Ký ức về khoảng ba ngày ba đêm tiếp theo trong tâm trí tôi vô cùng mờ nhạt. Tôi có thể nhớ lại một vài cảm giác trải qua trong khoảng thời gian ấy; nhưng rất ít suy nghĩ hình thành và chẳng có hành động nào được thực hiện. Tôi biết mình đang ở trong một căn phòng nhỏ trên một chiếc giường hẹp. Tôi có cảm giác như đã dính liền với chiếc giường ấy; tôi nằm bất động như một hòn đá trên đó; và việc bứt tôi ra khỏi nơi ấy chẳng khác nào đoạt đi mạng sống của tôi. Tôi hoàn toàn không mờ hồ nhận thức được thời gian trôi qua—chẳng phân biệt nổi sáng trưa, hay chiều tối. Tôi quan sát thấy bất cứ ai bước vào hay rời khỏi phòng: tôi thậm chí có thể nhận ra họ là ai; tôi hiểu được những điều người ta nói khi họ đứng gần tôi; nhưng tôi không thể cất lời đáp lại; việc hé môi hay cử động chân tay đều bất khả thi như nhau.
Hannah, người hầu gái, là người ghé thăm tôi thường xuyên nhất. Sự xuất hiện của bà làm tôi phiền lòng. Tôi có cảm giác bà muốn tôi đi cho khuất mắt: rằng bà không hiểu tôi hay hoàn cảnh của tôi; rằng bà đang thành kiến với tôi. Diana và Mary xuất hiện trong phòng một hoặc hai lần mỗi ngày. Họ thường thì thầm những câu thế này bên giường bệnh của tôi—
“Thật may vì chúng ta đã thu nhận cô ấy.”
“Đúng vậy; nếu để ở ngoài suốt cả đêm, chắc chắn sáng ra người ta sẽ thấy cô ấy chết cóng ở cửa rồi. Không biết cô ấy đã trải qua những chuyện gì nữa?”
“Chắc là những nỗi gian truân kỳ lạ—tội nghiệp, hốc hác, xanh xao làm sao!”
“Tôi nghĩ cô ấy không phải là kẻ thất học đâu, nhìn cách nói chuyện kìa; giọng điệu hoàn toàn trong trẻo; và những bộ quần áo cô ấy cởi ra, dù dính đầy bùn đất và ẩm ướt, nhưng tinh tế và còn rất ít mặc.”
“Cô ấy có một gương mặt đặc biệt; dẫu gầy guộc và hốc hác, tôi lại khá thích nó; và khi khỏe mạnh hay hoạt bát, tôi tưởng tượng nét mặt của cô ấy sẽ rất dễ ưa.”
Chưa một lần nào trong những cuộc trò chuyện ấy, tôi nghe thấy một lời phàn nàn về lòng hiếu khách mà họ dành cho tôi, hay chút nghi ngờ, ác cảm nào đối với bản thân tôi. Tôi cảm thấy được an ủi.
Ông St. John chỉ đến thăm một lần: ông nhìn tôi và nói rằng tình trạng lờ đờ này là hệ quả của phản ứng sau những mệt mỏi quá độ và kéo dài. Ông tuyên bố chẳng cần phải mời bác sĩ làm gì: ông chắc chắn rằng tự thiên nhiên sẽ giải quyết tốt nhất nếu cứ để mặc nó. Ông bảo mọi dây thần kinh đều bị căng thẳng quá mức theo cách nào đó, và toàn bộ cơ thể cần phải ngủ mê mệt một thời gian. Chẳng có bệnh tật gì cả. Ông tin rằng việc hồi phục của tôi sẽ diễn ra khá nhanh một khi đã bắt đầu. Ông đưa ra những nhận định ấy chỉ bằng vài lời, với giọng nói trầm tĩnh, nhỏ nhẹ; rồi nói thêm sau một khoảng lặng, bằng giọng điệu của một người ít khi quen bình luận dài dòng: “Quả là một diện mạo khá khác thường; chắc chắn không mang vẻ phàm tục hay thấp kém.”
“Hoàn toàn ngược lại,” Diana đáp lời. “Thú thật với anh, St. John, lòng tôi khá rung động trước tội nghiệp sinh linh bé nhỏ này. Tôi mong chúng ta có thể giúp ích gì đó lâu dài cho cô ấy.”
“Chuyện đó khó xảy ra lắm,” câu trả lời vang lên. “Em sẽ thấy cô ấy chỉ là một tiểu thư nào đó đã xảy ra xích mích với người thân, và có lẽ đã thiếu suy nghĩ khi bỏ đi. Có lẽ chúng ta sẽ thành công trong việc đưa cô ấy về với họ, nếu cô ấy không bướng bỉnh: nhưng anh nhận ra những nét cương nghị trên gương mặt ấy, khiến anh hoài nghi về độ dễ bảo của cô ấy.” Ông đứng ngắm tôi vài phút; rồi nói thêm: “Trông cô ấy ra điều hiểu biết, nhưng hoàn toàn chẳng xinh đẹp gì.”
“Cô ấy đang ốm nặng mà, St. John.”
“Dù ốm hay khỏe, cô ấy vẫn cứ tầm thường thôi. Những đường nét thanh tú và hài hòa của cái đẹp hoàn toàn vắng bóng trên gương mặt đó.”
Sang đến ngày thứ ba, tôi đã khá hơn; đến ngày thứ tư, tôi đã có thể nói chuyện, cử động, ngồi dậy trên giường và xoay người. Hannah mang đến cho tôi ít cháo loãng và bánh mì nướng khô, có lẽ vào khoảng giờ ăn trưa. Tôi ăn rất ngon miệng: thức ăn ngon tuyệt—không còn chút hương vị sốt sắng đến phát ốm từng đầu độc những gì tôi nuốt trước đó. Khi bà rời đi, tôi cảm thấy khỏe khoắn và hồi sức hơn hẳn; chẳng bao lâu sau, sự chán ngấy việc nằm nghỉ và khao khát được vận động đã thôi thúc tôi. Tôi muốn đứng dậy; nhưng tôi có thể mặc gì đây? Chỉ có bộ quần áo ẩm ướt và dính đầy bùn đất mà tôi đã mặc khi ngủ trên mặt đất và ngã xuống đầm lầy. Tôi cảm thấy xấu hổ khi xuất hiện trước những ân nhân của mình trong trang phục như thế. Nhưng tôi đã được miễn khỏi nỗi nhục nhã ấy.
Trên chiếc ghế cạnh giường đặt toàn bộ đồ đạc của tôi, đã được giặt sạch và phơi khô. Chiếc váy lụa đen của tôi treo áp vào tường. Những vết bùn đã được tẩy sạch khỏi nó; những nếp nhăn do nước gây ra cũng được là phẳng phiu: trông rất đỗi chỉnh tề. Ngay cả giày và tất của tôi cũng được làm sạch sẽ và trông rất đàng hoàng. Trong phòng có sẵn dụng cụ để rửa mặt, cùng một chiếc lược và bàn chải để chải tóc. Sau một quá trình mệt mỏi, cứ năm phút lại phải nghỉ một lần, cuối cùng tôi cũng tự mặc được quần áo cho mình. Quần áo mặc lên người tôi thùng thình vì tôi sụt cân quá nhiều, nhưng tôi dùng một chiếc khăn choàng để che đi những chỗ rộng thùa thồ đó, và một lần nữa, với vẻ ngoài sạch sẽ, đáng kính—không còn một vết bẩn, không còn chút xíu lôi thôi nào mà tôi vốn căm ghét và tưởng chừng làm mình suy sụp—tên tôi vịn tay vịn cầu thang đá rón rén bước xuống một hành lang hẹp và thấp, rồi nhanh chóng tìm được đường xuống nhà bếp.
Nơi đây ngập tràn hương thơm của bánh mì mới nướng và hơi ấm của ngọn lửa hồng rực rỡ. Hannah đang làm bánh. Ai cũng biết rằng định kiến là thứ khó rễ má nhất trong những tâm hồn mà đất đai chưa từng được cày xới hay bón phân bằng học thức: chúng mọc ở đó, vững chắc như cỏ dại chen lẫn giữa những hòn đá. Quả thực, Hannah đã từng lạnh lùng và cứng nhắc lúc ban đầu; nhưng sau đó bà bắt đầu dịu lại đôi chút; và khi thấy tôi bước vào gọn gàng, ăn mặc chỉnh tề, bà thậm chí còn mỉm cười.
“Ơ kìa, cô đã dậy rồi sao!” bà nói. “Vậy là cô khỏe hơn rồi đấy. Cô có thể ngồi vào chiếc ghế của tôi bên lò sưởi, nếu muốn.”
Bà chỉ vào chiếc ghế bập bênh: tôi liền ngồi xuống. Bà tất bật đi lại, chốc chốc lại liếc xéo quan sát tôi. Quay sang tôi khi đang lấy mấy ổ bánh mì ra khỏi lò, bà cộc lốc hỏi—
“Trước khi đến đây, có bao giờ cô đi ăn mày chưa?”
Tôi thoáng nổi giận; nhưng nhớ ra rằng sự tức giận lúc này là vô ích, và quả thực tôi đã xuất hiện trước mặt bà chẳng khác nào một kẻ hành khất, tôi điềm tĩnh đáp, dù vẫn mang một vẻ cương quyết rõ rệt—
“Bà lầm khi cho rằng tôi là kẻ ăn mày. Tôi không phải kẻ ăn mày; cũng chẳng khác gì bà hay các cô chủ của bà cả.”
Sau một khoảng lặng, bà nói: “Tôi chẳng hiểu nổi điều đó: tôi đoán là cô chẳng có nhà cửa lẫn xu dính túi nào đúng không?”
“Việc thiếu nhà cửa hay tiền bạc (mà tôi cho là ý bà muốn nói đến) không tạo ra một kẻ ăn mày theo nghĩa từ đó của bà.”
“Cô có được học hành chữ nghĩa không?” lát sau bà lại hỏi.
“Có, rất nhiều.”
“Nhưng chắc chưa từng học trường nội trú bao giờ chứ?”
“Tôi đã ở một trường nội trú suốt tám năm.”
Bà trợn tròn mắt. “Thế thì sao cô lại không thể tự nuôi nổi mình?”
“Tôi đã tự nuôi sống bản thân, và tôi tin rằng mình sẽ lại tự nuôi được chính mình. Bà định làm gì với đám quả lý gai này vậy?” tôi hỏi khi bà mang ra một giỏ hoa quả.
“Làm bánh nướng.”
“Đưa đây tôi nhặt cho.”
“Thôi đi; tôi chẳng muốn cô phải làm gì cả.”
“Nhưng tôi phải làm việc gì đó chứ. Đưa chúng đây cho tôi nào.”
Bà đành chịu thua; thậm chí còn mang cho tôi một chiếc khăn sạch để trải lên váy, “kẻo,” như bà nói, “lại làm bẩn mất.”
“Nhìn tay cô là tôi biết chưa từng quen làm việc nặng của người hầu rồi,” bà nhận xét. “Hay cô từng là thợ may?”
“Không, bà đoán sai rồi. Giờ thì đừng bận tâm tôi từng làm nghề gì nữa: đừng tự làm rối trí vì tôi thêm nữa; hãy nói cho tôi biết tên cái ngôi nhà chúng ta đang ở đi.”
“Người thì gọi là Marsh End, kẻ thì gọi là Moor House.”
“Và người quý tộc sống ở đây tên là Mr. St. John phải không?”
“Không; cậu ấy không sống ở đây: cậu ấy chỉ ở lại đây một thời gian thôi. Khi ở nhà, cậu ấy ở giáo xứ của mình ở Morton.”
“Cái làng cách đây vài dặm ấy hả?”
“Đúng thế.”
“Và ngài ấy làm nghề gì?”
“Cậu ấy là mục sư.”
Tôi sực nhớ lại câu trả lời của bà quản gia già ở nhà xứ khi tôi ngỏ ý muốn gặp vị mục sư. “Vậy đây từng là nơi ở của cha ngài ấy sao?”
“Đúng vậy; cụ ông Rivers sống ở đây, rồi đến cha cậu ấy, ông nội, và cụ (ông cố) cố của cậu ấy trước đó nữa.”
“Thế ra tên vị quý tộc đó là Mr. St. John Rivers?”
“Đúng thế; St. John coi như tên thánh của cậu ấy.”
“Còn các chị em gái của ngài ấy tên là Diana và Mary Rivers?”
“Vâng.”
“Cha họ mất rồi à?”
“Mất cách đây ba tuần vì đột quỵ.”
“Họ không còn mẹ nữa ư?”
“Bà chủ đã qua đời từ nhiều năm nay rồi.”
“Bà đã sống với gia đình này lâu chưa?”
“Tôi sống ở đây ba mươi năm rồi. Chính tay tôi đã nuôi nấng cả ba cậu cô chủ đấy.”
“Điều đó chứng tỏ bà hẳn là một người hầu trung thực và tận tụy. Tôi xin ghi nhận điều đó ở bà, dù bà đã bất lịch sự gọi tôi là kẻ ăn mày.”
Bà lại nhìn tôi trân trân đầy kinh ngạc. “Tôi tin rằng,” bà nói, “tôi đã hoàn toàn lầm lẫn khi nghĩ về cô: nhưng có quá nhiều kẻ lừa đảo ngoài kia, cô hãy tha thứ cho tôi nhé.”
“Và mặc dù,” tôi tiếp lời, với giọng điệu có phần nghiêm khắc, “bà đã muốn đuổi tôi khỏi cửa vào một đêm mà đến con chó bà cũng chẳng nỡ đẩy ra ngoài.”
“Thì, đúng là quá đáng thật: nhưng người ta biết làm sao được? Tôi nghĩ cho bọn trẻ nhiều hơn nghĩ cho bản thân mình: tội nghiệp chúng nó! Chúng chẳng có ai chăm sóc ngoài tôi cả. Tôi buộc phải cẩn trọng chứ.”
Tôi giữ vẻ mặt nghiêm nghị im lặng suốt mấy phút liền.
“Cô đừng nghĩ ngợi quá khắt khe về tôi nhé,” bà lại lên tiếng.
“Nhưng tôi thực sự đang nghĩ khắt khe về bà đấy,” tôi nói; “và tôi sẽ nói cho bà lý do—không hẳn vì bà từ chối cho tôi tá túc, hay coi tôi là kẻ giả mạo, mà vì ban nãy bà vừa chì chiết chuyện tôi không có ‘xu dính túi’ và chẳng có lấy một mái nhà. Một số người vĩ đại nhất từng sống trên đời cũng từng khốn khó y như tôi; và nếu là một tín độ Kito giáo, bà không nên coi sự nghèo khó là một tội ác.”
“Tôi không nên thật đấy,” bà nói: “Mr. St. John cũng bảo tôi thế; và tôi thấy mình đã sai—nhưng giờ tôi có cái nhìn hoàn toàn khác về cô so với trước rồi. Cô trông đúng là một con nhỏ đàng hoàng tử tế.”
“Thế là đủ rồi—tôi tha thứ cho bà đấy. Bắt tay nào.”
Bà đặt bàn tay dính đầy bột và chai sần của mình vào tay tôi; một nụ cười rạng rỡ và chân thành hơn bừng sáng trên khuôn mặt thô kệch ấy, và từ khoảnh khắc đó, chúng tôi trở thành bạn bè.
Hannah rõ ràng rất thích trò chuyện. Trong lúc tôi nhặt quả và bà nhào bột làm bánh, bà bắt đầu kể cho tôi nghe đủ thứ chi tiết về người chủ và bà chủ đã quá cố cùng “bọn trẻ,” theo cách gọi của bà dành cho những người trẻ tuổi.
Bà kể, cụ ông Rivers là một người khá giản dị nhưng là một quý ông, thuộc dòng dõi danh gia vọng tộc vào loại bậc nhất. Marsh End đã thuộc về dòng họ Rivers từ khi nó còn là một ngôi nhà: và bà khẳng định, “nó đã trên hai thế tuổi—dù nhìn chỉ là một chốn nhỏ bé, khiêm nhường, chẳng thấm vào đâu so với trang viên nguy nga của ông Oliver dưới thung lũng Morton Vale. Thế nhưng bà vẫn nhớ cha của Bill Oliver vốn chỉ là một thợ làm kim thuê; trong khi dòng họ Rivers đã là thế phiệt từ thời các đời vua Henry, bất cứ ai cũng có thể thấy rõ điều đó khi lật giở sổ sách trong phòng áo lễ nhà thờ Morton.” Tuy nhiên, bà thừa nhận, “cụ ông chủ cũng giống bao người khác—chẳng có gì quá ư đặc biệt: mê bắn súng, làm ruộng và mấy thứ đại loại thế đến phát cuồng.” Bà chủ thì khác. Bà rất hay đọc sách và nghiên cứu nhiều; và mấy đứa “trẻ con” đều thừa hưởng nét đó từ bà. Chẳng có ai giống như chúng ở vùng này, và chưa từng có; cả ba đứa đều ham học hỏi, hầu như từ khi biết nói; và chúng luôn có “một phong cách rất riêng.” Mr. St. John, khi lớn lên, sẽ vào đại học để làm mục sư; còn các cô con gái, ngay khi rời trường, sẽ tìm việc làm gia sư: vì họ từng kể với bà rằng cha họ cách đây vài năm đã mất rất nhiều tiền do một người được ông tin tưởng bỗng phá sản; và vì giờ ông không đủ giàu để để lại gia sản cho họ, nên họ phải tự lo lấy thân. Thời gian dài họ rất ít khi ở nhà, và giờ chỉ mới về đây ở lại vài tuần vì tang sự của cha; nhưng họ rất quý Marsh End và Morton cùng toàn bộ những vùng đồi hoang quanh đây. Họ từng đến Luân Đôn và nhiều thành phố lớn khác, nhưng họ luôn miệng bảo chẳng có nơi nào bằng nhà mình; rồi họ lại vô cùng hòa thuận với nhau—chẳng bao giờ cãi vã hay tranh chấp. Bà chẳng biết tìm đâu ra một gia đình nào gắn kết đến thế.
Làm xong việc nhặt quả lý gai, tôi hỏi hai vị tiểu thư và người anh trai của họ giờ đang ở đâu.
“Họ sang Morton đi dạo rồi; nhưng sẽ về kịp lúc uống trà sau nửa tiếng nữa.”
Họ trở về đúng thời gian Hannah đã định: họ bước vào từ cửa nhà bếp. Mr. St. John, khi nhìn thấy tôi, chỉ cúi đầu chào rồi bước thẳng qua; hai tiểu thư thì dừng lại: Mary dùng vài lời lẽ ân cần và điềm tĩnh bày tỏ niềm vui khi thấy tôi đã khỏe để có thể xuống nhà; Diana nắm lấy tay tôi và lắc đầu ái ngại.
“Lẽ ra cô nên đợi sự cho phép của tôi rồi hãy xuống chứ,” cô nói. “Cô vẫn còn xanh xao lắm—lại gầy thế này nữa! Tội nghiệp đứa trẻ!—tội nghiệp cô gái!”
Giọng nói của Diana vang lên trong tai tôi dịu dàng như tiếng chim gù. Đôi mắt cô có ánh nhìn khiến tôi vô cùng thích thú khi chạm phải. Toàn bộ gương mặt cô dường như tràn ngập vẻ quyến rũ. Gương mặt Mary cũng thông minh không kém—các đường nét cũng xinh xắn chẳng kém; nhưng biểu cảm của cô ấy kín đáo hơn, và phong thái dẫu dịu dàng nhưng lại có phần xa cách hơn. Diana nhìn và nói với một uy quyền nhất định: rõ ràng cô là người có chủ kiến. Bản tính tôi vốn cảm thấy dễ chịu khi được khuất phục trước một uy quyền được hậu thuẫn như thế của cô, và sẵn sàng cúi đầu, ở những giới hạn mà lương tâm và lòng tự trọng cho phép, trước một ý chí mạnh mẽ.
“Và cô làm gì ở đây thế này?” cô tiếp lời. “Đây không phải chỗ của cô. Mary và tôi đôi khi ngồi trong nhà bếp, bởi vì ở nhà chúng tôi thích sự phóng khoáng, thậm chí đến mức xuề xòa—nhưng cô là khách, phải vào phòng khách chứ.”
“Tôi ở đây rất ổn mà.”
“Không ổn chút nào đâu, khi Hannah cứ tất bật xung quanh và làm bột vương đầy người cô thế kia,” cô nói.
“Hơn nữa, lửa ở đây quá nóng đối với cô,” Mary chen vào.
“Đúng thế rồi,” người em gái hùa theo. “Nào, cô phải ngoan ngoãn nghe lời chứ.” Và vẫn nắm lấy tay tôi, cô bắt tôi đứng dậy rồi dẫn tôi vào căn phòng phía trong.
“Ngồi đây nhé,” cô nói, đỡ tôi ngồi lên chiếc ghế sô-bpha, “trong lúc chúng tôi thay đồ và chuẩn bị nước trà; đó lại là một đặc quyền nữa mà chúng tôi tận hưởng ở tổ ấm vùng hoang mạc này—tự chuẩn bị bữa ăn khi thích, hoặc khi Hannah đang bận nướng bánh, nấu bia, giặt giũ hay là ủi.”
Cô khép cửa lại, để mặc tôi một mình với Mr. St. John, người đang ngồi đối diện, tay cầm một cuốn sách hoặc tờ báo. Tôi quan sát, trước tiên là căn phòng khách, rồi đến người đang ngồi trong đó.
Phòng khách là một căn phòng khá nhỏ, được bày trí rất đơn giản nhưng ấm cúng nhờ sự sạch sẽ và ngăn nắp. Những chiếc ghế kiểu cổ sáng bóng, và chiếc bàn gỗ óc chó trông như một tấm gương soi. Vài bức chân dung cổ kính, lạ lẫm vẽ những người đàn ông và phụ nữ thời xưa treo trên những bức tường quét vôi màu; một chiếc tủ kính có bày vài cuốn sách và một bộ đồ trà cổ. Chẳng có món đồ trang trí thừa thãi nào trong phòng—không một món đồ nội thất hiện đại nào ngoại trừ một cặp hộp đựng đồ khâu và một chiếcáp tráp đựng tài liệu bằng gỗ hồng mộc đặt trên chiếc bàn phụ: mọi thứ—bao gồm cả thảm trải sàn và rèm cửa—trông vừa cũ dãi dầu nhưng lại được bảo quản vô cùng cẩn trọng.
Mr. St. John—ngồi bất động như một trong những bức tranh phủ đầy bụi trên tường, dán chặt mắt vào trang sách đang đọc và đôi môi mím chặt—rất dễ để tôi quan sát. Dù anh ta có là một bức tượng chứ không phải con người đi chăng nữa, thì việc ngắm nhìn cũng chẳng thể dễ dàng hơn là mấy. Anh ta còn trẻ—có lẽ khoảng từ hai mươi tám đến ba mươi tuổi—cao ráo, mảnh khảnh; gương mặt anh ta lập tức thu hút ánh nhìn; nó tựa như khuôn mặt Hy Lạp, với những đường nét vô cùng thanh tú: một chiếc mũi thẳng tắp, đậm chất cổ điển; một cái miệng và chiếc cằm hoàn toàn mang phong cách Athens. Quả thực hiếm có gương mặt người Anh nào lại gần với các hình mẫu cổ đại đến thế. Thảo nào anh ta có phần kinh ngạc trước sự bất cân xứng trên các nét mặt của tôi, trong khi nét mặt chính mình lại hài hòa đến vậy. Đôi mắt anh ta to và có màu xanh thẳm, viền mi màu nâu; chiếc trán cao, trắng bệch như ngà voi, bị che khuất một phần bởi những lọn tóc vàng buông xõa hờ hững.
Đó là một miêu tả dịu dàng phải không, hỡi độc giả? Thế nhưng con người được miêu tả ấy lại hầu như chẳng mang lại ấn tượng về một bản tính ôn hòa, dễ lay chuyển, dễ mủi lòng, hay thậm chí là điềm tĩnh. Dù đang ngồi im lìm là thế, ở khóe mũi, khóe miệng và vầng trán của anh ta vẫn ẩn chứa điều gì đó, theo cảm nhận của tôi, cho thấy những yếu tố bên trong hoặc bất an, hoặc cứng cỏi, hoặc đầy khao khát. Anh ta không nói với tôi lấy một lời, thậm chí chẳng liếc nhìn tôi lấy một cái cho đến khi các chị em gái quay trở lại. Diana, trong lúc đi ra đi vào để chuẩn bị trà, đã mang cho tôi một chiếc bánh nhỏ nướng trên mặt lò.
“Ăn cái này đi,” cô nói: “cô chắc đó lắm rồi. Hannah bảo từ sáng đến giờ cô chẳng ăn gì ngoài chút cháo cả.”
Tôi không từ chối, bởi cơn thèm ăn của tôi đã trỗi dậy và vô cùng cồng kềnh. Lúc này Mr. Rivers khép sách lại, tiến đến bàn và khi vừa ngồi xuống, anh ta dán đôi mắt xanh như tranh vẽ của mình thẳng vào tôi. Ánh nhìn của anh ta lúc này mang một vẻ sỗ sàng trực diện, thăm dò và quyết đoán đầy kiên định, cho thấy chính ý định chứ không phải sự rụt rè đã khiến anh ta nãy giờ phớt lờ vị khách lạ.
“Cô đang rất đói phải không,” anh ta nói.
“Vâng, thưa ngài.” Đó là bản tính của tôi—từ xưa vẫn luôn theo bản năng—luôn đáp lại sự ngắn gọn bằng sự ngắn gọn, sự trực diện bằng sự thẳng thắn.
“Thật may cho cô vì một cơn sốt nhẹ đã buộc cô phải nhịn ăn trong suốt ba ngày qua: sẽ rất nguy hiểm nếu thả lỏng theo cơn thèm ăn của mình ngay từ đầu. Giờ thì cô có thể ăn được rồi, dẫu vẫn không nên quá độ.”
“Tôi hi vọng mình sẽ không ăn bám vào lòng tốt của các vị quá lâu đâu, thưa ngài,” đó là câu trả lời vụng về và thiếu trau chuốt của tôi.
“Không đâu,” anh ta điềm tĩnh đáp: “khi cô cho chúng tôi biết nơi ở của những người thân, chúng tôi có thể viết thư cho họ, và cô sẽ được trở về nhà.”
“Điều đó, tôi phải nói thật với ngài, vượt quá khả năng của tôi; bởi tôi hoàn toàn không có nhà cửa lẫn người thân.”
Cả ba người nhìn tôi, nhưng không hề mang vẻ ngờ vực; tôi cảm thấy trong ánh mắt họ không có sự nghi ngờ: chỉ có nhiều hơn sự tò mò. Tôi đặc biệt nói đến hai vị tiểu thư. Đôi mắt của St. John, dẫu rõ ràng theo nghĩa đen, nhưng theo nghĩa bóng lại rất khó dò thấu. Anh ta dường như dùng chúng như những công cụ để thăm dò suy nghĩ của người khác hơn là phương tiện để bộc lộ nội tâm mình; sự kết hợp giữa nét sắc sảo và sự kín đáo ấy rõ ràng mang lại cảm giác lúng túng nhiều hơn là khích lệ.
“Ý cô là,” anh ta hỏi, “cô hoàn toàn bị cô lập khỏi mọi mối quan hệ xã hội sao?”
“Đúng vậy. Không một mối liên kết nào buộc tôi với bất kỳ sinh linh sống nào: chẳng có một chỗ dựa nào cho phép tôi đặt chân dưới bất kỳ mái nhà nào ở nước Anh.”
“Quả là một hoàn cảnh kỳ lạ ở độ tuổi của cô!”
Đến đây, tôi thấy ánh mắt anh ta hướng xuống đôi bàn tay đang đan vào nhau trên mặt bàn trước mặt. Tôi tự hỏi anh ta đang tìm kiếm điều gì ở đó; và những lời sau đó của anh ta đã giải đáp thắc mắc ấy.
“Cô chưa từng kết hôn ư? Cô vẫn còn độc thân chứ?”
Diana bật cười. “Ơ kìa, em ấy chắc gì đã quá mười bảy hay mười tám tuổi, St. John,” cô nói.
“Tôi sắp mười chín rồi: nhưng tôi chưa kết hôn. Không.”
Tôi cảm thấy một luồng nhiệt nóng bừng dâng lên mặt; bởi những ký ức cay đắng và đầy sóng gió đã bị gợi lại qua sự nhắc đến chuyện hôn nhân. Tất cả bọn họ đều nhận ra sự bối rối và xúc động của tôi. Diana và Mary giải vây cho tôi bằng cách hướng ánh mắt đi chỗ khác thay vì nhìn vào gương mặt đỏ bừng của tôi; thế nhưng người anh trai lạnh lùng và nghiêm khắc hơn vẫn tiếp tục nhìn chằm chằm, cho đến khi nỗi phiền muộn mà anh ta khơi gợi ép cả nước mắt lẫn sắc hồng trào ra.
“Lần cuối cô cư trú ở đâu?” giờ thì anh ta hỏi.
“Anh tò mò quá rồi đấy, St. John,” Mary thì thầm với giọng nhỏ nhẹ; nhưng anh ta nhoài người qua bàn và đòi hỏi một câu trả lời bằng một ánh nhìn cứng rắn và xoáy sâu lần thứ hai.
“Tên của nơi tôi từng ở, và của người tôi từng sống cùng, là bí mật của tôi,” tôi ngắn gọn đáp lại.
“Theo ý kiến của tôi, nếu thích, cô hoàn toàn có quyền giấu điều đó trước St. John và bất kỳ kẻ gặng hỏi nào khác,” Diana nhận xét.
“Thế nhưng nếu tôi chẳng biết gì về cô hay lịch sử của cô, tôi không thể giúp gì được,” anh ta nói. “Và cô đang cần giúp đỡ, phải không nào?”
“Tôi cần, và tôi tìm kiếm nó ở điểm này, thưa ngài, mong sao có một nhà từ thiện chân chính nào đó chỉ cho tôi cách kiếm việc làm để tôi có thể làm, và thù lao thu được sẽ đủ nuôi sống tôi, dù chỉ qua ngày với những nhu cầu cơ bản nhất của cuộc sống.”
“Tôi không biết mình có phải là một nhà từ thiện chân chính hay không; nhưng tôi sẵn lòng giúp đỡ cô hết sức trong một mục đích chính đáng như vậy. Trước tiên, hãy nói cho tôi biết cô từng quen làm những gì, và cô có thể làm được gì.”
Lúc này tôi đã uống xong trà. Thức uống ấy giúp tôi vô cùng sảng khoái; sảng khoái như một dũng sĩ được uống rượu vang: nó thổi một sức sống mới vào hệ thần kinh đang rã rời của tôi, giúp tôi có thể đối đáp vững vàng với vị thẩm phán trẻ đầy sắc sảo này.
“Mr. Rivers,” tôi lên tiếng, quay sang anh và nhìn thẳng vào anh, đúng lúc anh đang nhìn tôi, một cách cởi mở và không chút rụt rè, “anh và các chị em gái đã làm ơn cho tôi một ân huệ lớn lao—ân huệ lớn nhất mà một con người có thể dành cho đồng loại; các anh chị đã cứu vớt tôi khỏi cái chết bằng lòng hiếu khách cao thượng của mình. Ân huệ này trao cho các anh chị quyền hạn vô điều kiện đối với lòng biết ơn của tôi, và ở một mức độ nào đó, là cả sự tin tưởng của tôi nữa. Tôi sẽ kể cho các anh chị nghe phần lịch sử của kẻ lang thang mà các anh chị đã dung túng này, trong giới hạn mà tôi có thể kể mà không làm tổn hại đến sự bình yên trong tâm hồn tôi—sự an toàn của chính tôi, cả về mặt đạo đức lẫn thể xác, và của những người khác.
“Tôi là một đứa trẻ mồ côi, con gái của một mục sư. Cha mẹ tôi qua đời trước khi tôi kịp nhận biết về họ. Tôi lớn lên nhờ sự ăn nhờ ở đậu; được giáo dục trong một trại tế bần từ thiện. Tôi thậm chí sẽ nói cho anh biết tên của cơ sở đó, nơi tôi đã trải qua sáu năm làm học sinh và hai năm làm giáo viên—Trại mồ côi Lowood, hạt ——: chắc hẳn anh đã nghe nói về nó rồi chứ, Mr. Rivers?—Mục sư Robert Brocklehurst là quản tài nhân.”
“Tôi đã nghe nói về ông Brocklehurst, và tôi cũng từng đến thăm ngôi trường đó.”
“Tôi rời Lowood gần một năm trước để trở thành gia sư tư. Tôi nhận được một vị trí tốt và đã rất hạnh phúc. Tôi buộc phải rời bỏ nơi đó bốn ngày trước khi đến đây. Lý do rời đi thì tôi không thể và không nên giải thích: nó sẽ vừa vô ích, nguy hiểm, lại vừa nghe có vẻ khó tin. Không có lỗi lầm nào thuộc về tôi cả; tôi hoàn toàn trong sạch chẳng kém gì bất kỳ ai trong ba người các anh chị. Tôi khốn khổ, và buộc phải khốn khổ trong một thời gian; bởi thảm kịch đã đẩy tôi khỏi ngôi nhà từng là thiên đường đối với tôi mang một bản chất vô cùng kỳ lạ và khủng khiếp. Khi lên kế hoạch rời đi, tôi chỉ tuân thủ đúng hai điểm—sự nhanh chóng và tính bí mật: để đảm bảo điều đó, tôi đã phải bỏ lại tất cả những gì mình có ngoại trừ một bọc hành lý nhỏ; mà trong lúc vội vã và tâm trí rối bời, tôi đã quên lấy nó ra khỏi cỗ xe ngựa đưa tôi đến Whitcross. Đến vùng này, tôi hoàn toàn rơi vào cảnh tay trắng. Tôi đã ngủ ngoài trời hai đêm, lang thang hai ngày trời không bước chân qua ngưỡng cửa nào; trong khoảng thời gian đó, chỉ vỏn vẹn hai lần tôi được nếm chút thức ăn; và chính vào lúc cơn đói khát, kiệt sức và tuyệt vọng đẩy tôi đến bờ vực cái chết, thì anh, Mr. Rivers, đã ngăn không cho tôi chết đói trước thềm cửa nhà mình, và đùm bọc tôi dưới mái hiên nhà anh. Tôi thừa biết tất cả những gì các chị em gái đã làm cho tôi từ đó đến nay—bởi tôi không hề vô tri trong suốt khoảng thời gian tưởng chừng như hôn mê ấy—và tôi mang ơn lòng trắc ẩn tự phát, chân thành, đôn hậu của họ nhiều không kém gì lòng bác ái Tin Mừng của anh.”
“Đừng bắt cô ấy nói nữa, St. John,” Diana lên tiếng khi tôi dừng lời; “rõ ràng em ấy vẫn chưa thích hợp để bị kích động. Lại đây ngồi lên sô-bpha đi nào, Miss Elliott.”
Tôi giật mình thon thót khi nghe thấy cái tên giả đó: tôi đã quên mất cái tên mới của mình. Mr. Rivers, người dường như chẳng bỏ sót điều gì, liền nhận ra ngay lập tức.
“Cô vừa nói tên mình là Jane Elliott phải không?” anh nhận xét.
“Đúng vậy; và đó là cái tên tôi thấy tiện gọi vào lúc này, nhưng nó không phải tên thật của tôi, và khi nghe thấy, tôi thấy nó có vẻ xa lạ lắm.”
“Cô nhất định không chịu khai tên thật của mình sao?”
“Không: điều tôi sợ nhất trên đời là việc bị phát hiện; và bất cứ sự tiết lộ nào dẫn đến điều đó, tôi đều tránh.”
“Tôi chắc chắn là cô đã đúng,” Diana nói. “Nào anh, xin anh hãy để em ấy được yên bình một lát.”
Thế nhưng sau khi trầm ngâm vài phút, St. John lại tiếp tục chất vấn một cách điềm nhiên và sắc sảo như trước.
“Cô sẽ không thích việc cứ ăn bám mãi vào lòng hiếu khách của chúng tôi đâu—tôi thấy cô hẳn là muốn sớm dứt khỏi lòng trắc ẩn của các em gái tôi, và trên hết là lòng bác ái của tôi (tôi hoàn toàn nhận thức được sự khác biệt được vạch ra, và tôi không hề phật lòng vì điều đó—nó rất công bằng): cô khao khát được độc lập khỏi chúng tôi phải không?”
“Đúng vậy: tôi đã nói thế rồi mà. Hãy chỉ cho tôi cách làm việc, hoặc cách tìm việc: đó là tất cả những gì tôi xin lúc này; rồi hãy để tôi đi, dẫu chỉ đến túp lều tồi tàn nhất; nhưng cho đến lúc đó, xin hãy cho phép tôi ở lại đây: tôi sợ phải đối mặt thêm lần nữa với những nỗi kinh hoàng của cảnh cơ hàng không nhà cửa.”
“Chắc chắn là cô sẽ ở lại đây rồi,” Diana nói, đặt bàn tay trắng trẻo lên đầu tôi.
“Chắc chắn thế,” Mary lặp lại bằng thứ giọng chân thành mộc mạc vốn là bản tính của cô.
“Cô thấy đấy, các em gái tôi rất lấy làm vui thích khi được giữ cô lại,” Mr. St. John nói, “giống như chúng từng vui thích khi giữ lại và nâng niu một chú chim nửa đông cứng bị ngọn gió mùa đông lùa qua ô cửa sổ. Tôi thì có khuynh hướng muốn hướng dẫn cô cách tự nuôi sống bản thân hơn, và tôi sẽ cố gắng làm điều đó; nhưng hãy chú ý rằng, phạm vi của tôi rất hạn hẹp. Tôi chỉ là quản nhiệm của một giáo xứ đồng quê nghèo khó: sự giúp đỡ của tôi chỉ có thể ở mức khiêm tốn nhất. Và nếu cô có ý định khinh miệt những khởi đầu nhỏ bé, hãy tìm kiếm sự cứu trợ nào hiệu quả hơn những gì tôi có thể mang lại.”
“Cô ấy vừa nói rằng mình sẵn lòng làm bất cứ việc lương thiện nào có thể làm cơ mà,” Diana đáp lời thay tôi; “và anh biết đấy, St. John, cô ấy đâu còn sự lựa chọn nào khác về những người giúp đỡ: cô ấy buộc phải chịu đựng những kẻ cộc cằn như anh thôi.”
“Tôi sẽ làm thợ may; tôi sẽ làm thợ may đồ gia dụng; tôi sẽ làm người hầu, làm vú em, nếu không thể làm gì tốt hơn,” tôi đáp.
“Phải,” Mr. St. John điềm tĩnh nói. “Nếu cô đã có tinh thần ấy, tôi hứa sẽ giúp cô vào thời điểm và theo cách của riêng tôi.”
Anh ta liền cầm lại cuốn sách lúc nãy vẫn đọc trước giờ trà. Chẳng mấy chốc tôi xin phép lui về phòng, bởi tôi đã nói chuyện và ngồi lâu hết mức mà sức lực hiện tại cho phép.