Jane Eyre: Tự truyện

Lượt đọc: 457 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 37

❊ ❊ ❊

[NỘI DUNG]: Dinh cơ Ferndean là một tòa nhà cổ kính, quy mô vừa phải, không có vẻ gì là phô trương về kiến trúc, nằm sâu hút trong một khu rừng rậm. Tôi đã từng nghe nói đến nơi này. Ông Rochester thường nhắc về nó và thỉnh thoảng vẫn đến đó. Cha ông đã mua lại điền trang này vì những khu rừng nuôi thú săn. Ông vốn muốn cho thuê ngôi nhà, nhưng chẳng tìm nổi người thuê nào do vị trí hẻo lánh và không có lợi cho sức khỏe của nó. Cứ thế, Ferndean cứ bỏ hoang và chẳng có mấy đồ đạc, ngoại trừ dăm ba phòng được sửa sang tươm tất để làm chỗ nghỉ ngơi cho gia chủ mỗi mùa săn bắn.

Tôi đặt chân đến ngôi nhà này ngay trước khi trời tối vào một buổi tối mang trọn vẹn những nét đặc trưng của bầu trời u ám, cơn gió lạnh buốt và làn mưa phùn rả rích thấm sâu. Dặm đường cuối cùng, tôi đi bộ sau khi đã cho chiếc xe ngựa cùng người đánh xe quay về với mức thù lao gấp đôi như đã hứa. Ngay cả khi đã đến rất gần trang viên, bạn cũng chẳng thể thấy được chút gì của nó, bởi những tán cây của khu rừng âm u xung quanh mọc lên quá đỗi rậm rạp và tối tăm. Những cánh cổng sắt giữa hai trụ cột bằng đá hoa cương chỉ cho tôi lối vào, và khi bước qua đó, tôi lập tức chìm vào chập choạng tối của những hàng cây mọc sát rạt nhau. Có một lối mòn mọc đầy cỏ đang dẫn xuống khoảng không giữa rừng, lọt thỏm giữa những thân cây sần sùi bám đầy địa y và dưới những vòm lá đan xen. Tôi cứ thế đi theo, lòng thầm mong sớm tới được nơi ở; nhưng con đường cứ kéo dài mãi, uốn lượn xa dần: chẳng hề thấy bóng dáng của ngôi nhà hay khu vườn nào.

Tôi cứ nghĩ rằng mình đã đi nhầm hướng và lạc đường. Bóng tối của màn đêm buông xuống cùng với bóng râm tự nhiên của chốn rừng thiêm ngập tràn lấy tôi. Tôi đảo mắt tìm kiếm một lối đi khác. Chẳng có lối nào cả: xung quanh chỉ toàn những thân cây đan xen, những cột trụ vững chãi, những tán lá mùa hè dày đặc—chẳng có lấy một khoảng hở.

Tôi tiếp tục bước đi: cuối cùng con đường trước mặt cũng quang đãng hơn, những hàng cây thưa dần; chẳng mấy chốc tôi nhìn thấy một hàng rào, rồi ngôi nhà—dưới ánh sáng mờ ảo này, hầu như chẳng thể phân biệt nổi nó với những thân cây; bởi những bức tường đang mục nấy của nó mới ẩm mốc và xanh rì làm sao. Bước qua một cánh cổng chỉ cài hờ bằng chiếc then cài, tôi đứng giữa một khoảng sân kín đáo, nơi khu rừng uốn lượn lùi ra xa theo hình bán nguyệt. Chẳng có lấy một bóng hoa, chẳng có luống rau vườn nào; chỉ có một lối đi trải sỏi rộng ôm lấy khoảng sân cỏ, và khoảng sân ấy lọt thỏm giữa khung cảnh rừng già thâm u. Mặt tiền ngôi nhà nổi bật với hai cái đầu hồi nhọn; những ô cửa sổ nhỏ và có chấn song hình quả trám: cửa chính cũng nhỏ hẹp, có một bậc thềm dẫn lên trên. Trông toàn cảnh y hệt như những gì người chủ quán trọ Rochester Arms từng miêu tả, “quả là một nơi hoang vắng.” Nơi đây tĩnh mịch như một ngôi nhà thờ vào ngày thường: tiếng mưa lách tách trên những chiếc lá rừng là âm thanh duy nhất có thể nghe thấy ở chốn này.

“Liệu có sự sống nào ở đây không?” Tôi tự hỏi.

Có chứ, vẫn có một sự sống nào đó; bởi tôi nghe thấy tiếng động—cánh cửa chính nhỏ hẹp ấy đang hé mở, và một bóng người chuẩn bị bước ra từ căn nhà.

Cánh cửa chậm rãi mở ra: một bóng người bước hẳn ra khoảng không chập choạng và đứng trên bậc thềm; một người đàn ông đầu trần: anh đưa tay ra như để cảm nhận xem trời có đang mưa hay không.

Dù trời chập tối, tôi vẫn nhận ra anh—chính là chủ nhân của tôi, Edward Fairfax Rochester, không lẫn đi đâu được.

Tôi khựng lại, dường như nín thở, đứng yên để dõi theo anh—để quan sát anh, khi bản thân vẫn đang khuất bóng, và hỡi ôi! đối với anh thì hoàn toàn vô hình. Đó là một cuộc hội ngộ bất ngờ, nơi niềm hạnh phúc vỡ òa được kìm nén cẩn thận bởi nỗi đau đớn. Tôi chẳng gặp chút khó khăn nào trong việc ngăn tiếng thốt lên chực trào khỏi cổ họng, hay kìm bước chân đang muốn lao vội về phía trước.

Vóc dáng anh vẫn giữ nguyên những đường nét vạm vỡ và cường tráng như ngày nào: dáng đi vẫn hiên ngang, mái tóc vẫn đen nhánh như mun; các nét trên khuôn mặt cũng chẳng hề thay đổi hay hốc hác: chỉ trong khoảng thời gian một năm, dẫu có bất kỳ nỗi buồn nào đi nữa, sức mạnh lực điền của anh cũng không thể bị quật ngã hay thời kỳ sung mãn đầy sức sống ấy bị tàn lụi. Nhưng trên gương mặt anh, tôi nhận thấy một sự đổi thay: vẻ mặt đầy tuyệt vọng và mang nỗi niềm u uất—gợi cho tôi nhớ đến loài thú dữ hay chim trời nào đó đang bị thương và vướng xiềng xích, rất nguy hiểm nếu đến gần trong nỗi u sầu đầy cay đắng. Con đại bác bị nhốt trong lồng, có đôi mắt viền vàng đã bị sự tàn nhẫn làm cho mù lòa, có lẽ cũng mang ánh nhìn hệt như gã Samson bất hạnh đang thiếu vắng ánh sáng ấy.

Và này bạn đọc, bạn có nghĩ rằng tôi sợ hãi sự hung hãn trong bóng tối của anh ấy không?—nếu bạn nghĩ vậy, thì bạn chẳng hiểu gì về tôi rồi. Một niềm hy vọng dịu dàng hòa quyện cùng nỗi buồn trong tôi rằng chẳng mấy chốc tôi sẽ dám đặt một nụ hôn lên chiếc trán cứng như đá ấy, và lên đôi môi đang mím chặt đầy kiên định bên dưới: nhưng chưa phải lúc này. Tôi sẽ chưa vội bắt chuyện với anh ấy lúc này.

Anh bước xuống một bậc thềm duy nhất, chậm rãi mò mẫm tiến về phía bãi cỏ. Sải bước đầy kiêu hãnh ngày nào giờ đã đi đâu mất rồi? Rồi anh khựng lại, như thể không biết mình nên rẽ hướng nào. Anh giơ tay lên và hé mi mắt; đờ đẫn đưa đôi mắt trân trân, với một nỗ lực căng thẳng, nhìn lên bầu trời và hướng về khoảng không bao quanh bởi những hàng người: ai cũng thấy rằng đối với anh, tất cả chỉ là một khoảng tối vô tận. Anh duỗi bàn tay phải ra (cánh tay trái, cánh tay đã cụt, anh giấu kín trong ngực áo); anh dường như muốn dùng xúc giác để mường tượng ra những gì đang ở quanh mình: nhưng thứ anh chạm vào vẫn chỉ là khoảng không trống rỗng; bởi những hàng cây cách chỗ anh đứng tới vài thước. Anh từ bỏ sự cố gắng ấy, khoanh tay trước ngực, đứng lặng lẽ và câm n lặng trong làn mưa giờ đây đang rơi xối xả xuống mái đầu để trần. Đúng lúc này, John từ đâu bước tới.

“Ngài có muốn vịnh tay tôi không, thưa ngài?” anh ta nói; “trời sắp có một trận mưa lớn đấy ạ, ngài không vào trong nhà sao?”

“Mặc kệ tôi,” câu trả lời vang lên.

John lùi lại mà không hề nhận ra sự có mặt của tôi. Ông Rochester lúc này cố đi vòng quanh: vô ích,—mọi thứ đều quá bấp bênh. Anh dò dẫm tìm đường quay trở lại ngôi nhà, và khi bước vào trong, liền khép cửa lại.

Tôi lúc bấy giờ mới tiến lại gần và gõ cửa: vợ John ra mở cửa cho tôi. “Mary,” tôi nói, “chị có khỏe không?”

Chị ta giật nảy mình như thể vừa thấy ma: tôi liền trấn an chị. Trước câu hỏi dồn dập đầy kinh ngạc của chị, “Có phải thực sự là cô đấy không, thưa cô, lại đến cái nơi hoang vắng này vào cái giờ muộn thế này cơ chứ?”, tôi đáp lời bằng cách nắm lấy bàn tay chị; rồi theo chị bước vào nhà bếp, nơi John lúc này đang ngồi sưởi bên lò sưởi ấm cúng. Tôi vắn tắt giải thích cho họ rằng tôi đã nghe được mọi chuyện xảy ra kể từ khi tôi rời Thornfield, và tôi đến đây là để gặp ông Rochester. Tôi nhờ John đi xuống trạm thu phí, nơi tôi đã cho chiếc xe ngựa quay đầu, để lấy chiếc va-li mà tôi đã gửi lại ở đó; rồi trong lúc tôi cởi mũ và khăn choàng, tôi gặng hỏi Mary xem liệu tôi có thể xin trọ lại nhà trang viên qua đêm nay không; và khi biết rằng việc sắp xếp dù có chút khó khăn nhưng không phải là không thể, tôi liền báo cho chị biết rằng tôi sẽ ở lại. Đúng lúc này, chiếc chuông ở phòng khách reo lên.

“Khi chị bước vào,” tôi bảo, “hãy nói với chủ nhân của chị rằng có một vị khách muốn diện kiến ngài, nhưng đừng tiết lộ tên tôi.”

“Tôi không nghĩ ngài ấy sẽ tiếp cô đâu,” chị đáp; “ngài ấy từ chối gặp tất cả mọi người.”

Khi chị quay ra, tôi gặng hỏi xem anh đã nói gì.

“Cô phải xưng danh tính và nêu rõ mục đích đến gặp,” chị đáp lại. Sau đó, chị bắt đầu rót nước đầy ly và đặt lên một chiếc khay cùng với nến.

“Có phải ngài gọi chuông vì việc đó không?” tôi hỏi.

“Vâng: ngài luôn có thói quen sai người đem nến vào khi trời tối, dẫu cho ngài có bị mù đi chăng nữa.”

“Đưa chiếc khay đó cho tôi; tôi sẽ mang vào.”

Tôi đỡ lấy chiếc khay từ tay chị: chị chỉ cho tôi hướng cửa phòng khách. Tay tôi cầm khay mà run lẩy bẩy; nước từ ly tràn cả ra ngoài; trái tim tôi đập thình thịch liên hồi bên lồng ngực. Mary mở cửa giúp tôi rồi khép lại ngay sau lưng tôi.

Căn phòng khách trông thật u ám: một ít than củi bỏ quên đang cháy âm ỉ dưới lò sưởi; và cúi người bên lò, với chiếc đầu tựa vào chiếc lò sưởi cổ kính cao ngất, chính là vị chủ nhân mù lòa của căn phòng. Con chó già Pilot nằm ở một góc, tránh ra lối đi, cuộn tròn lại như thể sợ bị ai đó vô tình dẫm phải. Pilot vanh vách dựng tai lên khi tôi bước vào: rồi nó kêu ẳng lên một tiếng đầy mừng rỡ kèm theo tiếng rên rỉ, lao thẳng về phía tôi: nó suýt làm rơi chiếc khay khỏi tay tôi. Tôi đặt khay lên bàn; rồi vỗ về nó, khe khẽ bảo, “Nằm xuống!” Ông Rochester máy móc quay người lại để xem có chuyện gì đang náo động: nhưng vì chẳng nhìn thấy gì, anh lại thở dài thườn thượt rồi quay mặt đi.

“Đưa nước cho tôi nào, Mary,” anh nói.

Tôi tiến lại gần anh với chiếc ly lúc này chỉ còn vơi nửa nước; Pilot lẽo đẽo theo sau tôi, vẫn chưa hết phấn khích.

“Có chuyện gì thế?” anh gặng hỏi.

“Nằm xuống nào, Pilot!” tôi lại cất lời. Anh khựng tay lại khi ly nước đang đưa lên miệng, và có vẻ như đang lắng tai nghe: anh uống một ngụm rồi đặt ly xuống. “Là cô đấy phải không, Mary?”

“Mary đang ở dưới bếp,” tôi đáp.

Anh vội vã đưa tay ra với một cử động nhanh gọn, nhưng vì không thấy tôi đứng ở đâu nên chẳng chạm được vào tôi. “Ai thế này? Ai thế này?” anh gặng hỏi, dường như đang cố gắng nhìn bằng đôi mắt không còn ánh sáng ấy—một nỗ lực tuyệt vọng và đầy đau đớn! “Trả lời ta—nói lại xem nào!” anh ra lệnh bằng giọng đầy uy quyền và lớn tiếng.

“Ngài có muốn dùng thêm chút nước không ạ? Tôi đã làm tràn nửa ly mất rồi,” tôi nói.

“Ai đấy? Cái gì thế? Ai đang nói thế?”

“Pilot nhận ra tôi, cả John và Mary cũng biết tôi đang ở đây. Tôi chỉ vừa mới đến vào chiều nay thôi,” tôi đáp.

Um Chúa tối cao!—ảo giác gì đã che mờ tâm trí tôi thế này? Sự điên rồ ngọt ngào nào đang chiếm đoạt lấy tôi vậy?

“Chẳng có ảo giác hay sự điên rồ nào cả: tâm trí ngài, thưa ngài, quá vững vàng để bị ảo giác đánh lừa, sức khỏe của ngài cũng quá minh mẫn để mà quẫn trí.”

“Thế kẻ đang nói năng ở đâu? Chỉ là một giọng nói thôi sao? Ồ! Tôi không thể nhìn thấy, nhưng tôi phải được chạm vào, nếu không trái tim tôi sẽ ngừng đập và đại não tôi sẽ vỡ tung mất. Bất kể là ai—bất kể cô là ai—hãy để tôi chạm được vào cô, nếu không tôi không thể sống nổi!”

Anh lần mò tìm kiếm; tôi liền giữ bàn tay đang hua quạt của anh lại, siết chặt nó trong cả hai bàn tay mình.

“Đúng những ngón tay ấy rồi!” anh kêu lên; “những ngón tay nhỏ nhắn, mảnh dẻ ấy! Nếu vậy thì chắc chắn con người cô đây rồi.”

Bàn tay vạm vỡ giật khỏi cái nắm của tôi; cánh tay tôi bị tóm lấy, bờ vai tôi—cổ tôi—vòng eo tôi—tôi bị ôm siết lấy và kéo sát vào lồng ngực anh.

“Có phải Jane không? Cái gì thế này? Vóc dáng này—kích thước này—”

“Và cả giọng nói này nữa,” tôi bồi thêm. “Em đã ở đây trọn vẹn rồi đây: cả trái tim em nữa. Cầu Chúa phù hộ cho ngài, thưa ngài! Em rất vui vì lại được ở gần ngài thế này.”

“Jane Eyre!—Jane Eyre,” tất cả những gì anh thốt lên chỉ là tên tôi.

“Chủ nhân yêu quý của em,” tôi đáp, “em là Jane Eyre đây: em đã tìm ra ngài rồi—em đã quay về bên ngài đây.”

“Thật ư?—bằng xương bằng thịt sao? Jane sống bằng xương bằng thịt của ta đây ư?”

“Ngài đang chạm vào em đấy thưa ngài,—ngài đang ôm lấy em đây, và rất chặt là đằng khác: em đâu có lạnh lẽo như một cái xác vô hồn, hay trống rỗng như không khí đâu, phải không nào?”

“Người thương sống bỏng của ta đây rồi! Quả thực đây là nhữngh chi thể của nàng, và đây là những nét mặt của nàng; nhưng ta không dám tin mình lại có được phúc phận lớn lao nhường này sau bao nhiêu đớn đau. Đây chỉ là một giấc mơ thôi; giống hệt những giấc mơ vào mỗi đêm khi ta ôm ghì nàng vào lòng một lần nữa, hệt như lúc này đây; và hôn nàng, như thế này đây—và cảm thấy rằng nàng yêu ta, tin tưởng rằng nàng sẽ không rời bỏ ta.”

“Và em sẽ chẳng bao giờ rời đi đâu, thưa ngài, kể từ ngày hôm nay.”

“Sẽ không bao giờ, bóng hình ảo ảnh đang nói vậy sao? Nhưng rồi ta luôn tỉnh giấc và nhận ra đó chỉ là một sự trêu ngươi trống rỗng; để rồi ta lại bơ vơ và bị bỏ rơi—cuộc đời ta tăm tối, cô độc, tuyệt vọng—tâm hồn ta khao khát đến cháy bỏng mà bị cấm đoán không được giải tỏa—trái tim ta khô héo và chẳng bao giờ được nuôi dưỡng. Hỡi giấc mơ dịu dàng, êm ái đang nép vào vòng tay ta lúc này, rồi em cũng sẽ bay đi, y như những người chị em của em đã bay đi trước đó thôi: nhưng hãy hôn ta trước khi em rời đi nhé—hãy ôm ta đi, Jane.”

“Kia thưa ngài—và cả ở đây nữa!”

Tôi áp môi lên đôi mắt từng rực rỡ nay đã tắt ngấm ánh nhìn của anh—tẩy đi những sợi tóc xõa trên trán anh và hôn lên đó nữa. Anh bỗng chừng như bừng tỉnh: sự thật rành rành về mọi chuyện lúc này đã thuyết phục được anh.

“Có phải em thật không—Jane? Cuối cùng em cũng quay về với anh rồi sao?”

“Vâng, là em đây.”

“Và em không hề ngã chết ở một cái mương nước nào dưới dòng suối đấy chứ? Và em không phải là một kẻ lưu vong đang héo mòn giữa chốn xa lạ chứ?”

“Không, thưa ngài! Bây giờ em là một người phụ nữ tự lập rồi.”

“Tự lập! Em có ý gì hả Jane?”

“Người bác ở Madeira của em đã qua đời, và ông để lại cho em năm ngàn bảng.”

“À! Điều này rất thực tế—rất thực tế đấy!” anh kêu lên: “Ta chẳng bao giờ dám mơ đến điều đó. Hơn nữa, lại có cái giọng nói đặc trưng ấy của nàng, vừa đầy sức sống lại vừa lôi cuốn, đồng thời lại vô cùng dịu ngọt: nó sưởi ấm trái tim đã héo mòn của ta; nó truyền sự sống vào đó.—Sao thế, Janet! Em là một người phụ nữ tự lập ư? Một người phụ nữ giàu có sao?”

“Hoàn toàn giàu có, thưa ngài. Nếu ngài không cho phép em sống cùng ngài, em có thể tự xây một ngôi nhà ngay sát cửa nhà ngài, và ngài có thể đến ngồi ở phòng khách nhà em bất cứ khi nào ngài muốn có người bầu bạn vào buổi tối.”

“Nhưng vì em giàu có, Jane, chắc hẳn giờ đây em có những người bạn sẽ chăm sóc cho em, chứ không để em phải hy sinh đời mình cho một kẻ tàn phế mù lòa như anh chứ?”

“Em đã nói với ngài rồi, em vừa tự lập lại vừa giàu có, thưa ngài: em là chủ nhân của chính mình.”

“Và em sẽ ở lại với anh chứ?”

“Chắc chắn rồi—trừ khi ngài phản đối. Em sẽ là hàng xóm, là y tá, là quản gia của ngài. Em thấy ngài cô đơn: em sẽ là người bầu bạn cùng ngài—đọc sách cho ngài nghe, đi dạo cùng ngài, ngồi bên ngài, phục dịch ngài, làm đôi mắt và đôi tay cho ngài. Đừng mang vẻ mặt u sầu ấy nữa, chủ nhân yêu quý của em ạ; ngài sẽ không phải sống trong cô quạnh chừng nào em còn sống.”

Anh không đáp lời: anh có vẻ nghiêm nghị—đãng trí; anh thở dài; anh hé mở môi như muốn nói điều gì đó: rồi lại mím chặt lại. Tôi cảm thấy hơi bối rối. Có lẽ tôi đã quá liều lĩnh vượt qua những chuẩn mực xã hội; và anh, giống như St. John, nhìn thấy sự bất ổn trong sự thiếu suy nghĩ của tôi. Quả thực tôi đã đưa ra lời đề nghị của mình với suy nghĩ rằng anh mong muốn và sẽ cầu hôn tôi: một sự kỳ vọng, dẫu không được nói ra nhưng vẫn vô cùng chắc chắn, đã nâng đỡ tôi rằng anh sẽ lập tức nhận tôi làm người của riêng mình. Nhưng chẳng có chút gợi ý nào theo hướng đó thoát ra từ miệng anh cả và nét mặt anh ngày càng trở nên u ám, tôi chợt nhớ ra rằng có lẽ mình đã sai hoàn toàn, và có lẽ bản thân đang cư xử như một kẻ ngốc mà không hay biết; và tôi bắt đầu nhẹ nhàng rút mình khỏi vòng tay anh—nhưng anh lại vội vã ôm tôi chặt hơn.

“Không—không—Jane; em không được đi đâu cả. Không—anh đã chạm vào em, nghe tiếng em, cảm nhận sự an ủi từ sự hiện diện của em—sự ngọt ngào từ lời vỗ về của em: anh không thể từ bỏ những niềm vui này được. Bản thân anh chẳng còn lại gì nhiều—anh bắt buộc phải có em. Thiên hạ có thể cười chê—có thể gọi anh là ngốc nghếch, là ích kỷ—nhưng điều đó chẳng quan trọng. Tận sâu thẳm tâm hồn anh đang khao khát có em: nó phải được thỏa mãn, nếu không nó sẽ giáng một đòn trả thù chí mạng lên thể xác này.”

“Vâng, thưa ngài, em sẽ ở lại với ngài: em đã nói vậy mà.”

“Phải—nhưng em hiểu một đằng khi ở lại với anh; còn anh thì hiểu theo một nẻo khác. Có lẽ em có thể quyết định ở quanh bàn tay và chiếc ghế của anh—phục vụ anh như một cô y tá nhỏ ân cần (bởi em có một trái tim đôn hậu và một tinh thần cao thượng, luôn thúc đẩy em hy sinh vì những kẻ ngài thương hại), và chắc chắn điều đó là quá đủ với anh rồi. Chắc là giờ đây anh chỉ nên giữ những tình cảm cha con đối với em thôi nhỉ? Em nghĩ sao? Nào—nói cho anh nghe xem.”

“Em sẽ nghĩ theo ý ngài muốn, thưa ngài: em bằng lòng chỉ làm y tá của ngài thôi, nếu ngài thấy thế tốt hơn.”

“Nhưng em không thể mãi làm y tá cho anh được, Janet: em hãy còn trẻ—rồi một ngày nào đó em phải kết hôn chứ.”

“Em chẳng màng tới chuyện kết hôn.”

“Em nên màng tới chứ, Janet: nếu anh vẫn là anh của ngày trước, anh sẽ cố làm cho em phải màng tới nó—nhưng ngặt nỗi—anh giờ chỉ là một khối đá vô tri mất rồi!”

Anh lại chìm đắm vào vẻ u sầu. Ngược lại, tôi trở nên vui vẻ hơn và lấy lại can đảm: những lời nói vừa rồi đã cho tôi một cái nhìn sâu sắc về vướng mắc nằm ở đâu; và vì đó không phải là vấn đề gì với tôi, tôi cảm thấy hoàn toàn nhẹ nhõm khỏi sự bối rối trước đó. Tôi quay lại với giọng điệu trò chuyện sôi nổi hơn.

“Đã đến lúc ai đó phải đứng ra để tái tạo lại con người cho ngài rồi đấy,” tôi nói, rẽ những lọn tóc dày và dài chưa cắt tỉa của anh ra; “bởi vì em thấy ngài đang dần biến thành một con sư tử, hoặc thứ gì đó đại loại vậy. Chắc chắn là ngài đang mang cái vẻ bất đắc dĩ kiểu vua Nebuchadnezzar lang thang ngoài đồng cỏ rồi đấy: mái tóc của ngài khiến em liên tưởng đến lông đại bác; còn không biết móng tay ngài đã dài ra giống móng vuốt chim chóc gì chưa thì em chưa để ý đâu đấy nhé.”

“Trên cánh tay này, ta chẳng có lấy một bàn tay hay móng tay nào cả,” anh nói, kéo cánh tay bị cụt khỏi ngực áo và giơ ra cho tôi xem. “Nó chỉ là một mỏm cụt—trông thật gớm ghiếc! Em không nghĩ vậy sao, Jane?”

“Thật đáng tiếc khi nhìn thấy nó; và cũng thật đáng tiếc khi nhìn thấy đôi mắt ngài—cả vết sẹo do lửa để lại trên trán ngài nữa: và điều tệ nhất là, người ta có nguy cơ yêu ngài quá mức vì tất cả những điều này; và cưng chiều ngài quá đà.”

“Anh cứ nghĩ là em sẽ thấy ghê tởm, Jane ạ, khi nhìn thấy cánh tay và gương mặt đầy sẹo vằn này của anh.”

“Thế ư? Đừng nói với em điều đó nữa—kẻo em lại thốt ra điều gì chê bai khả năng phán đoán của ngài đấy. Nào, để em rời đi một lát, nhóm lại lò sưởi cho đàng hoàng và quét dọn lại tro tàn nhé. Ngài có nhận ra khi nào có một ngọn lửa ấm áp không?”

“Có chứ; bằng con mắt bên phải, anh nhìn thấy một ánh hồng—một làn sương mờ rực rỡ.”

“Và ngài có thấy nến không?”

“Rất mờ ảo—mỗi cây nến chỉ là một đám mây phát sáng.”

“Ngài có thấy em không?”

“Không, nàng tiên của anh ạ: nhưng anh chỉ biết ơn vì được nghe và cảm nhận thấy em thôi.”

“Khi nào ngài dùng bữa tối?”

“Anh chẳng bao giờ ăn tối cả.”

“Nhưng tối nay ngài phải ăn chút gì đó. Em đang đói: chắc ngài cũng thế, chỉ là ngài quên mất thôi.”

Gọi Mary lên, chẳng mấy chốc tôi đã dọn dẹp căn phòng ngăn nắp và tươi tắn hơn: tôi cũng chuẩn bị cho anh một bữa ăn ấm cúng. Tâm trạng tôi đang vô cùng hứng khởi, và tôi thoải mái trò chuyện với anh trong bữa tối cũng như một khoảng thời gian dài sau đó bằng tất cả niềm vui và sự tự nhiên. Chẳng có chút gò bó mệt mỏi nào, chẳng có sự kìm nén niềm vui và sự hoạt bát nào khi ở bên anh; bởi ở bên anh, tôi hoàn toàn thoải mái vì biết rằng mình rất hợp với anh; mọi điều tôi nói hay làm dường như đều mang lại sự an ủi hoặc tiếp thêm sức sống cho anh. Thật là một nhận thức tuyệt diệu! Nó đánh thức và thắp sáng toàn bộ bản ngã của tôi: ở bên anh, tôi thực sự sống trọn vẹn; và anh cũng sống trong tôi. Dù mù lòa, những nụ cười vẫn thoáng hiện trên khuôn mặt anh, niềm vui bừng sáng trên trán anh: những nét trên gương mặt anh dịu lại và ấm áp hơn.

Sau bữa tối, anh bắt đầu hỏi tôi rất nhiều điều, về việc tôi đã đi đâu, đã làm những gì, làm sao tôi tìm ra anh; nhưng tôi chỉ đáp lại qua loa một phần: đã quá muộn để đi sâu vào chi tiết trong đêm nay. Hơn nữa, tôi không muốn chạm vào bất kỳ cung bậc cảm xúc nào đang rung động sâu sắc—không muốn khơi dậy thêm một mạch nguồn cảm xúc nào trong trái tim anh: mục đích duy nhất lúc này của tôi là làm anh vui lên. Như tôi đã nói, anh đã được an ủi phần nào: nhưng niềm vui ấy vẫn đến từng cơn. Nếu một khoảnh khắc im lặng ngắt quãng cuộc trò chuyện, anh lại trở nên bồn chồn, chạm vào tôi rồi cất lời, “Jane.”

“Em hoàn toàn là một con người bằng xương bằng thịt chứ, Jane? Em chắc chắn về điều đó chứ?”

“Em tin chắc chắn là như vậy, thưa ông Rochester.”

“Tuy vậy, vào buổi tối tăm và ảm đạm này, làm sao em lại có thể bất thình lình xuất hiện bên lò sưởi cô quạnh của anh thế? Anh vươn tay lấy ly nước từ tay một kẻ làm thuê, thế mà nó lại được trao bởi em: anh cất lời hỏi, cứ đinh ninh vợ John sẽ trả lời, thế mà giọng nói của em lại vang lên ngay bên tai anh.”

“Bởi vì em đã bước vào thay cho Mary, mang theo chiếc khay.”

“Và có một điều kỳ diệu trong chính khoảng thời gian anh đang trải qua cùng em lúc này. Ai có thể nói nổi cuộc đời anh trong suốt những tháng ngày qua đã lê lết trong tăm tối, thê lương và tuyệt vọng nhường nào? Chẳng làm gì cả, chẳng mong đợi gì cả; ngày đêm lẫn lộn; chẳng cảm nhận được gì ngoài sự buốt giá khi để lò sưởi tắt ngấm, sự đói khát khi quên mất cả việc ăn uống: và rồi nỗi buồn đau không dứt, có lúc còn hóa thành một sự điên dại khao khát được nhìn thấy Jane của anh một lần nữa. Phải: anh khao khát sự trở lại của nàng biết bao, còn hơn cả việc tìm lại đôi mắt đã mất. Làm sao có chuyện Jane đang ở bên anh, và nói rằng nàng yêu anh chứ? Liệu nàng có rời đi đột ngột như lúc nàng đến không? Ngày mai, anh sợ rằng mình sẽ lại chẳng thể tìm thấy nàng nữa.”

Một câu trả lời thực tế, bình dị, đi ngược lại với chuỗi suy nghĩ đầy xáo trộn của anh, chắc chắn là điều tốt nhất và trấn an nhất cho anh trong tâm trạng lúc này. Tôi lướt nhẹ ngón tay lên đôi lông mày của anh, nhận xét rằng chúng đã bị xém cháy, và tôi sẽ thoa một thứ gì đó để chúng mọc rậm và đen như trước.

“Làm ơn làm phước cho anh làm gì hỡi linh hồn nhân từ, khi mà vào một khoảnh khắc nghiệt ngã nào đó, em sẽ lại bỏ rơi anh—lướt đi như một chiếc bóng, đi đâu và bằng cách nào anh hoàn toàn không hay biết, để rồi sau đó anh chẳng tài nào tìm lại được nữa?”

“Ngài có mang theo chiếc lược túi nào không thưa ngài?”

“Để làm gì thế, Jane?”

“Chỉ để chải bớt cái bờm đen xù xơ xác này thôi. Trông ngài khá đáng sợ khi em nhìn gần đấy: ngài cứ bảo em là tiên, nhưng em chắc chắn rằng ngài trông giống yêu tinh hơn đấy.”

“Trông anh gớm ghiếc lắm sao, Jane?”

“Gớm lắm, thưa ngài: xưa nay ngài vẫn thế mà, ngài thừa biết còn gì.”

“Hừm! Cái thói hư tật xấu vẫn chưa chịu rời bỏ người em dù em có lang thang ở bất cứ đâu nhỉ.”

“Thế mà em đã ở cạnh những con người tốt bụng đấy chứ; tốt hơn ngài nhiều: tốt hơn gấp trăm lần; họ sở hữu những tư tưởng và góc nhìn mà ngài chưa từng có lấy một lần trong đời: vô cùng tinh tế và cao thượng.”

“Quỷ tha ma bắt thế em đã ở với ai hả?”

“Nếu ngài cứ vặn vẹo cái kiểu đó thì em sẽ giật đứt tóc trên đầu ngài ra mất; và khi ấy chắc ngài sẽ chẳng còn hoài nghi gì về sự tồn tại bằng xương bằng thịt của em nữa đâu.”

“Em đã ở với ai thế, Jane?”

“Em sẽ không khai ra vào tối nay đâu, thưa ngài; ngài phải đợi đến ngày mai thôi; bỏ dở câu chuyện thế này, ngài biết đấy, sẽ là một cách đảm bảo chắc chắn rằng em sẽ xuất hiện bên bàn ăn sáng của ngài để kể nốt. Nhắc mới nhớ, mai em phải nhớ không được xuất hiện bên lò sưởi của ngài chỉ với mỗi một ly nước nữa: ít nhất em phải mang theo một quả trứng, chưa kể đến món thịt xông khói chiên giòn đâu đấy.”

“Đồ yêu tinh lém lỉnh—sinh ra là tiên mà được nuôi dạy như người phàm! Em làm anh có những cảm giác mà suốt mười hai tháng nay anh chưa từng trải qua. Giá như vua Saul có được em làm David cho mình, thì con quỷ dữ chắc đã bị trừ khử mà chẳng cần đến tiếng đàn hạc rồi.”

“Xong rồi đấy, thưa ngài, trông ngài đã gọn gàng và tươm tất rồi. Giờ em xin phép để ngài nghỉ ngơi nhé: em đã bôn ba suốt ba ngày nay, và có lẽ em cũng đã mệt rồi. Chúc ngài ngủ ngon.”

“Chỉ một lời thôi, Jane: ở cái nơi em vừa đi qua, toàn là phụ nữ thôi sao?”

Tôi bật cười rồi chuồn lẹ, vẫn không dứt tiếng cười vang lên trên từng bậc cầu thang. “Đúng là một ý tưởng hay!” tôi sung sướng nghĩ thầm. “Mình thấy mình có đủ cách để khiến ngài ấy quên đi nỗi u sầu trong suốt một thời gian dài sắp tới rồi đây.”

Sáng hôm sau, từ rất sớm, tôi đã nghe thấy tiếng ngài lục đục thức dậy, đi lang thang từ phòng này sang phòng khác. Ngay khi Mary bước xuống, tôi đã nghe thấy câu hỏi: “Cô Eyre có ở đây không?” Rồi tiếp đến: “Cô ấy ở phòng nào thế? Phòng có bị ẩm không? Cô ấy dậy chưa? Xuống hỏi xem cô ấy có cần gì không; và khi nào thì cô ấy xuống đây.”

Tôi bước xuống ngay khi thấy có triển vọng ăn sáng. Nhẹ nhàng bước vào phòng, tôi kịp ngắm nhìn anh trước khi anh phát hiện ra sự có mặt của tôi. Thật sự rất đau lòng khi chứng kiến sự khuất phục của một tâm trước từng vô cùng mạnh mẽ ấy trước bệnh tật thể xác. Anh ngồi trên ghế—vẫn ở đó, nhưng chẳng hề thư thái: rõ ràng đang chờ đợi; những đường nét u buồn giờ đã thành thói quen hằn sâu trên khuôn mặt cương nghị của anh. Gương mặt ngài gợi liên tưởng đến một ngọn đèn đã tắt, đang chờ được thắp sáng trở lại—và hỡi ôi! bản thân ngài giờ đây không thể tự mình nhóm lên ánh hào quang biểu cảm đầy sức sống ấy nữa: ngài hoàn menudo phụ thuộc vào người khác để làm công việc đó! Tôi vốn định tỏ ra vui vẻ và vô tư, nhưng sự bất lực của một người đàn ông mạnh mẽ đã chạm đến tận cùng trái tim tôi; dẫu vậy, tôi vẫn cất lời chào anh với tất cả sự hoạt bát vốn có.

“Sáng nay trời nắng đẹp lắm đấy, thưa ngài,” tôi nói. “Mưa đã tạnh hẳn rồi, để lại một thứ ánh sáng dịu ngọt sau cơn mưa: chẳng mấy chốc ngài sẽ được ra ngoài đi dạo thôi.”

Tôi đã khơi dậy được ngọn lửa trong anh: các nét trên khuôn mặt anh bừng sáng.

“Ồ, em thực sự ở đó sao, con chim chiền chiện của anh! Lại đây với anh nào. Em không đi mất chứ? Không biến mất chứ? Hàng giờ trước anh có nghe thấy một con chim giống hệt giọng em, hót lảnh lót trên đỉnh khu rừng: nhưng tiếng hót ấy chẳng còn chút âm hưởng nào với anh nữa, cũng như ánh mặt trời mọc chẳng còn chút hơi ấm nào. Mọi giai điệu trên cõi đời này đều hội tụ nơi đầu lưỡi của Jane nhà anh đối với tai anh (anh rất mừng vì nó vốn không phải là một chiếc lưỡi im lặng): tất cả ánh nắng ấm áp mà anh có thể cảm nhận được đều nằm trong sự hiện diện của nàng.”

Đọng lại trong khóe mắt tôi là giọt nước mắt khi nghe lời bộc bạch về sự phụ thuộc này; hệt như việc một chú đại bang hoàng gia bị xiềng xích trên cành cây, buộc phải cầu xin một chú chim sẻ đi kiếm mồi cho mình vậy. Nhưng tôi không muốn tỏ ra sướt mướt: tôi gạt phăng những giọt nước mắt mặn chát ấy đi, và bận rộn chuẩn bị bữa sáng.

Phần lớn buổi sáng trôi qua ngoài trời. Tôi dắt anh ra khỏi khu rừng ẩm ướt và hoang dã để đến với những cánh đồng tươi mát; tôi miêu tả cho anh nghe chúng xanh mướt đến nhường nào; những bông hoa và hàng rào trông tươi mới ra sao; bầu trời xanh ngắt lấp lánh thế nào. Tôi tìm cho anh một chỗ ngồi ở một góc khuất tuyệt đẹp, chính là gốc cây khô; và tôi cũng chẳng từ chối khi anh ngồi xuống và kéo tôi ngồi lên đùi mình. Tại sao tôi phải từ chối chứ, khi cả anh và tôi đều hạnh phúc hơn khi ở gần nhau thay vì xa cách? Con chó Pilot nằm ngay bên cạnh chúng tôi: mọi thứ thật yên bình. Anh chợt cất lời khi đang ôm ghì tôi trong vòng tay—

“Đồ kẻ bội bạc tàn nhẫn, tàn nhẫn! Ồ, Jane, em có biết anh đã cảm thấy thế nào khi phát hiện ra em đã bỏ trốn khỏi Thornfield, và khi anh chẳng thể tìm thấy em ở bất cứ đâu; sau khi lục lọi phòng em và nhận ra em chẳng mang theo chút tiền bạc nào, hay bất cứ thứ gì có giá trị tương đương! Một chuỗi hạt ngọc trai anh từng tặng em vẫn nằm nguyên trong chiếc hộp nhỏ của nó; những chiếc va-li của em vẫn còn nguyên dây buộc và khóa kín hệt như lúc chuẩn bị cho tuần trăng mật. Người thương của anh sẽ sống ra sao đây, anh tự hỏi, khi rơi vào cảnh tay trắng và tơi tả? Và em đã làm gì? Hãy kể cho anh nghe ngay bây giờ nào.”

Bị giục giã như vậy, tôi bắt đầu kể lại câu chuyện về những trải nghiệm của mình trong suốt năm qua. Tôi giảm bớt đi rất nhiều những chi tiết liên quan đến ba ngày lang thang đói khát, bởi nếu kể cho anh nghe tất cả thì chỉ mang lại thêm những đau đớn không cần thiết: dẫu vậy, những gì tôi ít nhiều kể ra cũng đã cứa sâu vào trái tim trung thực của anh hơn tôi tưởng.

Lẽ ra anh đã không để tôi ra đi như thế, anh nói, mà không có bất kỳ phương tiện nào để mưu sinh: lẽ ra tôi nên nói cho anh biết dự định của mình. Lẽ ra tôi nên tin tưởng anh: anh sẽ chẳng bao giờ ép buộc tôi phải làm tình nhân của mình đâu. Dẫu có vẻ hung hăng trong cơn tuyệt vọng, nhưng thực tâm anh quá yêu và quá dịu dàng với tôi để có thể tự biến mình thành một kẻ bạo chúa: anh thà dâng một nửa gia tài cho mình, mà chẳng thèm đòi hỏi dù chỉ một nụ hôn đáp lại, còn hơn là để tôi phải bơ vơ tung mình ra chốn hồng trần rộng lớn ngoài kia. Anh chắc chắn rằng tôi đã phải chịu đựng nhiều hơn những gì tôi thú nhận với anh.

“Thôi nào, dù những cay đắng của em có là gì đi nữa, chúng cũng đã qua đi rất nhanh thôi,” tôi đáp; rồi tôi tiếp tục kể cho anh nghe về việc mình đã được đón tiếp ở Moor House ra sao; cách tôi có được công việc nữ giáo viên trường làng, v.v. Việc gia tài đổ xuống, rồi việc nhận lại họ hàng lần lượt diễn ra theo đúng thứ tự. Dĩ nhiên, cái tên St. John Rivers cũng xuất hiện không ít lần trong tiến trình câu chuyện của tôi. Khi tôi vừa dứt lời, cái tên ấy lập tức được nhắc lại.

“Cái gã St. John này, hóa ra là họ hàng của em sao?”

“Vâng.”

“Em đã nhắc về hắn rất nhiều lần: em có thích hắn không?”

“Hắn là một người đàn ông rất tốt, thưa ngài; em không thể không thích hắn được.”

“Một người đàn ông tốt. Ý câu này là một kẻ đứng đắn, hạnh kiểm tốt ở tuổi năm mươi à? Hoặc ý nghĩa thực sự của nó là gì?”

“St. John mới chỉ hai mươi chín tuổi thôi, thưa ngài.”

“‘Jeune encore’ [Vẫn còn trẻ], như người Pháp hay nói. Hắn ta thấp người, chậm chạp và tầm thường phải không? Kiểu người mà sự tốt bụng chủ yếu nằm ở chỗ hắn không phạm tội ác, chứ chẳng phải vì hắn có chiến tích gì trong đức hạnh.”

“Hắn ta cực kỳ năng nổ không biết mệt mỏi. Những việc lớn lao và cao cả chính là lẽ sống của hắn.”

“Còn bộ óc của hắn thì sao? Chắc là hơi mềm xèo phải không? Hắn có ý tốt: nhưng em có nhún vai mỗi khi nghe hắn nói không?”

“Hắn ít nói lắm, thưa ngài: những gì hắn thốt ra đều rất trúng trọng tâm. Bộ óc của hắn thuộc loại xuất chúng, em nghĩ là không dễ bị lung lay nhưng lại cực kỳ minh mẫn.”

“Vậy ra hắn là một kẻ có tài năng thực sự sao?”

“Thực sự tài năng.”

“Một người được giáo dục kỹ lưỡng chứ?”

“St. John là một học giả uyên bác và tài hoa.”

“Anh nghĩ là em từng nói phong thái của hắn không hợp với gu của em nhỉ?—kiểu ra vẻ bề trên và giống cha xứ ấy hả?”

“Em chưa bao giờ nhắc đến phong thái của hắn; nhưng, trừ phi gu thẩm mỹ của em quá tệ, nếu không thì phong thái ấy chắc chắn phải hợp thôi; chúng rất lịch thiệp, điềm đạm và ra dáng quý ông.”

“Ngoại hình của hắn,—anh quên mất em miêu tả ngoại hình hắn thế nào rồi;—kiểu một gã phụ tá mục sư non choẹt, bị bóp cổ nửa vời trong chiếc khăn quàng cổ trắng, và đi đôi giày cao cổ đế dày cộm phải không?”

“St. John ăn mặc rất đẹp. Hắn là một người đàn ông đẹp trai: cao ráo, tóc vàng, mắt xanh, và có chiếc mũi dọc dừa chuẩn mực Hy Lạp.”

(Nói nhỏ.) “Mẹ kiếp nhà hắn!”—(Nói với tôi.) “Em có thích hắn không, Jane?”

“Vâng, thưa ông Rochester, em thích hắn: nhưng câu này ngài vừa hỏi em rồi còn gì.”

Dĩ nhiên là tôi nhận ra dụng ý của người đối thoại với mình. Cơn ghen tuông đã tóm lấy anh; nó cắn rứt anh; nhưng sự cắn rứt ấy lại vô cùng có ích: nó mang lại cho anh sự giải thoát khỏi nanh vuốt gặm nhấm của nỗi u sầu. Do đó, tôi sẽ không vội vàng làm dịu cơn thịnh nộ của “con mãng xà” ấy ngay đâu.

“Có lẽ cô Eyre sẽ không muốn ngồi trên đùi tôi nữa đâu nhỉ?” là câu nhận xét tiếp theo có phần bất ngờ.

“Sao lại thế, thưa ông Rochester?”

“Bức tranh mà em vừa phác họa gợi lên một sự tương phản quá đỗi khập khiễng. Những lời của em đã miêu tả khá đẹp đẽ về một vị thần Apollo tao nhã: hắn đang hiện diện trong trí tưởng tượng của em đấy,—cao ráo, tóc vàng, mắt xanh và mang chiếc mũi dọc dừa chuẩn Hy Lạp. Trong khi mắt em lại đang đăm đăm nhìn vào một gã Vulcan,—một thợ rèn chính hiệu, da ngăm đen, vai u thịt bắp: lại còn mù lòa và què quặt nữa chứ.”

“Trước giờ em chưa từng nghĩ đến điều đó; nhưng quả thực ngài có chút gì đó giống thần Vulcan đấy, thưa ngài.”

“Được rồi, cô có thể rời đi rồi đấy, thưa cô: nhưng trước khi đi” (và anh siết chặt lấy tôi còn chặt hơn trước), “cô vui lòng trả lời tôi một hoặc hai câu hỏi đã.” Anh khựng lại.

“Câu hỏi gì thế, thưa ông Rochester?”

Tiếp theo là màn tra vấn chéo này.

“St. John đã cho em làm giáo viên trường làng ở Morton trước khi hắn biết em là họ hàng của hắn phải không?”

“Vâng.”

“Em sẽ thường xuyên gặp hắn chứ? Thỉnh thoảng hắn vẫn đến thăm trường chứ?”

“Mỗi ngày.”

“Hắn sẽ đồng tình với các kế hoạch của em chứ, Jane? Anh biết chúng hẳn là rất khôn ngoan, bởi em là một sinh linh tài năng mà!”

“Hắn đồng tình với chúng—vâng.”

“Hắn sẽ phát hiện ra ở em nhiều điều mà hắn không ngờ tới ư? Một số tài lẻ của em đâu phải dạng tầm thường.”

“Em không rõ về điều đó cho lắm.”

“Em có một ngôi nhà nhỏ gần trường, em nói thế mà: hắn có bao giờ đến đó thăm em không?”

“Thỉnh thoảng.”

“Vào buổi tối à?”

“Một hoặc hai lần.”

Im lặng một lát.

“Em đã ở cùng hắn và các chị em gái của hắn bao lâu sau khi quan hệ họ hàng được hé lộ?”

“Năm tháng.”

“Rivers có dành nhiều thời gian cho những người phụ nữ trong gia đình hắn không?”

“Vâng; căn phòng khách phía sau vừa là phòng học của hắn vừa là của chúng em: hắn ngồi gần cửa sổ, còn chúng em ngồi bên bàn.”

“Hắn có chăm chỉ học hành không?”

“Khá chăm chỉ.”

“Môn gì thế?”

“Tiếng Hindustan.”

“Và trong lúc đó em làm gì?”

“Ban đầu em học tiếng Đức.”

“Hắn dạy em à?”

“Hắn không biết tiếng Đức.”

“Hắn không dạy em cái gì sao?”

“Một ít tiếng Hindustan.”

“Rivers dạy em tiếng Hindustan ư?”

“Vâng, thưa ngài.”

“Và cả các chị em gái của hắn nữa chứ?”

“Không.”

“Chỉ mình em thôi à?”

“Chỉ một mình em.”

“Em có chủ động xin học không?”

“Không.”

“Là hắn muốn dạy em ư?”

“Vâng.”

Lại một khoảng lặng thứ hai.

“Tại sao hắn lại muốn thế? Tiếng Hindustan thì có ích gì cho em cơ chứ?”

“Hắn định đưa em đi cùng sang Ấn Độ.”

“À! Giờ thì ta chạm đến cốt lõi vấn đề rồi đây. Hắn muốn cưới em đúng không?”

“Hắn đã cầu hôn em.”

“Đó là một câu chuyện bịa—một phát minh trơ trẽn nhằm chọc tức anh.”

“Xin lỗi ngài, đó là sự thật trăm phần trăm: hắn cầu hôn em không chỉ một lần, và cũng cứng đầu ép uổng vụ đó chẳng kém gì ngài đâu đấy.”

“Cô Eyre, tôi lặp lại lần nữa, cô có thể rời đi rồi đấy. Tôi phải nhắc lại câu đó bao nhiêu lần nữa đây? Tại sao cô cứ bướng bỉnh ngự trên đùi tôi thế, trong khi tôi đã ra lệnh cho cô biến đi cơ mà?”

“Bởi vì ngồi đây rất thoải mái.”

“Không, Jane, em không hề thoải mái đâu, bởi vì trái tim em không hướng về anh: nó đang ở cạnh gã họ hàng này—gã St. John kia. Ồ, cho đến tận khoảnh khắc này, anh cứ nghĩ bé Jane của anh hoàn toàn là của riêng anh! Anh từng tin rằng nàng vẫn yêu anh ngay cả khi nàng rời bỏ anh: đó là một chút ngọt ngào giữa vô vàn cay đắng. Dẫu chúng ta có xa cách lâu đến thế nào, dù những giọt nước mắt nóng hổi anh từng khóc vì sự biệt ly ấy ra sao, anh chưa từng nghĩ rằng trong lúc anh đang đau khổ thương khóc nàng, thì nàng lại đang yêu một kẻ khác! Nhưng có buồn rầu cũng vô ích thôi. Jane, rời đi đi: đi mà kết hôn với Rivers đi.”

“Vậy thì hãy hất em ra đi, thưa ngài,—đẩy em ra đi, bởi vì em sẽ chẳng tự nguyện rời đi đâu.”

“Jane, anh vẫn luôn thích giọng điệu này của em: nó lại thắp lên hy vọng, nghe sao mà chân thực đến thế. Mỗi khi nghe thấy nó, anh như được đưa trở lại của một năm về trước. Anh quên mất rằng em đã vướng vào một mối lương duyên mới. Nhưng anh đâu phải kẻ ngốc—đi đi—”

“Em phải đi đâu đây, thưa ngài?”

“Theo con đường của chính em—với người chồng mà em đã chọn.”

“Là ai thế?”

“Em biết thừa còn gì—cái gã St. John Rivers ấy.”

“Hắn không phải chồng em, và chưa bao giờ là thế cả. Hắn không yêu em: em cũng chẳng yêu hắn. Hắn yêu (theo cách mà hắn có thể yêu, và cách đó không giống như cách ngài yêu) một tiểu thư xinh đẹp tên là Rosamond. Hắn chỉ muốn cưới em vì nghĩ rằng em sẽ làm một người vợ nhà truyền giáo thích hợp, trong khi tiểu thư kia thì không. Hắn là một người tốt và vĩ đại, nhưng lại vô cùng khắc nghiệt; và đối với em, hắn lạnh lùng như một tảng băng trôi. Hắn không giống ngài, thưa ngài: em chẳng hề hạnh phúc khi ở cạnh hắn, gần hắn hay đi cùng hắn. Hắn chẳng hề khoan dung với em—chẳng chút cưng chiều. Hắn chẳng thấy ở em điểm gì hấp dẫn cả; thậm chí chẳng buồn nhìn đến tuổi trẻ—chỉ chăm chăm vào một vài điểm trí tuệ có ích cho công việc mà thôi.—Thế em buộc phải rời bỏ ngài để đến với hắn sao?”

Tôi vô thức rùng mình, và theo bản năng lại ôm chầm lấy vị chủ nhân mù lòa nhưng vô cùng yêu dấu của mình thêm một chút nữa. Anh mỉm cười.

“Sao thế, Jane! Chuyện này có thật không? Thực sự giữa em và Rivers cơ sự lại nông nỗi này ư?”

“Hoàn toàn thật đấy, thưa ngài! Ồ, ngài chẳng cần phải ghen tuông đâu! Em chỉ muốn trêu ngài một chút để ngài bớt u sầu thôi: em cứ nghĩ nổi giận vẫn còn hơn là đau khổ. Nhưng nếu ngài muốn em yêu ngài, chỉ cần ngài thấy được em yêu ngài nhiều nhường nào, ngài sẽ phải tự hào và mãn nguyện thôi. Toàn bộ trái tim em là của ngài, thưa ngài; nó thuộc về ngài; và nó sẽ mãi ở lại bên ngài, dẫu cho số phận có đày ải phần còn lại của thân xác này rời xa sự hiện diện của ngài đi chăng nữa.”

Lại một lần nữa, khi anh hôn tôi, những suy nghĩ đau đớn lại làm lu mờ nét mặt anh.

“Đôi mắt đã lòa của anh! Sức lực đã tàn phế của anh!” anh lẩm bẩm đầy tiếc nuối.

Tôi âu yếm vuốt ve để xoa dịu anh. Tôi thừa biết anh đang nghĩ gì, và rất muốn nói thay cho anh nhưng lại chẳng dám. Khi anh quay mặt đi một phút, tôi nhìn thấy một giọt nước mắt trào ra từ dưới mí mắt đang mím chặt, lăn dài trên gò má nam tính. Trái tim tôi thắt lại.

“Anh chẳng khác gì cái cây hạt dẻ già bị sét đánh ở vườn quả Thornfield,” chẳng bao lâu sau anh cất lời nhận xét. “Và cái đống đổ nát ấy thì có quyền gì mà đòi hỏi một dây tầm xuân đang đơm chồi nảy lộc phải che lấp đi sự mục nát của nó bằng vẻ tươi tắn cơ chứ?”

“Ngài không phải là đống đổ nát nào cả, thưa ngài—không phải cái cây bị sét đánh nào hết: ngài vẫn xanh tươi và tràn đầy sức sống. Những loài cây cỏ sẽ vẫn cứ mọc quanh rễ ngài, dù ngài có muốn hay không, bởi vì chúng thích thú được nằm dưới bóng râm hào phóng của ngài; và khi lớn lên, chúng sẽ ngả về phía ngài, quấn quýt lấy ngài, bởi vì sức mạnh của ngài mang lại cho chúng một chỗ dựa vô cùng an toàn.”

Lại một lần nữa anh mỉm cười: tôi đã mang lại sự an ủi cho anh.

“Em đang nói về những người bạn phải không, Jane?” anh hỏi.

“Vâng, về những người bạn,” tôi đáp có phần ngập ngừng: bởi tôi biết mình còn ngầm ý nhiều hơn thế nữa nhưng lại chẳng biết dùng từ nào khác để diễn tả. Anh đã giúp tôi.

“À! Jane. Nhưng anh muốn có một người vợ.”

“Thế ư, thưa ngài?”

“Phải: đó là tin mới đối với em sao?”

“Dĩ nhiên rồi: trước đó ngài có đả động gì đến chuyện này đâu.”

“Đó có phải là một tin không mấy vui vẻ không?”

“Còn tùy thuộc vào hoàn cảnh nữa chứ, thưa ngài—tùy thuộc vào sự lựa chọn của ngài.”

“Vậy chính em sẽ thay anh lựa chọn đi, Jane. Anh sẽ tuân theo quyết định của em.”

“Vậy hãy chọn đi, thưa ngài—chọn người yêu ngài nhất ấy.”

“Ít nhất anh sẽ chọn—người mà anh yêu nhất. Jane, em sẽ lấy anh chứ?”

“Vâng, thưa ngài.”

“Một gã đàn ông mù lòa nghèo khổ, mà em sẽ phải dắt tay đi khắp nơi ư?”

“Vâng, thưa ngài.”

“Một gã tàn tật, hơn em tận hai mươi tuổi, mà em sẽ phải phụng dưỡng ư?”

“Vâng, thưa ngài.”

“Thực lòng thế chứ, Jane?”

“Vô cùng thực lòng, thưa ngài.”

“Ôi! Người thương của anh! Cầu Chúa phù hộ và ban thưởng cho em!”

“Ông Rochester, nếu có lúc nào trong đời em làm được một việc tốt—nếu có lúc nào em suy nghĩ một điều thiện lành—nếu có lúc nào em cầu nguyện một lời cầu nguyện thành tâm và vô tội—nếu có lúc nào em ước mong một điều chính trực,—thì giờ đây chính là lúc em được đền đáp. Được làm vợ ngài, đối với em, chính là hạnh phúc trọn vẹn nhất mà một con người có thể có được trên cõi đời này.”

“Bởi vì em thích sự hy sinh.”

“Hy sinh! Em hy sinh cái gì cơ chứ? Đổi cơn đói lấy thức ăn, đổi sự mong mỏi lấy sự thỏa nguyện. Được đặc quyền vòng tay ôm lấy trân quý—được áp môi vào những gì mình yêu thương—được tựa đầu vào chỗ mình tin tưởng: thế mà gọi là hy sinh ư? Nếu vậy thì quả thực em rất thích hy sinh đấy.”

“Và phải chịu đựng những khiếm khuyết của anh nữa chứ, Jane: phải bỏ qua những thiếu sót của anh nữa.”

“Chẳng có thiếu sót nào cả, thưa ngài, ít nhất là đối với em. Em yêu ngài lúc này hơn, khi mà em thực sự có ích cho ngài, còn hơn là cái thời ngài sống trong sự tự lập kiêu hãnh mà ở đó ngài khinh miệt mọi vai trò trừ việc làm kẻ ban phát và người bảo vệ.”

“Từ trước đến nay anh vẫn luôn căm ghét việc bị giúp đỡ—bị dắt mũi: nhưng từ nay trở đi, anh cảm thấy mình sẽ chẳng còn căm ghét điều đó nữa. Anh từng không thích đặt bàn tay mình vào tay của một kẻ làm thuê, nhưng thật dễ chịu làm sao khi cảm thấy nó được bao bọc bởi những ngón tay nhỏ nhắn của Jane. Anh từng thích sự cô đơn tột cùng hơn là sự hầu hạ liên tục của đám đầy tớ; nhưng sự chăm sóc dịu dàng của Jane sẽ là niềm vui vĩnh cửu. Jane rất hợp với anh: vậy anh có hợp với em không?”

“Đến từng sợi tơ nhỏ trong bản ngã của em luôn đấy, thưa ngài.”

“Đã vậy thì chúng ta chẳng việc gì trên đời này phải chờ đợi nữa cả: chúng ta phải kết hôn ngay lập tức.”

Ánh mắt và giọng điệu của anh tràn ngập sự sốt sắng: sự bốc đồng ngày xưa lại đang trỗi dậy trong anh.

“Chúng ta phải nên duyên vợ chồng mà không mảy may chậm trễ, Jane ạ: chỉ còn mỗi việc đi lấy giấy phép nữa thôi—rồi chúng ta sẽ làm đám cưới.”

“Ông Rochester, em vừa phát hiện ra mặt trời đã ngả bóng về phía tây rồi, và con Pilot thực sự đã chạy về nhà ăn tối luôn kìa. Để em xem đồng hồ của ngài nào.”

“Hãy cài nó vào thắt lưng của em đi, Janet, và giữ lấy nó từ nay về sau đi: anh chẳng còn dùng đến nó nữa đâu.”

“Đã gần bốn giờ chiều rồi đấy, thưa ngài. Ngài có thấy đói không?”

“Ngày thứ ba tính từ hôm nay phải là ngày cưới của chúng ta, Jane. Đừng bận tâm đến trang phục hay châu báu lộng lẫy nữa: tất cả những thứ đó chẳng đáng một búng tay đâu.”

“Mặt trời đã làm khô ráo tất cả những giọt mưa rồi, thưa ngài. Gió cũng đã lặng: trời khá là oi bức đấy.”

“Em có biết không, Jane, ngay lúc này đây anh vẫn đang đeo chiếc vòng cổ ngọc trai nhỏ bé của em vòng quanh cái cổ ngăm đen của anh dưới lớp khăn quàng cổ đấy? Anh đã đeo nó kể từ ngày anh đánh mất báu vật duy nhất đời mình, như một vật kỷ niệm về nàng.”

“Chúng ta sẽ đi bộ về nhà qua đường rừng nhé: đó sẽ là con đường râm mát nhất.”

Anh tiếp tục chìm đắm trong suy nghĩ của riêng mình mà chẳng thèm đếm xỉa gì đến tôi.

“Jane! Chắc là em nghĩ anh là một kẻ vô đạo đức: nhưng lòng anh lúc này đang tràn ngập lòng biết ơn đối với vị Thiên Chúa nhân từ của trái đất này. Ngài không nhìn ngó như cách con người nhìn ngó, mà thấu suốt hơn nhiều; không phán xét theo cách con người phán xét, mà khôn ngoan hơn gấp bội. Anh đã làm điều sai quấy: anh từng định vấy bẩn bông hoa tinh khôi của mình—thổi hơi hướng tội lỗi lên sự thuần khiết ấy: Đấng Toàn Năng đã giật phanh nó khỏi tay anh. Trong cơn cuồng nộ ương ngạnh của mình, anh suýt thì nguyền rủa cả ý trời: thay vì cúi đầu tuân theo sắc lệnh ấy, anh lại chống đối lại nó. Công lý thiêng liêng vẫn tiếp tục tiến hành; tai họa giáng xuống đầu anh dồn dập: anh buộc phải đi qua thung lũng bóng tối của sự chết. Những hình phạt của Ngài thật vĩ đại; và một đòn giáng xuống đã khiến anh phải cúi đầu khuất phục mãi mãi. Em biết là anh từng kiêu hãnh về sức mạnh của mình thế nào rồi đấy: nhưng giờ nó là cái thối tha gì khi anh phải trao nó cho người khác dẫn dắt, hệt như một đứa trẻ trao đi sự yếu đuối của nó vậy? Mới gần đây thôi, Jane—chỉ—chỉ mới gần đây thôi—anh mới bắt đầu nhìn thấy và thừa nhận bàn tay của Chúa trong định mệnh của mình. Anh bắt đầu cảm thấy sự hối hận, ăn năn; khao khát được hòa giải với Đấng Tạo Hóa của mình. Đôi khi anh bắt đầu cầu nguyện: dẫu đó chỉ là những lời cầu nguyện vô cùng ngắn ngủi, nhưng lại vô cùng thành tâm.”

“Cách đây vài ngày: không, anh có thể đếm chính xác—bốn ngày trước; đó là vào tối thứ Hai tuần trước, một tâm trạng kỳ lạ đã bao trùm lấy anh: tâm trạng trong đó sự đau buồn thay thế cho sự cuồng nộ—nỗi xót xa thay cho sự u uất. Từ lâu anh đã có ấn tượng rằng vì chẳng thể tìm thấy em ở bất cứ đâu, chắc chắn em đã chết rồi. Đêm hôm đó, lúc muộn—có lẽ khoảng giữa mười một và mười hai giờ đêm—trước khi anh lui về chốn nghỉ ngơi thê lương của mình, anh đã khẩn cầu Thiên Chúa, rằng nếu điều đó là đẹp ý Ngài, xin hãy sớm mang anh đi khỏi cuộc đời này, và đưa anh đến thế giới bên kia, nơi vẫn còn hy vọng được đoàn tụ với Jane.”

“Anh đang ở trong phòng mình, ngồi cạnh khung cửa sổ đang mở: cảm giác được làn gió đêm dịu mát mơn man khiến lòng anh dịu lại; dẫu anh chẳng thể nhìn thấy chút ngôi sao nào và chỉ nhận ra sự hiện diện của mặt trăng nhờ một làn sương mù mờ ảo. Anh khao khát có em biết bao, Janet! Ôi, anh khao khát em bằng cả tâm hồn lẫn thể xác! Anh đã van xin Chúa, vừa trong sự đớn đau vừa trong sự nhún nhường, rằng chẳng lẽ anh vẫn chưa chịu đựng đủ sự cô quạnh, đọa đày, dằn vặt này hay sao; và liệu anh có sớm được nếm trải hạnh phúc và bình yên một lần nữa hay không. Rằng anh xứng đáng với mọi cay đắng mình phải chịu đựng, anh xin thừa nhận—rằng anh khó lòng chịu đựng thêm được nữa, anh khẩn khoản van xin; và đỉnh điểm của những khao khát trong trái tim anh đã thốt lên một cách vô thức qua bờ môi—‘Jane! Jane! Jane!’”

“Ngài có thốt những lời đó ra thành tiếng không?”

“Có chứ, Jane. Nếu lúc đó có bất kỳ kẻ nghe trộm nào ở quanh đây, hắn sẽ tưởng anh điên mất: anh thốt ra chúng với một năng lượng cuồng nhiệt tột cùng.”

“Và đó là vào tối thứ Hai tuần trước, đâu đó gần nửa đêm phải không ạ?”

“Đúng thế; nhưng thời gian chẳng có gì quan trọng: điều tiếp theo mới là điểm kỳ lạ. Em sẽ nghĩ anh mê tín thôi,—anh vốn có dòng máu mê tín trong người, từ xưa đã thế: dẫu vậy, điều này là sự thật—sự thật ít nhất là ở chỗ anh đã nghe thấy những gì anh sắp kể sau đây.”

“Khi anh kêu lên ‘Jane! Jane! Jane!’ một giọng nói—anh không thể biết giọng nói ấy phát ra từ đâu, nhưng anh biết đó là giọng của ai—đã đáp lời, ‘Em đang tới đây: hãy đợi em;’ và chỉ một khoảnh khắc sau, tiếng thì thầm theo gió lướt qua những từ—‘Em đang ở đâu?’”

“Anh sẽ kể cho em nghe, nếu có thể, về ý niệm, bức tranh mà những từ đó mở ra trong tâm trí anh: nhưng thật khó để diễn tả những gì anh muốn diễn tả. Ferndean bị vùi lấp, như em thấy đấy, trong một khu rừng rậm rạp, nơi âm thanh rơi xuống bị bóp nghẹt và lụi tàn chẳng thể vọng lại. ‘Em đang ở đâu?’ nghe như được thốt lên giữa chốn núi non hiểm trở; bởi anh nghe thấy tiếng vang vọng từ sườn đồi lặp lại những từ ấy. Ngay khoảnh khắc đó, cơn gió lướt qua trán anh dường như mát mẻ và tươi mới hơn: anh đã từng đinh ninh rằng giữa khung cảnh hoang vu, cô độc nào đó, anh và Jane đang gặp nhau. Tinh thần của chúng ta, anh tin chắc là đã gặp nhau. Chắc chắn là vào giờ phút đó, Jane đang chìm trong giấc ngủ vô thức: có lẽ linh hồn em đã lang thang khỏi thể xác để đến an ủi anh; bởi vì đó chính là âm điệu của em—chắc chắn như khi anh còn sống—đó chính là của em!”

Hỡi bạn đọc, chính vào tối thứ Hai hôm ấy—gần nửa đêm—tôi cũng đã nhận được lời triệu hồi kỳ bí đó: đó chính là những từ ngữ chính xác mà tôi đã dùng để đáp lại. Tôi lắng nghe câu chuyện của ông Rochester nhưng chẳng hề hé lộ điều gì đáp lại. Sự trùng hợp ấy đối với tôi quá ư kinh ngạc và không thể giải thích nổi để có thể đem ra kể lể hay bàn tán. Nếu tôi kể ra bất cứ điều gì, câu chuyện của tôi chắc chắn sẽ tạo ra một ấn tượng sâu sắc trong tâm trí người nghe: và tâm trí ấy, vốn hãy còn dễ chìm vào u sầu do những tổn thương vừa qua, hoàn toàn không cần thêm cái bóng u ám sâu thẳm hơn của thế giới siêu nhiên. Vì thế, tôi đã giữ kín những chuyện đó trong lòng và nghiền ngẫm chúng.

“Bây giờ thì em không thể ngạc nhiên,” chủ nhân tiếp lời, “khi tối qua em bất thình lình xuất hiện trước mặt anh một cách đầy bất ngờ, anh đã phải chật vật lắm mới tin rằng em không chỉ là một giọng nói và ảo ảnh thuần túy, thứ sẽ tan biến thành sự im lặng và hư vô, hệt như tiếng thì thầm lúc nửa đêm và tiếng vọng núi non đã tan biến trước đó. Giờ đây, ơn Chúa! anh biết mọi chuyện không phải như vậy. Vâng, tạ ơn Chúa!”

Anh đẩy tôi ra khỏi đùi mình, đứng dậy, cung kính nhấc chiếc mũ khỏi trán và cúi đôi mắt mù lòa xuống đất, đứng đó trong sự sùng kính câm lặng. Chỉ có những từ cuối cùng của lời cầu nguyện là có thể nghe rõ.

“Con tạ ơn Đấng Tạo Hóa của con, rằng giữa chốn phán xét muôn màu, Ngài vẫn nhớ đến lòng trắc ẩn. Con thành kính khẩn cầu Đấng Cứu Chuộc ban cho con sức mạnh để từ nay về sau có thể dẫn dắt một cuộc đời thanh tịnh hơn những gì con từng làm trước đây!”

Rồi anh đưa tay ra hiệu muốn được dẫn đường. Tôi nắm lấy bàn tay thân thương ấy, đặt lên môi mình một thoáng, rồi để nó vòng qua vai mình: vì tôi có chiều cao khiêm tốn hơn anh rất nhiều, nên tôi vừa đóng vai trò là trụ cột vừa là người dẫn đường cho anh. Chúng tôi bước vào khu rừng, thong thả tìm đường về nhà.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.