CLEAR (trong sáng), COMPLETE (trọn vẹn), CONSISTENT (nhất quán), CORRECT (chính xác), COLORFUL (sinh động). Nói cách khác một cách đơn giản hơn, nội dung biểu đạt phải chấn động được thế giới quan và nhân sinh quan ngu muội hẹp hòi, dò thấu muôn vàn đốm lửa vi tế của nhân tính; hình thức biểu đạt phải vứt bỏ những lời lẽ sáo rỗng, thách thức giới hạn năng lực và hiệu suất biểu đạt của ngôn ngữ.
Xin lấy vài ví dụ, không phân biệt người kim kẻ cổ, người Hán kẻ rợ.
“Tôi ở đội mười bốn dưới núi, cô ấy ở đội mười năm trên núi. Có một hôm cô ấy từ trên núi xuống, bàn bạc với tôi về chuyện cô ấy không phải là loại đàn bà hư hỏng... Lúc này tiếng rên rỉ của Trần Thanh Dương giống như dòng nước lũ dâng trào, lan tràn trong căn phòng. Tôi vì thế mà kinh ngạc, phục xuống thân mình bất động. Nhưng cô ấy bảo, mau lên, đồ khốn, còn véo đùi tôi nữa. Đến khi tôi ‘mau’ xong, từng đợt run rẩy giống như truyền đến từ tâm địa cầu. Sau đó cô ấy bảo cô ấy cảm thấy tội nghiệp chất chồng, sớm muộn gì cũng gặp báo ứng.” (Vương Tiểu Bo, “Thời đại hoàng kim”)
“Mùa đông trời lạnh, tuyết phủ kín núi, cứ bước chân ra cửa là thấy một vệt dấu chân, theo dõi người khác thường bị người ta phản theo dõi, không khéo là bị người ta úp sọt chặn ngang ở cửa hang, canh chừng như canh tủ lạnh mà ăn thịt.” (Vương Sóc, “Thư gửi con gái”)
“Nhận lấy cơm xong, lập tức bắt đầu ăn, ăn rất nhanh, yết hầu cứ thụt vào thò ra, cơ mặt căng cứng. Thường hay đột ngột dừng lại, rất cẩn thận dùng cả ngón trỏ quét sạch những hạt cơm và chút canh dính mỡ bên miệng hoặc dưới cằm vào trong miệng. Nếu hạt cơm rơi lên quần áo, liền lập tức ấn một cái, nhặt bỏ vào miệng. Nếu ấn trượt một cái, hạt cơm từ quần áo rơi xuống đất, anh ta lập tức dừng hai chân lại, vặn nửa thân trên để tìm. Lúc này nếu anh ta chạm phải ánh mắt tôi, liền giảm bớt tốc độ.” (A Thành, “Kỳ vương”)
“Họ ăn thịt không giấu giếm ai. Đến dịp năm mới cũng mổ lợn. Mổ lợn ngay tại đại điện. Mọi thứ đều giống như người phàm gia đình bình thường, nước sôi, thùng gỗ, dao nhọn. Lúc trói lợn, con lợn cũng kêu la thảm thiết. Điểm khác với người phàm gia đình bình thường, là có thêm một nghi thức, phải đọc một bài ‘vãng sinh chú’ cho con lợn sắp sửa lên thiên đường, hơn nữa người đọc luôn là sư thúc lớn, thần thái vô cùng trang trọng: ‘... Hết thảy thai sinh, noãn sinh, thấp sinh, đến từ hư không, lại về hư không, vãng sinh chuyển thế, thảy đều hoan hỉ. Nam mô A Di Đà Phật!’ Sư phụ thứ ba Nhân Độ một dao cắm xuống, máu lợn đỏ tươi mang theo rất nhiều bọt tung tóe phun ra.” (Uông Tăng Kỳ, “Thụ giới”)
“Đêm đến nằm tỉnh giấc dưới ánh trăng, bóng hoa rải rác lộn xộn, ngập tràn tay áo, ngỡ như gột rửa tâm hồn trong chiếc bình băng.” (Lý Bạch)
“I have no money, no resources, no hopes. I am the happiest man alive. A year ago, six months ago, I thought that I was an artist. I no longer think about it, I am. Everything that was literature has fallen from me. There are no more books to be written, thank God.” (Henry Miller, “Chí tuyến ung thư”)
“I knew it was my own creature I heard scrabbling, and when Sissel heard it one afternoon and began to worry, I realised her fantasies were involved too, it was as sound which grew out of our love making. We heard it when we were finished and lying quite still on our backs, when we were empty and clear, perfectly quiet. It was the impression of small claws scrabbling blindly against a wall, such a distant sound it needed two people to hearit.” (Ian McEwan, “Tình đầu, trăng trối”)
Hôm nay tôi bắt chuyến bay sớm đi sân bay. Hơn năm giờ, mặt trời đã nhô lên, không chói chang, không nóng bức, nhưng tồn tại một cách không thể chối cãi, ánh vàng rực rỡ. Hai bên đường cao tốc ra sân bay, những hàng cây hòe non chưa to bằng miệng chén, phần thân cây gần mặt đất được quét vôi trắng, sát gần gốc cây, trên vạch kim tuyến, hoa diên vĩ xanh ngắt nở kín cả mặt đất.
Tôi nghĩ, đợi đến khi năng lực sáng tác của tôi cạn kiệt, tôi sẽ dành thời gian biên soạn một tuyển tập, tên đặt đúng là “Vạch kim tuyến”.
Xin nói đến đây thôi.
Phùng Đường