Việc dò hỏi lực lượng người làm tại Colby Hall chẳng đem lại mấy kết quả. Một vài người tỏ ra khá sợ hãi và khẳng định với Đại tá Colby rằng họ hoàn toàn không làm điều gì sai trái.
“Tôi không hề buộc tội ai ở đây cả,” người đứng đầu trường tuyên bố. “Tôi chỉ muốn tìm hiểu, nếu có thể, xem ai là kẻ đã gây ra hành vi quái đản này.”
Người ta ghi nhận được rằng có hai người đàn ông chở các chuyến xe nhu yếu phẩm cho trường đã đến đây trong buổi tối hôm đó. Tuy nhiên, cả hai đều không đi xa hơn phòng kho và đã rời đi ngay khi xong việc. Ngoài ra, theo như trí nhớ của đám người làm, không có người ngoài nào xuất hiện trong khuôn viên trường.
“Ấy thế mà những vết chân trên bậu cửa sổ và cầu thang thoát hiểm trông như thể do người bên ngoài gây ra vậy,” Đại úy Dale nói với hiệu trưởng.
“Rất có thể đây là một vụ trong ngoài phối hợp,” Giáo sư Grawson mạo hiểm đưa ra phán đoán.
“Ý thầy là sao?”
“Ai đó trong trường có thể đã thông đồng với kẻ gian bên ngoài—một tên trộm chuyên nghiệp chẳng hạn. Kẻ bên trong đã phím tin cho tên bên ngoài biết khi nào êm chuyện, thậm chí còn đứng cảnh giới trong lúc các căn phòng bị lục soát.”
“Cũng có khả năng đấy, Giáo sư. Nhưng trong trường này có ai khiến thầy nghi ngờ không?”
Nghe vậy, Giáo sư Grawson lắc đầu.
“Không, thưa ngài. Theo như tôi biết thì tất cả họ đều hoàn toàn trung thực.”
“Chúng ta có thể tiến hành khám xét toàn bộ các tòa nhà,” Đại úy Dale thông báo. “Chúng ta có thể tập hợp toàn bộ học viên ra khuôn viên trường và mời tất cả người làm vào phòng ăn, yêu cầu họ ở nguyên đó trong lúc cuộc khám xét diễn ra.”
“Một số người làm có thể sẽ phản đối đấy,” Giáo sư Watson lên tiếng.
“Nếu họ phản đối thì càng làm dấy lên sự nghi ngờ về phía họ,” Đại tá Colby nhanh chóng đáp lời. “Tôi nghĩ tốt hơn hết là cứ tiến hành kế hoạch này.”
Toàn bộ người trong trường được tập hợp lại như đã định. Đại úy Dale giải thích với các học viên về đề xuất này, còn Đại tá Colby cũng làm điều tương tự với lực lượng người làm.
“Chúng tôi hoàn toàn hoan nghênh việc khám xét phòng mình,” Thiếu tá Jack sốn sáo tuyên bố.
“Cả phòng tôi nữa,” khoảng hai mươi học viên khác cùng hùa theo.
“Tôi chắc chắn mình không có gì phải giấu giếm cả,” Trung úy Harkness góp lời.
“Tôi cũng chẳng có gì phải giấu,” Brassy Bangs chen vào. “Các thầy cứ việc khám phòng tôi thoải mái.” Trước đó cậu ta đã báo mất một chiếc kim cài cà vạt cùng sáu đô la và hai mươi lăm xu tiền mặt.
Về phía người làm thì có ít nhiều tiếng rì rầm bàn tán. Một bà bếp già người Ireland đã làm việc tại đây từ ngày trường mới mở cửa tỏ vẻ băn khoăn, lắc đầu.
“Thật tình, tôi không nghĩ ngài lại coi tôi là kẻ trộm đâu, Đại tá Colby,” Bridget nói, ánh mắt nghiêm nghị nhìn người đứng đầu nhà trường.
“Tôi không coi ai là kẻ trộm cả, bà Mulligan,” ông đáp. “Nhưng sẽ là không công bằng nếu khám xét phòng người này mà lại bỏ qua phòng người khác.”
“Dạ, ngài nói thế thì chuẩn rồi,” bà bếp gật đầu đồng tình. “Nếu ngài đã nhìn nhận vấn đề như thế thì cứ việc vào khám phòng tôi thoải mái. Chỉ xin đừng làm xáo trộn mấy món đồ kỷ niệm của người mẹ quá cố của tôi là được.”
Cuộc khám xét được tiến hành không chậm trễ, với sự tham gia của tất cả các giáo viên và những học viên bị mất đồ. Công việc này chiếm trọn thời gian còn lại của buổi sáng. Từng căn phòng đều được rà soát kỹ lưỡng. Khi phát hiện thấy bất kỳ đồ trang sức hay vật dụng nào giống với số đồ đạc báo mất, tất cả những người bị hại đều được mời đến xem để nhận diện.
“Chà! Chếc bút máy kia là của em này,” một cậu học viên bất ngờ reo lên. Nhưng rồi ngay sau đó cậu ta lại tiu tĩu thêm vào: “À không, không sao đâu ạ. Em cho Bill Latimer mượn từ vài tuần trước rồi mà quên mất.”
Ngoài sự cố nhỏ đó ra, cuộc khám xét kết thúc mà không có bất kỳ điều gì bất thường xảy ra. Không một món đồ bị mất nào được tìm thấy trong các phòng của học viên hay lực lượng người làm. Người ta cũng chẳng phát hiện được gì trong các phòng khác hay các tủ đồ của nhà trường.
“Thật là hóc húa,” Đại tá Colby lên tiếng sau khi cuộc khám xét khép lại. “Theo tôi thấy thì có vẻ như tên trộm đã tẩu thoát cùng toàn bộ số tài sản lấy được rồi.”
“Hoặc là hắn có một nơi cất giấu nào đó mà chúng ta chưa đào xới ra,” Đại úy Dale trả lời.
Sau đó, lực lượng người làm được thông báo có thể giải tán, và bữa trưa nhanh chóng được phục vụ cho học viên cùng các giáo viên. Tiếp đến, khi các học sinh được lệnh vào lớp học buổi chiều, Đại tá Colby và Đại úy Dale đã họp bàn trong văn phòng rồi báo cho chính quyền cảnh sát địa phương.
“Tôi thật sự không muốn phải làm thế này,” Đại tá Colby than thở. “Nhưng xem ra không còn cách nào khác. Việc này chắc chắn sẽ làm hoen ố uy tín nhà trường.”
“Nhưng tôi thấy không ai có thể đổ lỗi cho ngài về vụ này được,” Đại úy Dale trấn an. “Chúng ta đã cảnh giác chẳng kém gì bất kỳ nơi nào khác.”
“Tất nhiên tôi sẽ không để các học viên của chúng ta phải chịu thiệt thòi,” người đứng đầu nhà trường nhanh chóng tiếp lời. “Tôi sẽ yêu cầu từng em định giá cẩn thận những đồ đạc đã mất, và nếu không thu hồi được trước khi kết thúc học kỳ, tôi sẽ đền bù toàn bộ tổn thất.”
“Đó là một hành động rất tuyệt vời của ngài, Đại tá Colby. Và tôi nghĩ đó cũng là một khoản đầu tư xứng đáng,” Đại úy Dale nói thêm. “Điều đó sẽ chứng minh cho phụ huynh của các em thấy rằng ngài luôn coi trọng trách nhiệm khi các em nằm dưới sự quản lý của ngài.”
Khi nhà chức trách địa phương đến trường, họ đã cùng Đại tá Colby và một số người khác đi kiểm tra kỹ lưỡng hiện trường và đặt ra vô số câu hỏi.
“Đang có một số người lạ mặt lưu trú trong thị trấn, phần lớn là nhân viên tiếp thị,” viên cảnh sát trưởng thông báo. “Tôi sẽ rà soát họ, đồng thời điều tra bất kỳ tên lang thang hay nhân dạng nghi vấn nào vảng vất quanh đây.” Lúc đó ông ta chỉ có thể nói được bấy nhiêu. Ngay sau đó, ông cùng các hạ cấp rời đi.
Tối hôm đó, Jack tìm thấy một lá thư trong hòm thư của mình, được gửi từ Haven Point vào sáng sớm cùng ngày. Thư là của Ruth. Ngoài ra còn có một mảnh giấy nhắn ngắn gọn gửi cho Fred từ May.
Trong lá thư gửi cho vị tân thiếu tá, Ruth nồng nhiệt chúc mừng thành công của cậu và bày tỏ hy vọng sớm được nhìn thấy cậu dẫn đầu tiểu đoàn trong một buổi diễu hành. Sau đó, cô viết về buổi đi xe trượt tuyết đã bị hủy như sau:
“Tớ nhận được lời mời tham gia buổi tiệc đó từ Lester Bangs, còn May thì nhận được lời mời từ Paul Halliday. Jennie Mason, Ida Brierley cùng mấy đứa con gái khác cũng được mời và họ rất muốn tụi tớ đi cùng. Nhưng dĩ nhiên là tớ không đời nào muốn đi với một gã như Bangs rồi. Thế rồi hắn đến gặp tớ và phao tin rằng toàn bộ nhóm Rover các cậu sắp đi dự một buổi tiệc khác với mấy đứa con gái trong thị trấn, và buổi tiệc đó diễn ra đúng vào cái đêm tổ chức tiệc của tụi tớ. Dĩ nhiên tớ chẳng muốn soi mói gì chuyện đó, vì tớ hiểu các cậu có quyền làm những gì mình thích. Nhưng tớ đã thẳng thừng bảo Bangs rằng tớ sẽ không đi với hắn, và May cũng nói điều tương tự với Halliday. Thế là cả hai gã đó liền giận dữ và cáo buộc cậu cùng em họ cậu cố tình phá hỏng chuyến dạo chơi của hắn. Tớ đã bảo hắn rằng các cậu chẳng liên quan gì đến việc này, nhưng hắn nhất quyết khẳng định là có, rồi dọa rằng các cậu tốt nhất nên cẩn thận kẻo rước họa vào thân. Vậy nên Jack ơi, cậu nhớ cẩn trọng với hắn nhé, và dặn Fred cũng phải coi chừng Halliday cùng những kẻ khác nữa.”
Lá thư còn dài nữa, và Jack đọc nội dung với niềm thích thú lớn. Cậu cảm thấy trút được gánh nặng lớn khi biết Ruth không hề có ý định nhận lời mời của Brassy. Sau đó, cậu gửi lại cho cô một lá thư ngắn để cảm ơn những lời chúc mừng chân thành, đồng thời giải thích rằng tin đồn về buổi tiệc khác giữa nhóm Rover với mấy cô gái ở Haven Point hoàn toàn là chuyện bịa đặt.
Mảnh giấy nhắn Fred nhận được cũng có nội dung tương tự lá thư gửi cho Jack. Cậu liền gửi lời cho May để làm sáng tỏ mọi chuyện.
“Bangs và Halliday chơi trò hèn hạ thật đấy,” vị tân đại úy của Đại đội C tuyên bố. “Chúng ta phải dạy cho tụi nó một bài học mới được.”
“Chúng ta không thể làm thế được đâu Fred, bây giờ anh đã là thiếu tá còn em là đại úy rồi,” Jack đáp lại. “Hãy nhớ lời Đại tá Colby dặn: Chúng ta phải làm tấm gương cho các học viên khác.”
“Trời đất ơi! Chẳng lẽ như thế có nghĩa là chúng ta không được đứng lên bảo vệ quyền lợi của mình sao?” cậu út nhà Rover bất bình lên tiếng.
“Không phải thế đâu Fred. Nếu tụi nó dám ăn nói tào lao, cứ bật lại ngay. Còn nếu tụi nó ra tay trước, em hãy cứ tự vệ hết sức có thể.”
Như đã đề cập trước đó, Snopper Duke đã vắng mặt khỏi Colby Hall trong suốt cuộc bầu cử sĩ quan và buổi ăn mừng diễn ra sau đó. Khi trở về, trông ông rất lo âu, và sự lo lắng đó càng tăng lên gấp bội khi ông bước vào phòng mình.
“Đại tá Colby ơi, tôi cũng bị mất trộm rồi!” ông gào lên khi hớt hơ hớt hãi chạy xuống văn phòng. “Tôi bị lấy mất một hộp đựng danh thiếp bằng bạc, lại còn cả một chiếc đồng hồ vàng gia bảo truyền qua mấy đời nhà tôi nữa—chiếc đồng hồ của cha và ông nội tôi!”
“Thật là tệ quá, Giáo sư Duke,” người đứng đầu trường nghiêm nét mặt trả lời. “Tôi có thể hỏi các món đồ đó trị giá khoảng bao nhiêu không?”
“Tôi nghĩ cái hộp danh thiếp chắc chỉ giá vài đô la, nhưng chiếc đồng hồ làm bằng vàng, tôi đoán chắc phải đáng giá năm sáu mươi đô la. Đó là vật gia bảo mà tôi cực kỳ trân quý.”
“Tôi đang cố gắng hết sức để điều tra vụ trộm này,” Đại tá Colby nói. “Nhưng cho đến nay mọi nỗ lực đều chưa đi đến đâu. Nếu các vật dụng không được thu hồi trước khi khóa học kết thúc, tôi dự định sẽ bồi thường toàn bộ những gì đã bị mất.” Và đó là tất cả những gì người đứng đầu Colby Hall có thể hứa hẹn.
Phải thừa nhận rằng cả Jack và Fred đều cảm thấy rất đỗi tự hào khi buổi diễu hành chính thức đầu tiên của tiểu đoàn diễn ra vào mùa xuân năm đó. Hai anh em dĩ nhiên đã gửi thư về nhà báo tin bầu cử và được cho phép sắm sửa quân phục mới. Cả hai trông vô cùng bảnh bao và tươm tấp khi dẫn đầu các đơn vị của mình tiến ra sân. Đó là một ngày nắng đẹp, ấm áp, và Đại tá Colby thông báo rằng các học viên có thể diễu hành qua Haven Point đến Clearwater Hall rồi quay về nếu muốn.
“Hoan hô! Tuyệt vời quá!” Fred reo lên.
Thế là kế hoạch được ấn định. Một giáo viên đã gọi điện sang học viện nữ sinh để thông báo cho bên đó biết trước tình hình. Sau đó, một học viên đã gọi cho Felix Falstein, chủ sở hữu rạp chiếu bóng ở Haven Point.
“Falstein lúc nào cũng chăng cờ đón mừng chúng ta mà,” cậu học viên này nói. “Lần này chắc chắn ông ấy cũng sẽ làm thế.”
Colby Hall giờ đây đã tự hào sở hữu một đội kèn trống gồm mười hai thành viên. Họ tấu lên những bản nhạc rộn rã khi tiểu đoàn tiến bước về hướng Haven Point. Trừ ba bốn học viên ra, tất cả đều trong trạng thái phấn khởi tột cùng.
“Tớ thấy việc diễu hành sang Clearwater Hall thật là dở hơi,” Brassy Bangs cằn nhằn với vẻ hằn học. “Sao họ không diễu hành đến chỗ nào đáng đi hơn, hoặc chỉ cần đi quanh thị trấn rồi thôi có phải xong không?”
“Tớ đoán thằng Jack Rover chỉ muốn thể hiện trước mặt mấy đứa con gái thôi,” Paul Halliday càu nhàu.
“Nếu trốn được thì tớ cũng chẳng đi làm gì,” Brassy hầm hừ.
“Ồ, đừng có rên rỉ nữa,” gã cạ cứng của hắn nhanh chóng can ngăn. “Cậu mà làm thế thì tụi nó chỉ cười vào mặt rồi bắt chúng ta đi bằng được thôi.”
“Bangs, chú ý!” đại úy Đại đội B—đơn vị mà Brassy thuộc về—hét lớn. “Không được nói chuyện trong hàng!” Ngay lập tức, các học viên im bặt.
Đúng như dự đoán, khi các học viên đến Haven Point, họ nhận ra Felix Falstein đã vượt xa mong đợi trong việc trang hoàng. Không chỉ treo nhiều cờ trước mặt tiền rạp hát, ông còn giăng hai lá cờ lớn ngang qua đường, và ở giữa treo một tấm băng rôn được vẽ từ trước với dòng chữ:
CHÀO MỪNG ĐẾN VỚI
COLBY HALL
“Tốt bụng quá nhỉ,” Jack nhận xét khi đang diễu hành ở đầu đoàn cùng Đại úy Dale cưỡi ngựa ngay bên cạnh.
“Rất tuyệt vời, Thiếu tá Rover,” vị sĩ quan quân đội đáp lời.
“Không biết chúng ta có thể dừng lại đây và thực hiện bài diễn tập thao tác vũ khí được không ạ?” vị tân thiếu tá hỏi thêm.
“Tất nhiên rồi, nếu cậu muốn.”
“Tiểu đoàn, đứng lại!” Jack quay người lại hô lớn, và cả ba đại đội lập tức dừng bước.