Từ cuộc trò chuyện của tôi với ông Lloyd, và từ cuộc bàn bạc giữa Bessie và Abbot đã kể trên, tôi thu nhặt đủ chút hy vọng để làm động lực mong mau chóng khỏe lại. Một sự thay đổi dường như sắp đến; tôi thầm khao khát và chờ đợi nó trong lặng lẽ.
Thế nhưng chuyện ấy vẫn chưa đến. Ngày qua tuần lại, sức khỏe bình thường của tôi đã hồi phục, nhưng chẳng có thêm lời bóng gió nào được thốt lên về vấn đề mà tôi đang nung nấu trong lòng. Thỉnh thoảng bà Reed nhìn tôi bằng ánh mắt nghiêm khắc, nhưng hiếm khi mở lời với tôi. Kể từ khi tôi lâm bệnh, bà còn vạch ra ranh giới cách biệt rõ rệt hơn bao giờ hết giữa tôi và đám con ruột của bà; bắt tôi ở một căn phòng nhỏ tự ngủ một mình, bắt tôi ăn uống một mình, và giành giật toàn bộ thời gian của tôi ở phòng trẻ, trong khi các anh chị họ của tôi lúc nào cũng ở trong phòng khách. Dù vậy, bà chẳng hé nửa lời về chuyện cho tôi đi học; thế nhưng trong thâm tâm, tôi có một linh cảm chắc chắn rằng bà sẽ không đời nào chịu đựng tôi dưới cùng một mái nhà với bà lâu hơn nữa. Bởi vì ánh mắt bà nhìn tôi, nay lại càng biểu lộ sự chán ghét cay đắng và cắm rễ sâu xa hơn bao giờ hết.
Eliza và Georgiana, rõ ràng hành động theo lệnh bề trên, nói chuyện với tôi ít nhất có thể. John thè lưỡi trêu tôi mỗi khi nhìn thấy tôi, và có một lần định giở trò thượng cẳng chân hạ cẳng tay; nhưng khi tôi lập tức vùng lên chống lại nó, bị kích động bởi ngọn lửa căm hờn sục sôi và sự nổi loạn tuyệt vọng từng hun đúc trong tâm hồn tôi từ trước, nó thấy tốt hơn là nên rút lui, vừa chạy vừa tru tréo nguyền rủa và thề rằng tôi đã làm vỡ mũi nó. Thật ra tôi đã giáng vào cái bộ phận nổi bật đó một cú đấm mạnh hết mức bằng khớp ngón tay; và khi thấy chính đòn dọa dẫm ấy hoặc cái nhìn của tôi đã khiến nó chùn bước, tôi suýt nữa đã muốn đuổi theo để thừa thắng xông lên cho bõ tức. Nhưng nó đã kịp chạy về với u nó. Tôi nghe nó vừa mếu máo vừa bắt đầu kể lể chuyện “con Jane Eyre khốn khiếp” đã chồm lấy nó như một con mèo dại ra sao; nó bị chặn lại khá phũ phàng—
— “Đừng có kể lể gì về nó với tao nữa, John: tao đã bảo mày đừng có bén mảng tới gần nó; nó không đáng để bận tâm; tao không muốn mày hay các chị mày giao du với nó đâu.”
Ngay lúc ấy, tựa người vào lan can, tôi thốt lên đột ngột và chẳng hề suy tính gì về lời nói của mình—
— “Họ mới là những kẻ không xứng đáng giao du với tôi.”
Bà Reed vốn là một phụ nữ khá đẫy đà, nhưng khi nghe thấy lời tuyên bố kỳ lạ và táo tợn này, bà thoăn thoắt chạy phắt lên cầu thang, quét sạch tôi như một trận cuồng phong vào phòng trẻ, rồi ấn mạnh tôi xuống mép chiếc nôi em bé, dùng một giọng đầy đe dọa thách tôi dám đứng dậy khỏi chỗ đó hoặc thốt ra dù chỉ nửa lời trong suốt phần thời gian còn lại của ngày hôm nay.
— “Ông Reed sẽ nói gì với bà nếu ông ấy còn sống?” là câu hỏi thốt ra gần như ngoài tầm kiểm soát của tôi. Tôi nói là gần như ngoài ý muốn, bởi vì có cảm giác như chiếc lưỡi tự động thốt ra những lời nói mà lý trí tôi không hề đồng thuận; có cái gì đó cất lên từ tận đáy lòng tôi mà tôi chẳng tài nào kiểm soát nổi.
— “Cái gì?” bà Reed thốt lên trong hơi thở; đôi mắt xám bình thường vốn lạnh lùng và điềm tĩnh bỗng dao động với một vẻ mặt tựa như sự sợ hãi; bà rút tay khỏi cánh tay tôi, sững sờ nhìn tôi như thể thực sự không biết tôi là một đứa trẻ hay một con quỷ sứ. Phen này thì tôi tiêu đời rồi.
— “Bác Reed của tôi đang ở trên thiên đàng, và có thể nhìn thấy mọi điều bà làm và nghĩ; tía má tôi cũng vậy: họ biết rõ bà đã nhốt tôi suốt cả ngày lẫn đêm thế nào, và bà mong tôi chết đi ra sao.”
Bà Reed nhanh chóng lấy lại tinh thần; bà tát tôi một cú đau điếng, giáng cho tôi mấy bạt tai cháy má, rồi bỏ đi mà không nói một lời nào. Bessie lấp đầy khoảng trống ấy bằng một bài giảng đạo dài trọn một tiếng đồng hồ, trong đó cô chứng minh không còn nghi ngờ gì nữa rằng tôi là đứa trẻ hư hỏng và trơ trẽn nhất từng được nuôi dưỡng dưới một mái nhà. Tôi suýt tin lời cô; bởi vì tôi thực sự cảm thấy những cảm xúc tồi tệ đang dâng trào trong lồng ngực.
Tháng Mười một, tháng Mười hai, rồi nửa tháng Giêng lần lượt trôi qua. Lễ Giáng sinh và Năm mới đã được ăn mừng tại Gateshead với bầu không khí lễ hội quen thuộc; những món quà được trao đổi, những bữa tối và tiệc tối được tổ chức. Dĩ nhiên, tôi bị gạt ra khỏi mọi cuộc vui. Phần thưởng của tôi trong những ngày hội hè ấy là chứng kiến cảnh Eliza và Georgiana sửa soạn trang phục mỗi ngày, ngắm nhìn họ xúng xính bước xuống phòng khách trong những chiếc váy muslin mỏng manh cùng dải băng đỏ rực rỡ, mái tóc được uốn lọn cầu kỳ; và sau đó là lắng nghe tiếng đàn piano hoặc đàn hạc vọng lên từ dưới nhà, tiếng bước chân qua lại của quản gia và người hầu, tiếng lanh canh của thủy tinh và sứ khi người ta bưng bê đồ nhắm, tiếng rì rầm đứt quãng của cuộc trò chuyện mỗi khi cánh cửa phòng khách mở ra rồi khép lại. Khi đã chán ngấy trò tiêu khiển ấy, tôi lại lủi thủi rời khỏi chiếu nghỉ cầu thang để lui về căn phòng trẻ cô độc và tĩnh lặng. Ở đó, dẫu có chút buồn bã, nhưng tôi không hề đau khổ. Thật ra, tôi chẳng có lấy một chút ham muốn nào được bước chân vào chốn đông người, bởi vì ở đó tôi rất hiếm khi được đoái hoái tới; và giả sử Bessie tử tế và biết làm bạn với tôi, thì tôi đã coi việc được quây quần yên bình cùng cô vào những buổi tối là một niềm hạnh phúc lớn lao, thay vì phải trải qua chúng dưới ánh mắt đáng sợ của bà Reed trong một căn phòng đầy những quý bà và quý ông. Thế nhưng Bessie, ngay khi vừa chải chuốt cho các cô chủ nhỏ xong, liền chuồn thẳng xuống chốn sôi động là nhà bếp và phòng quản gia, thường là mang theo cả ngọn nến bên mình. Khi ấy, tôi ngồi ôm búp bê trong lòng cho đến khi ngọn lửa trong lò lụi dần, thỉnh thoảng liếc mắt nhìn quanh để chắc chắn rằng không có thứ gì tệ hại hơn bản thân tôi đang lảng vảng trong căn phòng tối mờ ảo; và khi những tàn than chìm xuống một màu đỏ xỉn, tôi vội vã cởi quần áo, loay hoay tháo gỡ những nút thắt và dây buộc hết mức có thể, rồi tìm kiếm sự che chở khỏi cái lạnh và bóng tối trong chiếc nôi nhỏ của mình. Lúc nào tôi cũng mang theo con búp bê vào chiếc nôi ấy; con người ta buộc phải yêu mến một thứ gì đó, và giữa lúc thiếu thốn những đối tượng đáng kính trọng để trao gửi tình cảm, tôi đã xoay sở tìm thấy niềm vui trong việc yêu thương và nâng niu một pho tượng khắc đã phai màu, tả tơi chẳng khác gì một hình nộm đuổi chim thu nhỏ. Giờ đây nghĩ lại, tôi vẫn thấy khó hiểu vì sao mình lại có thể si mê món đồ chơi nhỏ bé này với một sự chân thành ngốc nghếch đến thế, cứ nửa tin nửa ngờ rằng nó có sự sống và có cảm giác. Tôi không tài nào chợp mắt nổi nếu nó không được ôm ấp trong vạt áo ngủ của tôi; và khi nó nằm đó an toàn và ấm áp, tôi cảm thấy hạnh phúc biết bao, cứ đinh ninh rằng nó cũng đang hạnh phúc như vậy.
Thời gian dằng dặc trôi qua khi tôi mòn mỏi chờ đợi khách ra về và ngóng trông tiếng bước chân của Bessie trên cầu thang. Thỉnh thoảng, giữa khoảng thời gian đó, cô sẽ chạy lên tìm chiếc ống nhổ hoặc cây kéo, hoặc có lẽ là mang cho tôi chút gì đó lót dạ — một chiếc bánh bao ngọt hoặc bánh phô mai nhân trứng — rồi cô sẽ ngồi bên mép giường trong lúc tôi ăn. Khi tôi ăn xong, cô kéo chăn đắp kín người cho tôi, có hai lần cô cúi xuống hôn tôi và nói: “Chúc ngủ ngon, tiểu thư Jane.” Khi dịu dàng như thế, Bessie đối với tôi là sinh vật tuyệt vời nhất, xinh đẹp nhất và nhân hậu nhất trên đời; và tôi vô cùng khao khát cô lúc nào cũng dễ thương, niềm nở như thế, đừng bao giờ xô đẩy tôi, mắng mỏi hay bắt bẻ tôi một cách vô lý như cô vẫn thường hay làm. Tôi nghĩ, Bessie Lee hẳn là một cô gái có năng khiếu bẩm sinh tốt, bởi vì cô rất tháo vát trong mọi việc và có biệt tài kể chuyện tuyệt vời; ít nhất, tôi đánh giá như vậy qua ấn tượng mà những câu chuyện cổ tích nơi phòng trẻ của cô để lại trong tôi. Cô cũng rất xinh đẹp, nếu ký ức của tôi về gương mặt và vóc dáng cô không sai lệch. Tôi nhớ cô là một thiếu nữ mảnh khảnh, tóc đen, mắt đen, các đường nét trên khuôn mặt rất thanh tú và làn da trắng trẻo, trong trẻo. Tuy nhiên, cô lại có tính khí thất thường, nóng nảy, và những quan niệm mơ hồ về nguyên tắc hay công lý. Dù vậy, với những gì vốn có, tôi vẫn quý mến cô hơn bất cứ ai khác tại trang viên Gateshead.
Đó là ngày mười lăm tháng Giêng, vào khoảng chín giờ sáng. Bessie đã xuống nhà ăn sáng; các anh chị họ của tôi vẫn chưa được gọi lên gặp u họ; Eliza đang đội chiếc mũ phớt và mặc chiếc áo khoác dày làm vườn để ra ngoài cho đàn gia cầm ăn — một công việc mà cô rất thích thú, và cũng chẳng kém phần ham hích khi bán trứng cho quản gia rồi tích cóp số tiền kiếm được ấy. Cô có máu buôn bán và một bản tính rõ rệt là thích dành dụm, điều đó không chỉ thể hiện qua việc bán trứng và gà, mà còn qua những cuộc ngã giá kỳ kèo quyết liệt với người làm vườn về các gốc hoa, hạt giống và cành giâm. Nhân viên ấy có lệnh của bà Reed là phải mua lại từ cô chủ nhỏ tất cả các sản phẩm trong khu vườn hoa mà cô muốn bán; và Eliza sẵn sàng bán cả mái tóc trên đầu nếu cô có thể kiếm được một khoản lời lớn từ đó. Về số tiền kiếm được, thoạt đầu cô giấu chúng ở những xó xỉnh kỳ lạ, bọc trong một mảnh giẻ rách hay một tờ giấy quăn tóc cũ. Nhưng một số mối cất giấu ấy đã bị cô người ở phòng ngủ phát hiện, Eliza sợ có ngày sẽ mất đi kho báu quý giá của mình, nên đành đồng ý giao phó nó cho mẹ mình với mức lãi suất cắt cổ — năm mươi hoặc sáu thập phân phần trăm; khoản lãi suất ấy cô đòi hỏi sòng phẳng vào mỗi quý, tự tay ghi chép sổ sách với một sự chính xác đến lo lắng.
Georgiana ngồi trên chiếc ghế đẩu cao, đang tự chải tóc trước gương, khéo léo đan cài vào những lọn tóc xoăn của mình những bông hoa giả và chiếc lông vũ đã phai màu mà cô tìm thấy trong một ngăn kéo ở gác mái. Tôi đang dọn giường ngủ của mình, vì đã nhận được những mệnh lệnh nghiêm ngặt từ Bessie là phải sắp xếp nó gọn gàng trước khi cô quay lại (bởi vì giờ đây Bessie thường xuyên sai khiến tôi làm một kiểu người hầu phòng trẻ tập sự, chuyên dọn dẹp phòng ốc, phủi bụi ghế đẩu, vân vân). Sau khi đã trải tấm ga phủ giường và gấp gọn chiếc áo ngủ, tôi bước đến bệ cửa sổ để sắp xếp lại một vài cuốn sách tranh và đồ đạc nhà búp bê đang vương vãi ở đó. Một mệnh lệnh cụt lủn của Georgiana bảo tôi hãy để yên những món đồ chơi của cô ta (vì mấy chiếc ghế và gương nhỏ xíu, những chiếc đĩa và tách tiên là tài sản của cô ta) đã chặn đứng hành động của tôi. Rồi, vì chẳng có việc gì khác để làm, tôi đành đưa hơi thở áp lên những bông hoa sương giá đang phủ kín ô cửa kính, nhờ thế mà xóa sạch một khoảng trên mặt kính để có thể phóng tầm mắt ngắm nhìn khung cảnh ngoài sân, nơi mọi thứ đều đứng lặng và đông cứng dưới sự kìm kẹp của một trận súc sinh hàn buốt giá.
Từ khung cửa sổ này, người ta có thể nhìn thấy nhà của người gác cổng và con đường xe ngựa. Ngay khi tôi vừa làm tan chảy phần lớn lớp lá bạc che phủ các ô cửa kính để chừa lại một khoảng trống nhìn ra ngoài, tôi liền thấy những cánh cổng được đẩy tung ra và một cỗ xe ngựa lững thững lăn bánh đi vào. Tôi dửng dưng dõi theo chiếc xe đang tiến lên lối đi; những cỗ xe ngựa vẫn thường đến Gateshead, nhưng chưa từng có chiếc nào chở theo những vị khách mà tôi quan tâm. Nó dừng lại ngay trước hiên nhà, chuông cửa đổ vang dội, và người mới đến được mời vào nhà. Tất cả những điều đó chẳng can gì đến tôi, sự chú ý vốn đang bỏ trống của tôi nhanh chóng tìm thấy một sức hút sinh động hơn ở hình ảnh một chú chim cổ đỏ nhỏ bé đang đói lả, bay đến và hót líu lo trên những cành của cây anh đào trụi lá được đóng đinh vào bức tường gần khung cửa sổ. Phần ăn sáng thừa gồm bánh mì và sữa của tôi vẫn còn đặt trên bàn, và sau khi bẻ vụn một mẩu bánh mì nhỏ, tôi đang cố sức cạy khung cửa sổ để đem những vụn bánh ra bệ cửa ngoài thì Bessie hớt hải chạy xộc lên phòng trẻ.
— “Tiểu thư Jane, cởi chiếc tạp dề ra mau; cô đang làm trò gì ở đấy thế? Sáng nay cô đã rửa mặt mũi tay chân chưa?” Tôi cố cạy thêm một nhịp nữa trước khi trả lời, vì muốn chú chim chắc chắn nhận được phần bánh mì của nó; khung cửa cuối cùng cũng bật mở, tôi vãi những mụn bánh mì, cái thì rơi trên bệ đá, cái thì vương trên cành cây anh đào, rồi khép cửa lại và đáp:
— “Dạ chưa, thưa Bessie; em vừa mới phủi bụi xong.”
— “Đứa trẻ phiền phức và bất cẩn này! thế bây giờ cô đang làm gì thế? Trông mặt cô đỏ lựng lên, cứ như vừa mới giở trò nghịch ngợm nào xong ấy: cô mở cửa sổ ra làm gì thế hả?”
Tôi được tha khỏi việc phải trả lời, bởi vì Bessie có vẻ đang vội vàng đến mức chẳng thèm lắng nghe những lời giải thích. Cô xách cổ tôi lôi xềnh xệch đến bồn rửa mặt, không thương tiếc chà xát một trận ngắn ngủi nhưng may là nhanh chóng lên mặt và tay tôi bằng xà phòng, nước và một chiếc khăn tắm thô ráp; trịnh trọng chỉnh đốn lại đầu tóc tôi bằng một chiếc bàn chớp cứng nhắc, giật phăng chiếc tạp dề trên người tôi, rồi lùa tôi lên tận đỉnh cầu thang, bảo tôi xuống nhà ngay lập tức vì dưới phòng ăn đang cần tôi.
Tôi đã định hỏi xem ai đang cần mình; tôi đã định đòi biết liệu bà Reed có ở đó không; thế nhưng Bessie đã đi khuất tự bao giờ và sập cửa phòng trẻ lại ngay trước mũi tôi. Tôi chậm chạp lê bước xuống nhà. Gần ba tháng nay, tôi chưa từng được gọi đến trước mặt bà Reed; bị giam lỏng suốt bấy lâu trong phòng trẻ, những căn phòng ăn và phòng khách đã trở thành những chốn hiểm địa đáng sợ đối với tôi, khiến tôi vô cùng hoảng hốt mỗi khi phải bén mảng bước vào.
Lúc này, tôi đang đứng giữa sảnh trống trải; trước mặt tôi là cánh cửa phòng ăn, và tôi khựng lại, đầy sợ hãi và run rẩy. Nỗi sợ hãi sinh ra từ những hình phạt bất công đã biến tôi thành một đứa hèn nhát thảm hại biết bao trong những ngày tháng ấy! Tôi sợ phải quay trở lại phòng trẻ, mà cũng sợ phải bước tới phòng khách; tôi đứng ngây ra mười phút trong sự do dự đầy bồn chồn; tiếng chuông phòng ăn vang lên dồn dập đã quyết định thay cho tôi: tôi buộc phải bước vào.
— “Ai lại muốn gặp mình cơ chứ?” tôi thầm hỏi trong lòng khi dùng cả hai tay vặn lấy cái tay nắm cửa cứng ngắc vốn chống cự lại nỗ lực của tôi trong suốt một hai giây. — “Mình sẽ nhìn thấy những gì ngoài thím Reed trong căn phòng ấy?— một người đàn ông hay một người đàn bà?” Tay nắm cửa quay tròn, cánh cửa hé mở, tôi bước qua và cúi gập người hành lễ, rồi ngước nhìn lên — một chiếc cột màu đen! — ít nhất, thoạt nhìn thì hình dáng thẳng tắp, gầy gò, khoác một bộ đồ đen tuyền đang đứng sừng sững trên tấm thảm trải sàn trông giống như thế; khuôn mặt dữ tợn ở phía trên giống hệt như một chiếc mặt nạ được chạm trổ, đặt chễm chệ bên trên thân cột để làm phần đầu trụ.
Bà Reed đang ngồi ở chiếc ghế bành quen thuộc cạnh lò sưởi; bà ra hiệu cho tôi lại gần; tôi làm theo, và bà giới thiệu tôi với vị khách xa lạ lạnh lùng bằng những lời này: “Đây là đứa bé gái mà tôi đã từng thưa chuyện với ông.”
Hắn ta, bởi vì đó là một người đàn ông, chậm rãi quay đầu về phía tôi đang đứng, và sau khi săm soi tôi bằng đôi mắt xám có vẻ tò mò đang lấp lánh dưới cặp lông mày rậm rạp, liền cất giọng trầm trầm và nghiêm nghị vang lên: “Vóc dáng nhỏ bé quá: cháu bao nhiêu tuổi rồi?”
— “Dạ cháu mười tuổi.”
— “Đến thế cơ à?” là câu trả lời mang đầy vẻ hồ nghi; và ông ta kéo dài màn thăm dò thêm vài phút nữa. Chẳng mấy chốc ông ta quay sang hỏi tôi: “Tên cháu là gì, cô bé?”
— “Dạ, Jane Eyre ạ, thưa ngài.”
Khi thốt lên những lời đó, tôi ngước nhìn lên: ông ta có vẻ là một quý ông cao lớn; nhưng khổ nỗi lúc ấy tôi còn quá bé nhỏ; các nét trên khuôn mặt ông ta rất thô, và tất cả chúng cùng với từng đường nét trên cơ thể đều khắc khổ và nghiêm nghị y hệt nhau.
— “Ừ, Jane Eyre, thế cháu có phải là một đứa bé ngoan không?”
Thật là bất khả thi để đáp lại câu hỏi này bằng một lời khẳng định: thế giới nhỏ bé của tôi lại ôm giữ một quan điểm hoàn toàn trái ngược; thế nên tôi im lặng. Bà Reed đáp thay tôi bằng một cái lắc đầu đầy biểu cảm, rồi nhanh chóng bồi thêm: “Có lẽ không nói gì về vấn đề đó thì tốt hơn, thưa ông Brocklehurst.”
— “Thật lấy làm tiếc khi nghe điều đó! tôi và cô bé này chắc chắn sẽ phải có vài lời với nhau;” và vừa nói, ông ta vừa ngả người khỏi tư thế thẳng đứng, thả chiếc thân hình cao ngồng của mình ngồi phịch xuống chiếc ghế bành đối diện với chỗ của bà Reed. — “Lại đây nào,” ông ta cất lời.
Tôi bước qua tấm thảm; ông ta kéo tôi đứng ngay ngắn và vuông vức ngay trước mặt mình. Trông mặt ông ta mới ghê làm sao, bây giờ thì nó gần như ngang tầm với mặt tôi! cái mũi gì mà to thế! cái miệng gì mà rộng thế! và hàm răng to thò lò ra ngoài mới đáng sợ làm sao!
— “Chẳng có cảnh tượng nào đáng buồn hơn cảnh một đứa trẻ hư,” ông ta mở đầu, “nhất là một cô bé hư đốn. Cháu có biết những kẻ gian ác sẽ đi về đâu sau khi chết không?”
— “Họ xuống địa ngục,” tôi đáp lại một cách sẵn sàng và đúng chuẩn mực đạo giáo.
— “Và địa ngục là gì? Cháu có thể nói cho ta biết được không?”
— “Là một cái hố đầy lửa.”
— “Và cháu có muốn rơi xuống cái hố ấy, rồi bị thiêu đốt ở trỏng mãi mãi không?”
— “Dạ không, thưa ngài.”
— “Thế cháu phải làm gì để tránh khỏi điều đó?”
Tôi ngẫm nghĩ một thoáng; câu trả lời của tôi khi cất lên quả thực là một câu trả lời gây chướng tai: “Dạ cháu phải giữ gìn sức khỏe thật tốt và đừng để chết.”
— “Làm thế nào mà cháu giữ gìn sức khỏe cho được? Những đứa trẻ nhỏ tuổi hơn cháu vẫn chết đi mỗi ngày đấy thôi. Ta vừa mới chôn cất một đứa trẻ tội nghiệp mới lên năm tuổi cách đây chỉ một hoặc hai ngày — một đứa bé ngoan ngoãn, mà linh hồn giờ đây đang ở trên thiên đàng. Thật đáng ngại là người ta sẽ không thể nói được điều tương tự về cháu nếu như cháu được gọi đi khỏi cõi đời này.”
Không ở trong tình trạng có thể xóa tan mối hoài nghi của ông ta, tôi đành cúi gằm mặt xuống nhìn đôi giày to tướng đang cắm phập trên tấm thảm, rồi thở dài, ước gì mình được ở một nơi thật xa.
— “Ta hy vọng tiếng thở dài đó xuất phát từ tận đáy lòng, và cháu đang thực sự ăn năn vì đã từng là nguồn cơn gây ra sự phiền muộn cho vị ân nhân đáng kính của mình.”
— “Ân nhân! ân nhân cơ đấy!” tôi thầm nghĩ trong bụng: “ai cũng gọi bà Reed là ân nhân của tôi; nếu thế thì một vị ân nhân quả là một thứ vô cùng khó chịu.”
— “Cháu có đọc kinh cầu nguyện vào buổi tối và buổi sáng không?” người thẩm vấn tôi tiếp tục.
— “Dạ có, thưa ngài.”
— “Cháu có đọc Kinh thánh không?”
— “Dạ thỉnh thoảng ạ.”
— “Có thấy thích thú không? Cháu có mến nó không?”
— “Dạ cháu thích sách Khải Huyền, sách Đa-ni-ên, sách Sáng Thế và sách Sa-mu-ên, thêm một chút sách Xuất Ai Cập ký, vài phần sách Các Vua và Biên Niên Sử, cùng với sách Gióp và Giô-na.”
— “Còn sách Thi Thiên thì sao? Ta hy vọng là cháu thích chúng chứ?”
— “Dạ không, thưa ngài.”
— “Không á? Ồ, thật là kinh khủng! Ta có một thằng bé, nhỏ tuổi hơn cháu, nó thuộc làu làu sáu bài Thi Thiên bằng lòng; và khi ngươi hỏi nó muốn chọn cái gì hơn, một chiếc bánh gừng để ăn hay một câu Thi Thiên để học thuộc lòng, nó liền đáp: ‘Ồ! một câu Thi Thiên ạ! các thiên thần thường hát Thi Thiên;’ nó bảo vậy, ‘cháu ước gì mình được làm một thiên thần nhỏ ở trần gian này;’ thế là nó được thưởng hẳn hai chiếc bánh quy vì lòng đạo đức thơ ngây ấy đấy.”
— “Sách Thi Thiên chẳng có gì thú vị cả,” tôi nhận xét.
— “Điều đó chứng tỏ cháu đang mang một trái tim đen tối; và cháu phải cầu nguyện Chúa thay đổi nó: ban cho cháu một trái tim mới và trong sạch; gột bỏ trái tim bằng đá và trao cho cháu một trái tim bằng thịt.”
Tôi đang định đưa ra một câu hỏi liên quan đến phương thức mà công cuộc hoán cải trái tim tôi sẽ được tiến hành như thế nào, thì bà Reed chen ngang, bảo tôi ngồi xuống; rồi bà tự mình tiếp tục câu chuyện.
— “Thưa ông Brocklehurst, tôi tin là mình đã ngụ ý trong bức thư gửi cho ông cách đây ba tuần rằng đứa bé gái này không hoàn toàn có tính cách và bản chất như tôi mong muốn: nếu ông thu nhận nó vào trường Lowood, tôi sẽ rất biết ơn nếu người giám thị và các giáo viên được yêu cầu theo dõi sát sao nó, và hơn hết là phải đề phòng khuyết điểm tồi tệ nhất của nó, đó là thói quen dối trá. Tôi nêu điều này ngay trước mặt cháu, Jane, để cháu đừng có hòng qua mặt ông Brocklehurst.”
Tôi hoàn toàn có lý do để kinh hoàng và căm ghét bà Reed; bởi vì bản tính của bà là chuyên giáng cho tôi những vết thương đau đớn tột cùng. Tôi chưa từng có lấy một ngày hạnh phúc khi ở bên bà; dù tôi có vâng lời cẩn trọng đến đâu, dù tôi có cố gắng hết sức để làm vui lòng bà đến thế nào đi nữa, thì những nỗ lực của tôi vẫn cứ bị hắt hủi và đền đáp bằng những câu phán xét kiểu như trên. Giờ đây, những lời buộc tội ấy lại được thốt ra trước mặt một người lạ mặt, khiến tim tôi đau thắt lại. Tôi láng mờ nhận ra rằng bà ta đang tước đoạt cả hy vọng khỏi giai đoạn tồn tại mới mà bà định đày đọa tôi bước vào; tôi cảm nhận được, dẫu không thể thốt lên thành lời, rằng bà ta đang rieeng rắc sự căm ghét và bất nhân dọc theo con đường tương lai của tôi; tôi thấy mình dưới cái nhìn của ông Brocklehurst bỗng biến thành một đứa trẻ xảo quyệt và độc hại, và tôi phải làm gì để khắc phục tai họa này đây?
— “Thực sự chẳng làm gì được cả,” tôi thầm nghĩ trong cơn nức nở nghẹn ngào, vội vã lau đi những giọt nước mắt — bằng chứng bất lực cho nỗi đau đớn tột cùng của tôi.
— “Sự dối trá quả thực là một tật xấu đáng thương ở một đứa trẻ,” ông Brocklehurst nói; “nó đồng nghĩa với sự giả dối, và tất cả những kẻ nói dối sẽ phải nhận phần của chúng trong hồ lửa và diêm sinh. Dù sao đi nữa, con bé này sẽ được theo dõi kỹ lưỡng, thưa bà Reed. Tôi sẽ nói chuyện với cô Temple và các giáo viên.”
— “Tôi muốn nó được nuôi dạy theo cách phù hợp với tương lai của nó,” vị ân nhân của tôi tiếp lời; “để trở thành một kẻ hữu dụng và luôn biết khiêm nhường: còn về các kỳ nghỉ, được sự cho phép của ông, nó sẽ luôn ở lại Lowood suốt thời gian đó.”
— “Mọi quyết định của bà hoàn toàn rất sáng suốt, thưa phu nhân,” ông Brocklehurst đáp lại. — “Sự khiêm nhường là một ân điển của Cơ Đốc giáo, và là một phẩm chất vô cùng thích hợp cho các học sinh của Lowood; do đó, tôi chỉ thị rằng phải đặc biệt chăm chút cho việc vun bồi đức tính ấy ở chúng. Tôi đã nghiên cứu cách tốt nhất để tiêu diệt thói kiêu ngạo thế tục trong lòng chúng, và mới ngày hôm qua thôi, tôi đã có một minh chứng vô cùng tốt đẹp cho sự thành công đó. Con gái thứ hai của tôi, Augusta, đã cùng với u nó đến thăm trường, và khi trở về, nó đã thốt lên: ‘Ối tía ơi, sao tất cả các nữ sinh ở Lowood trông mới thuần phác và giản dị làm sao, với mái tóc chải ngược ra sau mang tai, những chiếc tạp dề dài và mấy cái túi vải pô-linh nhỏ xíu đính bên ngoài váy — trông họ hệt như con nhà nghèo vậy ạ! và,’ nó nói tiếp, ‘họ nhìn trang phục của con và u cứ như chưa bao giờ được nhìn thấy một chiếc áo lụa nào trong đời vậy.’”
— “Đây chính là hoàn cảnh mà tôi vô cùng tán thành,” bà Reed đáp lại; “giả sử tôi có tìm kiếm khắp nước Anh đi chăng nữa, tôi cũng khó lòng tìm được một hệ thống nào hoàn toàn phù hợp với một đứa trẻ như Jane Eyre đến thế. Tính nhất quán, thưa ông Brocklehurst thân mến; tôi luôn ủng hộ sự nhất quán trong mọi việc.”
— “Sự nhất quán, thưa phu nhân, là bổn phận hàng đầu của một tín đồ Cơ Đốc; và điều đó đã được tuân thủ nghiêm ngặt trong mọi sắp xếp liên quan đến cơ sở giáo dục Lowood: bữa ăn đạm bạc, trang phục giản dị, tiện nghi mộc mạc, rèn luyện thói quen kiên cường và năng nổ; đó chính là tôn chỉ hoạt động trong ngôi nhà này và đối với các cư dân của nó.”
— “Hoàn toàn chính xác, thưa ông. Vậy tôi có thể hoàn toàn tin tưởng rằng đứa trẻ này sẽ được tiếp nhận như một học sinh tại Lowood, và sẽ được rèn luyện ở đó sao cho phù hợp với hoàn cảnh và tương lai của nó chứ?”
— “Thưa phu nhân, bà hoàn toàn có thể tin tưởng: con bé sẽ được đưa vào vườn ươm những chồi non được chọn lọc ấy, và tôi hy vọng nó sẽ biết tỏ lòng biết ơn đối với đặc ân vô giá khi được tuyển chọn.”
— “Vậy tôi sẽ gửi nó đi ngay khi có thể, thưa ông Brocklehurst; bởi vì tôi xin cam đoan với ông rằng, tôi đang rất sốn sảng muốn trút bỏ một trách nhiệm vốn đã trở nên quá đỗi nặng nề.”
— “Chắc chắn rồi, chắc chắn rồi, thưa phu nhân; và bây giờ tôi xin phép chúc bà một buổi sáng tốt lành. Tôi sẽ quay lại trang viên Brocklehurst trong vòng một hoặc hai tuần nữa; người bạn tốt của tôi, ngài Phó Tổng Giám Mục, sẽ không cho phép tôi rời đi sớm hơn đâu. Tôi sẽ gửi thông báo cho cô Temple để cô ấy chuẩn bị đón một nữ sinh mới, nên sẽ không có bất kỳ khó khăn nào trong việc tiếp nhận con bé cả. Chào tạm biệt bà.”
— “Tạm biệt ông Brocklehurst; xin gửi lời hỏi thăm của tôi đến vợ con ông, cùng Augusta, Theodore và cậu ấm Broughton Brocklehurst nhé.”
— “Tôi sẽ chuyển lời, thưa phu nhân. Này cô bé, đây là một cuốn sách có tựa đề ‘Cẩm nang của trẻ em’; hãy đọc nó bằng sự thành kính cầu nguyện, đặc biệt là phần có nhan đề ‘Bản tường thuật về cái chết đột ngột đến rợn người của Martha G——, một đứa trẻ hư đốn có thói quen dối trá và lừa lọc.’”
Nói đoạn, ông Brocklehurst nhét vào tay tôi một tập sách mỏng được khâu bìa cẩn thận, rồi chuông reo gọi xe ngựa tới, và ông ta rời đi.
Bà Reed và tôi bị bỏ lại một mình; vài phút trôi qua trong im lặng; bà đang cặm cụi may vá, còn tôi thì đăm đăm quan sát bà. Vào thời điểm ấy, bà Reed có lẽ trạc chừng ba mươi sáu, ba mươi bảy tuổi gì đó; bà là một người phụ nữ có vóc dáng cường tráng, vai vuông, chân tay săn chắc, người không cao, và dù đẫy đà nhưng không hề béo phì. Bà có khuôn mặt hơi to, phần hàm dưới phát triển rất vầng vức và vô cùng rắn rỏi; trán thấp, cằm to và nhô ra, miệng và mũi cân đối vừa phải; ẩn dưới cặp lông mày sáng màu là một đôi mắt lấp lánh sự tàn nhẫn không chút mảy may thương xót; làn da ngăm đen và không bóng, mái tóc gần như có màu vàng lanh; thể chất khỏe mạnh tựa chuông đồng — bệnh tật chưa từng bén mảng tới gần bà; bà là một quản gia sắc sảo và cực kỳ nguyên tắc; đám gia nhân và tá điền đều nằm hoàn toàn dưới sự kiểm soát chặt chẽ của bà; chỉ có lũ con ruột là thỉnh thoảng dám thách thức quyền lực của bà và cười trừ khinh miệt. Bà ăn mặc rất đẹp, có phong thái và dáng vẻ đủ sức làm nổi bật những bộ trang phục lộng lẫy.
Ngồi trên chiếc ghế đẩu thấp cách chiếc ghế bành của bà vài thước, tôi săm soi vóc dáng bà; tôi ngắm nghía từng đường nét trên khuôn mặt bà. Trong tay tôi đang cầm cuốn sách nhỏ viết về cái chết đột ngột của kẻ nói dối, thứ tài liệu mà sự chú ý của tôi vừa bị hướng vào như một lời cảnh cáo đích đáng. Những gì vừa mới diễn ra; những gì bà Reed vừa nói về tôi trước mặt ông Brocklehurst; toàn bộ nội dung cuộc trò chuyện của họ vẫn còn mới mẻ, hãy còn hằn sâu và nhức nhối trong tâm trí tôi. Tôi cảm nhận từng từ sắc bén y như khi nghe rõ mồn một từng câu, và một ngọn lửa oán hận giờ đây đang sục sôi dâng trào trong lồng ngực.
Bà Reed ngẩng lên khỏi công việc may vá; ánh mắt bà khựng lại trên người tôi, trong khi đôi ngón tay đồng thời dừng hẳn những chuyển động thoăn thoắt.
— “Ra khỏi phòng ngay; quay về phòng trẻ đi,” đó là mệnh lệnh của bà. Ánh mắt của tôi hoặc thứ gì đó khác hẳn đã khiến bà cảm thấy gai mắt, nên bà cất giọng với một vẻ cáu kỉnh tột cùng nhưng đang bị kìm nén. Tôi đứng dậy, lê bước ra cửa; rồi lại quay trở lại; tôi đi về phía cửa sổ, băng qua phòng, rồi tiến sát sạt lại gần bà.
Tôi buộc phải lên tiếng: tôi đã bị dẫm đạp một cách tàn nhẫn, và tôi phải quay đầu cắn trả. Nhưng bằng cách nào đây? Tôi lấy đâu ra sức mạnh để phóng những nhát trả thù vào kẻ đối địch của mình? Tôi gom góp tất cả năng lượng và phóng thích chúng bằng một câu nói cụt lủn và cay nghiệt—
— “Tôi không hề dối trá: nếu tôi có thói ấy, tôi đã thốt lên rằng tôi yêu quý bà; nhưng tôi xin tuyên bố thẳng thừng là tôi chẳng yêu quý gì bà sất; tôi căm ghét bà nhất trên đời này, chỉ trừ có John Reed; còn cuốn sách về kẻ nói dối này, bà cứ đem cho con bé Georgiana mà đọc, bởi vì chính nó mới là đứa hay nói dối, chứ không phải tôi.”
Đôi tay bà Reed vẫn nằm bất động trên đống đồ may vá; đôi mắt lạnh như băng tiếp tục nhìn chằm chằm vào tôi với vẻ tê tái.
— “Mày còn muốn nói gì nữa nào?” bà hỏi, với giọng điệu tựa như một kẻ bề trên đang đối thoại với một đối thủ trưởng thành hơn là thứ giọng điệu thường dùng để nói chuyện với một đứa trẻ.
Ánh mắt ấy, giọng nói ấy của bà đã khơi dậy mọi sự căm ghét trong tôi. Run rẩy từ đầu đến chân, râm ran bởi một sự kích động không thể kiềm chế, tôi tiếp tục tuôn ra—
— “Tôi rất mừng vì bà chẳng có họ hàng gì với tôi cả; từ nay về sau suốt đời này tôi sẽ không bao giờ gọi bà bằng thím nữa. Khi lớn lên, tôi sẽ chẳng bao giờ thèm đến thăm bà; và nếu có ai hỏi tôi có thích bà không, hay bà đã đối xử với tôi thế nào, tôi sẽ trả lời rằng cứ nghĩ đến bà thôi là tôi đã thấy lợm giọng rồi, và rằng bà đã đối xử với tôi bằng một sự tàn nhẫn vô cùng khốn nạn.”
— “Mày dám cả gan khẳng định điều đó hả, Jane Eyre?”

— “Sao tôi lại không dám hả, thưa bà Reed? Sao tôi lại không dám cơ chứ? Bởi vì đó là sự thật. Bà tưởng tôi không có cảm xúc chắc, và tôi có thể sống thiếu đi dù chỉ một chút tình thương hay sự tử tế hay sao? Nhưng tôi không thể sống như thế được; và bà thì chẳng hề có chút lòng trắc ẩn nào. Tôi sẽ ghi nhớ mãi mãi cách bà đẩy tôi lùi lại — đẩy tôi lùi lại một cách thô bạo và bạo tàn — vào căn phòng màu đỏ ấy, rồi khóa trái tôi ở trong đó cho đến tận ngày tàn hơi nghỉ thở; mặc cho tôi đang oằn mình trong cơn đau đớn tột cùng; mặc cho tôi gào khóc trong nghẹt thở và tuyệt vọng rằng: ‘Xin hãy rủ lòng thương! Xin hãy rủ lòng thương, thưa thím Reed!’ Và hình phạt đó bà bắt tôi phải gánh chịu chỉ vì đứa con trai hư hỏng của bà đã đánh đấm tôi — đánh ngã tôi mà chẳng vì một lý do quái quỷ gì cả. Tôi sẽ kể câu chuyện y hệt thế này cho bất cứ ai hỏi tôi. Mọi người đều tưởng bà là một người phụ nữ tốt, nhưng thực chất bà là kẻ độc ác, máu lạnh. Bà mới chính là kẻ dối trá!”
Chưa dứt lời đáp trả, tâm hồn tôi đã bắt đầu phồng rộp lên, trào lâng một cảm giác tự do, chiến thắng kỳ lạ nhất mà tôi từng trải qua. Có lẽ một sợi dây vô hình nào đó đã đứt phựt, và tôi đã vùng vẫy thoát ra được khoảng trời tự do chưa từng dám mơ tới. Cảm xúc ấy không phải là không có cơ sở: bà Reed trông vô cùng sợ hãi; món đồ may vá đã tuột khỏi đầu gối bà; bà đang giơ hai tay lên, người lắc lư qua lại, thậm chí còn nhăn mặt như thể chực khóc.
— “Jane, cháu đang hiểu lầm rồi: có chuyện gì với cháu thế? Sao cháu lại run rẩy dữ dội thế kia? Cháu có muốn uống chút nước không?”
— “Dạ không, thưa bà Reed.”
— “Còn điều gì khác mà cháu muốn không, Jane? Ta cam đoan với cháu, ta rất muốn làm bạn với cháu.”
— “Không đời nào là bà. Bà vừa mới nói với ông Brocklehurst rằng tôi có nhân cách tồi tệ, bản chất dối trá; và tôi sẽ cho tất cả mọi người ở Lowood biết bản chất thật sự của bà ra sao, và bà đã làm những gì.”
— “Jane, cháu không hiểu những chuyện này đâu: trẻ con thì phải bị trừng phạt khi chúng mắc lỗi.”
— “Dối trá không phải là lỗi của tôi!” tôi gào lên với một giọng cao vút và đầy hoang dại.
— “Nhưng cháu là kẻ nóng tính, Jane ạ, điều đó thì cháu phải thừa nhận chứ; và bây giờ hãy quay về phòng trẻ đi — ngoan nào — rồi nằm nghỉ một lát nhé.”
— “Tôi không phải là đứa ngoan của bà; tôi không thể nằm nghỉ được đâu: hãy mau chóng gửi tôi đến trường đi, thưa bà Reed, bởi vì tôi căm ghét cái cuộc sống ở đây lắm rồi.”
— “Ta sẽ gửi nó đi học sớm thôi,” bà Reed lẩm bẩm trong miệng; và vừa nhặt nhạnh đống đồ may vá, bà vừa hằm hằm bỏ ra khỏi phòng.
Tôi bị bỏ lại ở đó một mình — kẻ chiến thắng trên chiến trường. Đó là trận chiến cam go nhất mà tôi từng tham gia, và là chiến thắng đầu tiên tôi giành được. Tôi đứng thừ người một lúc trên tấm thảm, nơi ông Brocklehurst từng đứng, và tận hưởng sự cô độc của một kẻ chinh phục. Thoạt đầu, tôi mỉm cười với chính mình và cảm thấy vô cùng phấn khích; thế nhưng niềm vui dữ dội ấy nhanh chóng lắng xuống nhanh như nhịp đập đang dồn dập của trái tim tôi. Một đứa trẻ không thể gây sự với người lớn như tôi vừa làm; không thể thả phanh những cảm xúc cuồng nộ của mình mà không hề bị kiểm soát như tôi vừa trút ra, mà lại không phải trải qua những đớn gay của sự ăn năn và cái lạnh ngắt của sự phản ứng dây chuyền. Một dải thạch thảo đang cháy rực, sống động, lấp lánh và thiêu rụi, hẳn sẽ là một biểu tượng thích hợp cho tâm trí tôi khi tôi buộc tội và đe dọa bà Reed. Cũng chính dải thạch thảo ấy, đen đúa và lụi tàn sau khi ngọn lửa đã tắt ngấm, hẳn sẽ tượng trưng chính xác không kém cho trạng thái tiếp theo của tôi, khi mà nửa tiếng đồng hồ chìm trong im lặng và suy ngẫm đã cho tôi thấy sự điên rồ trong hành động của mình, cùng với sự tẻ ngắt của cái vị trí mà tôi vừa căm ghét vừa bị căm ghét ấy.
Tôi đã nếm trải được chút hương vị của sự trả thù lần đầu tiên; thoạt uống vào, nó tựa như thứ rượu thơm nồng, ấm áp và cay nồng; thế nhưng dư vị sau đó của nó lại mang vị kim loại và ăn mòn, mang lại cho tôi cảm giác như vừa bị trúng độc vậy. Lúc này, nếu được phép, tôi rất sẵn lòng quay lại xin lỗi bà Reed; thế nhưng tôi thừa hiểu, một phần qua kinh nghiệm và một phần bằng trực giác, rằng làm như thế chỉ chuốc lấy việc bị bà hắt hủi với sự khinh miệt gấp bội, từ đó lại làm bùng lên mọi xung đột cuồng nộ trong bản tính tôi.
Tôi rất muốn phát huy một năng lực nào đó tốt đẹp hơn là việc la hét hung hăng; rất muốn tìm kiếm sự nuôi dưỡng cho một cảm xúc nào đó bớt phần ma quái hơn là nỗi u uất tối tăm. Tôi với lấy một cuốn sách — gồm những câu chuyện Nghìn lẻ một đêm; tôi ngồi xuống và cố gắng đọc. Thế nhưng tôi chẳng thể nào hiểu nổi nội dung của nó; những suy nghĩ của chính tôi cứ liên tục bơi lội chắn ngang giữa tôi và trang sách mà vốn dĩ tôi vẫn thường thấy vô cùng hấp dẫn. Tôi mở cánh cửa kính ở phòng ăn dẫn ra ngoài: khu vườn cây bụi hoàn toàn tĩnh lặng; cái lạnh giá đen đúa đang ngự trị khắp khu đất, chẳng bị phá vỡ bởi ánh nắng hay một làn gió nào. Tôi trùm vạt váy lên đầu và cánh tay, bước ra ngoài đi dạo ở một góc khuất trong đồn điền vốn vô cùng vắng vẻ; thế nhưng tôi chẳng tìm thấy niềm vui nào ở những tán cây tĩnh lặng, những quả thông rơi lả tả, những di tích đông đặc của mùa thu, những chiếc lá nâu sẫm bị những ngọn gió quật qua quét thành từng đống, giờ đây đã cứng đờ lại với nhau. Tôi tựa người vào một chiếc cánh cổng, nhìn chăm chú vào một cánh đồng hoang vắng chẳng có chú cừu nào đang gặm cỏ, nơi những thảm cỏ ngắn ngủn đã bị gặm trụi và bạc phếch. Đó là một ngày vô cùng xám xịt; bầu trời đục ngầu tối tăm, hứa hẹn “những bông tuyết đang rơi dày đặc,” bao trùm khắp chốn; từ đó, những bông tuyết thỉnh thoảng lại rơi xuống, đọng lại trên con đường mòn cứng ngắc và trên bãi cỏ khô trắng xóa mà không hề tan chảy. Tôi đứng đó, một đứa trẻ đủ thảm hại, cứ thì thầm với chính mình hết lần này đến lần khác: “Mình phải làm sao đây?—mình phải làm sao đây?”
Bỗng nhiên tôi nghe thấy một giọng nói trong trẻo cất lên: “Tiểu thư Jane! cô đang ở đâu thế? Mau vào ăn trưa thôi!”
Đó là Bessie, tôi thừa thừa nhận ra; thế nhưng tôi vẫn đứng yên tại chỗ; những bước chân thoăn thoắt của cô đang rộn rã tiến dọc theo lối đi.
— “Cô bé hư đốn này!” cô nói. “Sao gọi mà không chịu ra hả?”
Sự hiện diện của Bessie, so với những suy nghĩ mà tôi vừa trầm ngâm suy tính, bỗng trở nên tươi vui làm sao; dẫu cho như thường lệ, cô có vẻ hơi cáu kỉnh. Thực tế là, sau cuộc chiến đấu và chiến thắng trước bà Reed, tôi chẳng mảy bận tâm đến cơn giận hờn thoáng qua của cô người hầu gái; và tôi đang muốn đắm mình trong sự vô tư hồn nhiên tuổi trẻ của cô. Tôi vòng hai tay ôm lấy cô và nói: “Nào, Bessie! đừng mắng nữa mà.”
Hành động đó cởi mở và táo bạo hơn bất cứ thói quen nào tôi từng thể hiện. Không hiểu sao nó lại làm cô thích thú.
— “Cô đúng là một đứa trẻ kỳ lạ, tiểu thư Jane,” cô nói khi cúi xuống nhìn tôi; “một sinh vật lang thang, cô độc; và có vẻ như cô sắp được đi học rồi phải không?”
Tôi gật đầu.
— “Và cô không thấy buồn khi phải rời xa Bessie tội nghiệp sao?”
— “Bessie có quan tâm gì đến em đâu? Lúc nào chị cũng mắng mỏi em hết.”
— “Bởi vì cô là một đứa trẻ kỳ cục, hay sợ sệt và nhút nhát. Cô phải bạo dạn lên chứ.”
— “Hả! để mà ăn thêm mấy trận đòn nữa chắc?”
— “Vớ vẩn! Nhưng quả thực là cô hay bị bắt nạt thật đấy, điều đó thì chắc chắn rồi. Mẹ tôi nói, khi bà ấy đến thăm tôi tuần trước, rằng bà ấy sẽ chẳng đời nào muốn một đứa con ruột của mình phải rơi vào hoàn cảnh như cô đâu. — Thôi, vào nhà đi, tôi có tin vui cho cô đây.”
— “Em không nghĩ là chị có đâu, Bessie.”
— “Trời đất! cô đang nói cái gì thế hả? Sao cô lại nhìn tôi bằng đôi mắt buồn bã thế kia? Thôi được rồi, nhưng mợ chủ cùng các cô tiểu thư và cậu John chiều nay sẽ đi dự tiệc trà bên ngoài, và cô sẽ được ăn trà bánh cùng với tôi. Tôi sẽ bảo đầu bếp nướng cho cô một chiếc bánh ngọt nhỏ, rồi cô sẽ giúp tôi lục lọi mấy cái ngăn kéo của cô; bởi vì chẳng mấy chốc nữa tôi sẽ phải thu xếp hành lý cho cô đấy. Mợ chủ có ý định để cô rời khỏi Gateshead trong một hoặc hai ngày tới, và cô sẽ được tự tay chọn những món đồ chơi nào mình thích mang theo đấy.”
— “Bessie, chị phải hứa là không được mắng em nữa cho đến lúc em đi đấy nhé.”
— “Ừ, tôi hứa; nhưng nhớ là phải cực kỳ ngoan ngoãn đấy, và đừng có sợ tôi. Đừng có giật nảy mình lên mỗi khi tôi lỡ cất giọng hơi gay gắt nhé; nghe bực mình lắm đấy.”
— “Em nghĩ là mình sẽ chẳng bao giờ sợ chị nữa đâu, Bessie, bởi vì em đã quen với chị rồi, với lại chẳng mấy chốc nữa em sẽ lại có một đám người khác để mà sợ hãi cơ mà.”
— “Nếu cô sợ họ thì họ sẽ ghét cô đấy.”
— “Giống như chị ghét em hả, Bessie?”
— “Tôi có ghét cô đâu, tiểu thư; tôi tin là tôi quý cô hơn tất cả những đứa khác ấy chứ.”
— “Chị có thể hiện điều đó ra đâu.”
— “Cái con bé sắc sảo này! cô lại học đâu ra cái cách ăn nói hoàn toàn mới lạ thế này cơ chứ. Điều gì khiến cô trở nên gan lỳ và táo tợn thế hả?”
— “Thì, chẳng mấy nữa là em rời xa chị rồi, với lại…” tôi định nói điều gì đó về những chuyện đã xảy ra giữa tôi và bà Reed, nhưng ngẫm lại tôi thấy tốt hơn là nên giữ im lặng về vấn đề đó.
— “Thế hóa ra cô mừng vì được rời xa tôi à?”
— “Không hề đâu, Bessie; thực ra, ngay lúc này em lại thấy hơi buồn đấy.”
— “Ngay lúc này! lại còn hơi buồn nữa chứ! Cô chủ nhỏ của tôi thốt lên nghe tỉnh bơ thật đấy! Tôi cá là bây giờ nếu tôi xin cô một cái hôn thì cô cũng chẳng đời nào cho đâu: cô sẽ bảo là cô thà không hôn còn hơn ấy chứ.”
— “Em sẵn sàng hôn chị luôn; cúi đầu xuống nào.” Bessie cúi xuống; chúng tôi ôm lấy nhau, và tôi lẽo đẽo theo cô vào nhà trong một tâm trạng hoàn toàn được an ủi. Buổi chiều hôm ấy trôi qua trong hòa bình và êm ấm; và vào buổi tối, Bessie đã kể cho tôi nghe một số câu chuyện mê hoặc nhất của cô, đồng thời hát cho tôi nghe những bài hát ngọt ngào nhất. Ngay cả đối với tôi, cuộc đời đôi khi vẫn có những tia nắng ấm áp chiếu rọi.