Khi thầy St. John ra về, tuyết đã bắt đầu rơi; rồi một trận bão tuyết cuộn xoáy mịt mùng suốt đêm ấy. Sang ngày hôm sau, ngọn gió buốt giá lại mang theo những đợt tuyết mới trắng trời trắng đất; đến lúc chập tối, cả thung lũng đã bị tuyết phủ lấp, gần như chẳng còn lối đi. Tôi đã khép then cửa sổ, chèn một tấm thảm dưới chân cửa ra vào để ngăn gió lùa tuyết vào nhà, rồi khêu lại ngọn lửa trong lò. Ngồi bên bếp sưởi gần một tiếng đồng hồ để lắng nghe cơn thịnh nộ trầm đục của giông bão, tôi mới thắp một ngọn nến, lấy cuốn “Marmion” xuống và bắt đầu đọc—
“Bóng hoàng hôn buông sườn đồi Norham,
Dòng Tweed xinh tươi thăm thẳm ngút ngàn,
Dãy Cheviot cô quạnh ngút tầm nhãn,
Tòa tháp đồ sộ, pháo đài kiên cố,
Lũy tường bao bọc uốn quanh rực rỡ,
Sắc vàng lung linh ngập tràn hư vô”—
Chẳng bao lâu, tôi đã quên bẵng cơn bão táp trong những vần thơ êm ái.
Tôi chợt nghe thấy một tiếng động: tôi cứ ngỡ gió thổi lay cánh cửa. Nhưng không; đó là St. John Rivers. Chàng vừa nhấc then cài, bước vào từ cơn bão cuồng phong băng giá—từ màn đêm gầm rú bên ngoài—và đứng sững trước mặt tôi: chiếc áo choàng phủ kín vóc dáng cao ráo của chàng trắng xóa như một dòng sông băng. Tôi gần như sững sờ kinh ngạc, bởi trong một đêm thung lũng bị tuyết chặn lối thế này, tôi đâu ngờ lại có khách ghé thăm.
“Có tin gì xấu chăng?” tôi gặng hỏi. “Có chuyện gì xảy ra rồi sao?”
“Không. Sao cô dễ hốt hoảng thế!” chàng đáp, vừa cởi áo choàng đem treo lên cửa, rồi thản nhiên lấy chân đẩy lại tấm thảm mà chàng đã làm xô lệch khi bước vào. Chàng giậm mạnh chân cho tuyết rơi khỏi ủng.
“Tôi sẽ làm bẩn sàn nhà sạch bóng của cô mất,” chàng nói, “nhưng xin cô lượng thứ cho một lần này.” Đoạn chàng tiến lại gần lò sưởi. “Tôi bảo thật, vất vả lắm mới tới được đây đấy,” chàng nhận xét trong lúc hơ hai bàn tay trên ngọn lửa. “Có một đụn tuyết ngập đến tận thắt lưng tôi; may sao tuyết hãy còn xốp.”
“Nhưng cớ sao thầy lại đến?” tôi không kìm được bèn hỏi.
“Hỏi khách một câu như thế thì e hơi thiếu hiếu khách đấy; nhưng cô đã hỏi, tôi xin đáp đơn giản là muốn trò chuyện với cô đôi câu; tôi đã phát ngấy với những cuốn sách câm lặng và những căn phòng trống trải rồi. Vả lại, từ hôm qua đến giờ, tôi cứ mang tâm trạng bồn chồn của một kẻ mới nghe được nửa câu chuyện, đang nóng lòng muốn biết đoạn kết ra sao.”
Chàng ngồi xuống. Nhớ lại hành tung kỳ lạ của chàng ngày hôm qua, tôi thực sự bắt đầu e ngại rằng đầu óc chàng có điều bất ổn. Dẫu vậy, nếu chàng có mất trí thật, thì đó cũng là một sự điên cuồng hết sức điềm tĩnh và chừng mực: chưa bao giờ tôi thấy gương mặt với những đường nét khôi ngô của chàng lại giống như cẩm thạch tạc nên đến thế như lúc này, khi chàng gạt những lọn tóc ướt đẫm tuyết khỏi trán và để ánh lửa soi rọi tự do lên vầng trán cùng đôi má đều xanh xao, nơi tôi đau lòng nhận thấy những vết hằn sâu hoắm của nỗi nhọc nhằn hay phiền muộn nay đã khắc ghi quá rõ ràng. Tôi chờ đợi, hy vọng chàng sẽ nói điều gì đó mà tôi ít ra cũng hiểu được; nhưng tay chàng giờ đã đặt lên cằm, ngón tay gác lên môi: chàng đang mải suy nghĩ. Tôi chợt thấy bàn tay chàng cũng gầy mòn hốc hác y như khuôn mặt. Một niềm thương cảm có lẽ là đường đột dâng lên trong lòng tôi; tôi xúc động thốt lên—
“Ước gì chị Diana hay Mary về đây sống cùng thầy: thầy cứ lủi thủi một mình thế này thật chẳng hay chút nào; lại còn quá đỗi liều lĩnh, coi thường sức khỏe của bản thân nữa.”
“Đâu có,” chàng nói: “Khi cần tôi vẫn biết tự chăm sóc mình. Giờ tôi vẫn khỏe. Cô thấy ở tôi có điểm gì không ổn sao?”
Chàng nói câu này bằng một vẻ thờ ơ, lơ đễnh, cho thấy sự lo lắng của tôi, ít nhất là theo ý chàng, hoàn toàn là thừa thãi. Tôi đành nín lặng.
Ngón tay chàng vẫn chầm chậm miết trên làn môi trên, và ánh mắt chàng vẫn mơ màng đăm đắm nhìn vào những thanh củi rực đỏ trong lò; thấy cần phải nói điều gì đó, tôi liền hỏi liệu chàng có thấy luồng gió lạnh nào lùa qua khe cửa phía sau lưng không.
“Không, không!” chàng đáp cộc lốc và có phần cáu kỉnh.
“Được thôi,” tôi thầm nghĩ, “nếu thầy không chịu nói năng gì, thì cứ ngồi yên đấy; tôi sẽ để mặc thầy và quay lại với cuốn sách của mình.”
Thế là tôi cắt bấc nến và tiếp tục đọc “Marmion”. Chẳng mấy chốc chàng đã cựa quậy; mắt tôi lập tức bị hút theo từng cử chỉ của chàng; chàng chỉ rút ra một cuốn sổ tay bọc da dê, rồi từ đó lấy ra một lá thư, lặng lẽ đọc, gấp lại, cất vào chỗ cũ, rồi lại chìm vào suy tư. Thật uổng công khi cố đọc sách trước một pho tượng bí hiểm đến thế; mà trong lòng sốt ruột, tôi cũng chẳng cam chịu ngồi im; chàng có hắt hủi thì tùy, nhưng tôi nhất định phải nói.
“Dạo này thầy có tin tức gì của chị Diana và Mary không?”
“Không, kể từ lá thư tôi đưa cô xem cách đây một tuần.”
“Dự định của thầy vẫn không có gì thay đổi chứ? Thầy sẽ không bị triệu tập rời nước Anh sớm hơn dự kiến đấy chứ?”
“Tôi sợ là không: cơ may ấy quá đỗi tốt lành đối với tôi.” Thấy chưa khai thác được gì, tôi bèn đổi đề tài. Tôi nảy ra ý nói về trường lớp và các học trò của mình.
“Mẹ của Mary Garrett đã khỏe hơn rồi, và sáng nay Mary đã đi học trở lại, tuần tới tôi cũng sẽ nhận thêm bốn trò gái mới ở xóm Foundry Close—đáng lẽ chúng đã đến hôm nay nếu không vì tuyết rơi.”
“Thế à!”
“Ông Oliver trả tiền học cho hai đứa.”
“Thế ư?”
“Ông ấy còn định thết đãi toàn trường một bữa vào dịp Giáng sinh nữa.”
“Tôi biết rồi.”
“Đó là ý kiến của thầy sao?”
“Không.”
“Vậy là của ai?”
“Tôi nghĩ là của con gái ông ấy.”
“Đúng là tính cách của cô ấy: cô ấy thật tốt bụng.”
“Phải.”
Lại một khoảng lặng ngột ngạt nối tiếp: đồng hồ điểm tám tiếng. Tiếng chuông kéo chàng tỉnh lại; chàng thôi vắt chân, ngồi thẳng dậy, quay sang phía tôi.
“Cô hãy buông cuốn sách xuống một lát, và lại gần lò sưởi hơn chút nữa đi,” chàng bảo.
Vừa ngạc nhiên khôn xiết, tôi vừa làm theo lời chàng.
“Nửa giờ trước,” chàng tiếp tục, “tôi có nói về sự sốt ruột muốn nghe đoạn kết của một câu chuyện: nghĩ lại, tôi thấy chi bằng chính tôi đứng ra làm người kể, còn cô hãy làm người nghe thì hơn. Trước khi bắt đầu, tôi cũng cần báo trước rằng câu chuyện này nghe có phần quá đỗi quen thuộc với tai cô; nhưng những chi tiết cũ kỹ thường lại mang một nét tươi mới khi được thốt ra từ một đôi môi khác. Còn lại thì, dẫu cũ mòn hay mới lạ, chuyện cũng ngắn thôi.
“Hai mươi năm trước, một vị linh mục nghèo—khoan hãy bàn đến tên tuổi vào lúc này—đã phải lòng con gái của một người đàn ông giàu có; nàng cũng đem lòng yêu chàng, rồi kết hôn với chàng, bất chấp mọi lời can ngăn của gia đình bạn bè, để rồi ngay sau lễ cưới, họ lập tức từ mặt nàng. Chưa đầy hai năm sau, đôi vợ chồng nông nổi ấy đều qua đời, rồi lặng lẽ nằm cạnh nhau dưới một phiến đá mộ. (Tôi đã từng thấy mộ của họ; nó nằm trên khoảng sân lát đá của một nghĩa trang rộng lớn bao quanh ngôi thánh đường cổ kính nhuốm màu bồ hóng của một thị trấn công nghiệp đang phát triển quá nhanh ở hạt ——shire.) Họ để lại một đứa con gái, mà ngay từ lúc mới chào đời, nó đã được đón nhận vào lòng từ tâm của Thiên hạ—một lòng từ tâm lạnh lẽo như đụn tuyết suýt nữa đã chôn chân tôi đêm nay. Người ta đưa sinh linh bơ vơ không nơi nương tựa ấy đến nhà của những người bà con giàu có bên họ ngoại; nó được một người mợ nuôi nấng, tên là (giờ tôi xin nói đến tên tuổi) bà Reed ở Gateshead. Cô giật mình ư—cô nghe thấy tiếng động gì sao? Tôi dám chắc chỉ là một con chuột đang chạy lạo xạo trên xà nhà của lớp học bên cạnh thôi: trước khi tôi sửa sang lại thì nơi đó vốn là một kho thóc, mà kho thóc thì thường có chuột bọ lảng vảng.—Xin được tiếp tục. Bà Reed đã cưu mang đứa trẻ mồ côi ấy suốt mười năm ròng: nó sống ở đó có sung sướng hay không thì tôi chịu, bởi chưa từng nghe ai kể lại; nhưng hết thời gian ấy, bà ta chuyển nó đến một nơi mà cô rất rõ—chẳng đâu xa lạ ngoài trường Lowood, nơi chính cô từng gắn bó bao năm. Có vẻ như quãng đời của nó ở đó rất vẻ vang: từ một học sinh, nó đã trở thành giáo viên, cũng hệt như cô—thật tình tôi thấy số phận của nó và cô có biết bao nét tương đồng—rồi nó rời trường để làm gia sư: ở điểm này, số phận hai người lại một lần nữa giống nhau; nó nhận dạy dỗ đứa con nuôi của một quý ông tên là Rochester.”
“Thầy Rivers!” tôi ngắt lời.
“Tôi đoán được nỗi lòng của cô,” chàng nói, “nhưng hãy nén lại đôi chút: tôi sắp kể xong rồi; hãy nghe tôi nói cho hết đã. Về nhân cách của ông Rochester thì tôi chẳng hay biết gì, ngoại trừ một sự thật là ông ta đã ngỏ lời cầu hôn đàng hoàng với cô gái trẻ này, nhưng ngay trước bàn thờ chúa, cô mới vỡ lẽ ra rằng ông ta vẫn còn một người vợ đang sống, dù là một kẻ điên loạn. Hành vi và những lời đề nghị tiếp sau đó của ông ta ra sao thì hoàn toàn chỉ là phỏng đoán; nhưng khi một biến cố xảy ra khiến người ta buộc phải tìm kiếm tung tích cô gia sư, thì người ta mới hay cô đã biến mất—chẳng ai rõ đi vào lúc nào, đi đâu, hay bằng cách nào. Cô đã rời bỏ trang viên Thornfield trong đêm; mọi nỗ lực dò tìm hành tung của cô đều công cốc: người ta đã lùng sục khắp hang cùng ngõ hẻm; chẳng thu lượm được mảy may một dấu vết tin tức nào về cô. Thế nhưng việc tìm thấy cô nay đã trở thành một việc khẩn cấp hệ trọng: thông báo tìm người đã được đăng trên khắp các mặt báo; chính tôi cũng vừa nhận được một lá thư từ một vị luật sư tên là Briggs, thông báo những chi tiết mà tôi vừa thuật lại. Cô thấy câu chuyện có kỳ lạ không?”
“Xin thầy chỉ nói cho tôi biết điều này thôi,” tôi van vỉ, “và vì thầy biết nhiều thế, chắc chắn thầy có thể nói cho tôi hay—ông Rochester giờ ra sao rồi? Ông ấy thế nào và đang ở đâu? Ông ấy đang làm gì? Ông ấy có khỏe không?”
“Tôi chẳng biết gì về ông Rochester cả: lá thư chưa từng nhắc tới ông ta ngoại trừ việc thuật lại mưu đồ lừa đảo và phi pháp mà tôi vừa đề cập. Lẽ ra cô nên hỏi tên của cô gia sư—và bản chất của biến cố đòi hỏi cô ấy phải xuất hiện mới phải.”
“Thế chẳng có ai đến trang viên Thornfield sao? Chẳng ai gặp ông Rochester ư?”
“Tôi đồ là không.”
“Nhưng họ có viết thư cho ông ấy chứ?”
“Dĩ nhiên.”
“Và ông ấy đã nói gì? Ai đang giữ những lá thư của ông ấy?”
“Ông Briggs cho biết thư trả lời yêu cầu của ông ấy không phải do ông Rochester viết, mà là từ một mệnh phụ; người đó ký tên là ‘Alice Fairfax.’”
Tôi cảm thấy một luồng hơi lạnh chạy dọc sống lưng và lòng đầy kinh hãi: vậy là những nỗi lo sợ tồi tệ nhất của tôi có lẽ đã thành sự thật: rất có thể ông đã rời nước Anh và lao mình trong nỗi tuyệt vọng liều lĩnh đến một chốn nương náu cũ kỹ nào đó chốn Lục địa. Và ở nơi ấy, ông đã tìm kiếm liều thuốc an thần nào cho những nỗi đau đớn cùng cực—tìm kiếm đối tượng nào cho những đam mê mãnh liệt của mình? Tôi không dám trả lời câu hỏi ấy. Ôi, người chủ khốn khổ của tôi—người từng suýt là chồng tôi—người mà tôi vẫn thường gọi là “Edward thân yêu của em!”
“Hẳn ông ta phải là một kẻ tồi tệ,” thầy Rivers nhận xét.
“Thầy không biết ông ấy—xin đừng phán xét ông ấy,” tôi nói giọng gay gắt.
“Được thôi,” chàng điềm tĩnh đáp: “mà thực ra đầu óc tôi lúc này cũng bận tâm đến chuyện khác hơn là về ông ta: tôi còn phải kể cho xong câu chuyện của mình đã. Vì cô không chịu hỏi tên cô gia sư, nên tôi đành phải tự mình nói ra vậy. Khoan đã! Tôi có mang theo ở đây—quan sát những điểm trọng yếu được viết rành rành bằng giấy trắng mực đen bao giờ cũng thuyết phục hơn.”
Thế rồi chàng lại thong thả rút cuốn sổ tay ra, mở ra, lục tìm; từ một ngăn trong đó, chàng rút ra một mẩu giấy cũ kỹ, bị xé vội: nhìn chất giấy cùng những vệt màu xanh biển, màu đỏ cánh kiến và màu đỏ son, tôi nhận ra ngay đó chính là mép giấy bị xé khỏi tờ bìa bọc bức chân dung. Chàng đứng dậy, đưa nó sát mắt tôi: và tôi đọc được, viết bằng mực nho, bằng chính nét chữ của tôi, hai chữ “JANE EYRE”—chắc chắn là tác phẩm của một phút lơ đễnh nào đó.
“Briggs viết thư cho tôi hỏi về một người tên là Jane Eyre,” chàng nói, “những mẩu quảng cáo cũng tìm kiếm một người tên Jane Eyre: còn tôi thì chỉ biết một Jane Elliott.—Tôi thú nhận là mình đã có mối nghi ngờ, nhưng mãi đến chiều hôm qua, mối nghi ấy mới hoàn toàn biến thành điều chắc chắn. Cô có nhận cái tên thật này và từ bỏ cái tên giả kia không?”
“Phải—phải; nhưng ông Briggs đang ở đâu? Có lẽ ông ấy biết nhiều về ông Rochester hơn thầy đấy.”
“Briggs đang ở London. Tôi e rằng ông ta chẳng biết tí gì về ông Rochester đâu; ông ta đâu có bận tâm tới ông Rochester. Trong khi đó, cô lại bỏ quên những điểm cốt yếu để mải miết đuổi theo những chuyện vụn vặt: cô không hỏi xem vì sao ông Briggs lại cất công tìm kiếm cô—ông ta muốn gì ở cô.”
“Thế ông ấy muốn gì?”
“Chẳng qua chỉ là để báo cho cô biết rằng người bác của cô, ông Eyre ở xứ Madeira, đã qua đời; rằng ông ấy đã để lại toàn bộ gia sản cho cô, và giờ đây cô đã là một người giàu có—chỉ có thế thôi—chẳng có gì hơn.”
“Tôi!—giàu có ư?”
“Phải, cô đấy, giàu có—trở thành một nữ thừa kế thực thụ.”
Một khoảng im lặng bao trùm.
“Dĩ nhiên cô phải chứng minh nhân thân của mình,” St. John lại tiếp lời ngay sau đó: “một thủ tục chẳng có gì khó khăn cả; sau đó cô có thể lập tức tiếp quản gia sản. Tài sản của cô hiện được ký thác trong công trái Anh quốc; Briggs đang giữ bản di chúc cùng các giấy tờ cần thiết.”
Thế là một quân bài mới tinh lại được lật lên! Độc giả thân mến, thật là một điều tuyệt diệu khi chỉ trong chớp mắt từ cảnh bần hàn được bước lên tột đỉnh giàu sang—một điều vô cùng tuyệt diệu; nhưng đó không phải là thứ người ta có thể hiểu thấu, hay do đó có thể tận hưởng ngay được trong một sớm một chiều. Vả lại, ở đời còn có những cơ duyên khác đem lại nhiều thổn thức và hoan lạc hơn thế này nhiều: đây là một thực tế vững chắc, một sự việc của thế giới trần tục, chẳng có chút gì là thi vị hay lý tưởng: mọi mối liên hệ của nó đều chắc nịch và tỉnh táo, và những biểu hiện của nó cũng vậy. Người ta không nhảy cẫng lên, reo hò hay hô vang vạn tuế khi nghe tin mình vớ được một món gia tài; người ta bắt đầu nghĩ đến những trách nhiệm, và cân nhắc chuyện công việc; trên nền tảng của niềm thỏa nguyện vững chãi ấy lại mọc lên những mối âu lo nghiêm trọng, và chúng ta phải tự kìm nén mình, nghiền ngẫm về phúc lành vừa nhận được với một nét mặt trầm ngâm.
Hơn nữa, hai chữ Di sản, Thừa kế bao giờ cũng đi liền với hai chữ Cái chết, Tang lễ. Người bác của tôi, theo như tôi nghe, đã qua đời—người thân duy nhất của tôi; kể từ khi biết đến sự tồn tại của bác, tôi đã luôn ấp ủ hy vọng một ngày nào đó được diện kiến bác: giờ thì, tôi vĩnh viễn không bao giờ có thể nữa rồi. Và rồi món tiền này chỉ đến với một mình tôi: không phải đến với tôi cùng một gia đình hoan hỉ, mà là đến với thân phận cô độc của chính tôi. Đó chắc chắn là một ân huệ lớn lao; và sự độc lập sẽ thật vinh quang biết bao—phải, tôi cảm nhận được điều đó—ý nghĩ ấy làm lòng tôi rạo rực.
“Cuối cùng thì vầng trán cô cũng chịu giãn ra rồi đấy,” thầy Rivers nói. “Tôi cứ ngỡ nữ thần Medusa vừa trừng mắt nhìn cô, khiến cô đang hóa đá đến nơi rồi. Có lẽ giờ cô muốn hỏi xem mình sở hữu bao nhiêu tiền chăng?”
“Tôi sở hữu bao nhiêu?”
“Ồ, một món tiền mọn thôi! Dĩ nhiên chẳng đáng để nhắc tới—nghe đâu chừng hai mươi nghìn bảng—nhưng ngần ấy thì có là bao?”
“Hai mươi nghìn bảng ư?”
Lại thêm một đòn choáng váng mới—tôi vốn chỉ dám tính đến bốn hoặc năm nghìn bảng là cùng. Tin tức này thực sự làm tôi nghẹn thở trong giây lát: thầy St. John, người mà tôi chưa bao giờ thấy cười, giờ đây lại bật cười.
“Chà,” chàng nói, “nếu cô vừa phạm phải một tội giết người, và tôi vừa báo cho cô hay tội ác của cô đã bị phát giác, thì trông cô cũng khó mà hãi hùng hơn thế này được.”
“Đó là một món tiền quá lớn—thầy không nghĩ là có sự nhầm lẫn sao?”
“Chẳng có nhầm lẫn nào hết.”
“Có lẽ thầy đã đọc nhầm những con số—biết đâu chỉ là hai nghìn!”
“Người ta viết bằng chữ, chứ không phải bằng số đâu,—hai mươi nghìn.”
Tôi lại cảm thấy mình chẳng khác nào một kẻ có sức ăn uống bình thường mà phải ngồi một mình trước một bàn tiệc thịnh soạn dọn sẵn cho cả trăm người. Lúc này thầy Rivers đứng dậy và mặc áo choàng vào.
“Nếu đêm nay không bão bùng đến thế,” chàng nói, “tôi đã bảo Hannah xuống đây bầu bạn với cô rồi: trông cô khốn khổ tuyệt vọng thế kia, ai nỡ để cô ở lại một mình. Nhưng Hannah, tội nghiệp bà ấy! làm sao sải bước qua những đụn tuyết giỏi như tôi được: chân bà ấy đâu có dài bằng; nên đành phải để cô lại với những nỗi muộn phiền của mình vậy. Chúc ngủ ngon.”
Chàng đang nhấc then cài cửa: một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu tôi.
“Xin dừng lại một phút đã!” tôi kêu lên.
“Gì thế?”
“Tôi lấy làm thắc mắc không hiểu vì sao ông Briggs lại viết thư cho thầy về tôi; hay làm sao ông ấy quen biết thầy, hoặc làm sao có thể nghĩ rằng một người sống ở chốn hẻo lánh xa xôi như thầy lại có khả năng giúp tìm ra tôi.”
“Ồ! Tôi là một mục sư mà,” chàng nói; “mà các mục sư thì hay được nhờ vả vào những việc kỳ quặc lắm.” Then cài cửa lại lách cách một lần nữa.
“Không; câu trả lời đó không làm tôi thỏa mãn đâu!” tôi kêu lên: và thực sự trong câu đáp vội vã mà thiếu lời giải thích ấy có điều gì đó khiến trí tò mò của tôi chẳng những không nguôi ngoai mà lại càng bị kích thích dữ dội hơn bao giờ hết.
“Đây là một sự việc hết sức kỳ lạ,” tôi nói thêm; “tôi phải biết rõ hơn mới được.”
“Hôm khác đi.”
“Không; ngay đêm nay!—ngay đêm nay cơ!” và khi chàng quay lưng khỏi cánh cửa, tôi liền đứng chắn giữa chàng và then cài. Trông chàng có vẻ hơi bối rối.
“Chắc chắn thầy sẽ không được đi chừng nào chưa nói hết cho tôi nghe mọi chuyện,” tôi bảo.
“Tôi không muốn nói lúc này đâu.”
“Thầy sẽ nói!—thầy phải nói!”
“Tôi muốn Diana hay Mary nói cho cô biết thì hơn.”
Dĩ nhiên những lời thoái thác ấy càng đẩy cơn háo hức của tôi lên đến đỉnh điểm: nó phải được thỏa mãn, và phải ngay tức khắc; tôi nói thẳng với chàng như vậy.
“Nhưng tôi đã báo trước với cô rằng tôi là một kẻ cứng rắn,” chàng nói, “rất khó bị thuyết phục.”
“Còn tôi là một người đàn bà bướng bỉnh,—chẳng thể nào khất lần được đâu.”
“Và hơn nữa,” chàng tiếp tục, “tôi là kẻ lạnh lùng: chẳng có sự nhiệt thành nào lay chuyển được tôi đâu.”
“Trong khi tôi lại nóng bỏng, mà lửa thì làm tan chảy băng giá. Đống lửa đằng kia đã làm tan hết tuyết trên áo choàng của thầy rồi đấy; và cũng vì thế mà nước tuyết đã chảy lênh láng ra sàn nhà tôi, biến nó chẳng khác nào một con đường bị giày xéo. Nếu thầy còn mong được tha thứ, hỡi thầy Rivers, cho cái trọng tội và hành vi sai trái là làm hỏng một gian bếp rải cát sạch sẽ, thì xin hãy nói cho tôi biết điều tôi muốn biết đi.”
“Thôi được,” chàng nói, “tôi đành chịu thua; nếu không phải vì sự tha thiết của cô, thì cũng là vì tính kiên trì của cô: đá mòn cũng vì nước chảy đá mòn. Vả lại, sớm muộn gì cô cũng phải biết thôi,—thà biết bây giờ còn hơn để sau này. Tên cô là Jane Eyre, phải không?”
“Tất nhiên rồi: chuyện đó đã ngã ngũ từ trước rồi mà.”
“Có lẽ cô không biết rằng tôi cũng mang cùng tên họ với cô chăng?—rằng khi chịu phép rửa tội, tôi đã được đặt tên là St. John Eyre Rivers?”

“Không, thực sự là không! Giờ tôi mới nhớ ra từng thấy chữ cái E. nằm trong các chữ viết tắt tên thầy trên những cuốn sách thầy thỉnh thoảng cho tôi mượn; nhưng tôi chưa từng hỏi xem chữ đó tượng trưng cho cái tên nào. Nhưng thế thì sao chứ? Chẳng lẽ—”
Tôi ngập ngừng: tôi không dám để lòng mình ấp ủ, chứ đừng nói đến chuyện thốt ra thành lời, cái ý nghĩ vừa ùa đến trong tâm trí tôi—một ý nghĩ đang tự định hình rõ nét,—mà chỉ trong một tích tắc, đã hiện ra thành một khả năng vô cùng chắc chắn và vững chãi. Mọi tình tiết đan kết vào nhau, ăn khớp với nhau, đâu vào đấy thật gọn gàng: sợi dây chuyền trước nay vốn chỉ là một mớ mắt xích rời rạc không hình thù nay đã được kéo thẳng ra,—từng chiếc vòng đều hoàn hảo, mối liên kết đã trọn vẹn. Theo bản năng, tôi đã hiểu rõ ngọn ngành câu chuyện trước khi St. John kịp thốt thêm một lời nào nữa; nhưng tôi chẳng thể đòi hỏi độc giả cũng có được sự trực giác nhạy bén ấy, vậy nên tôi xin thuật lại lời giải thích của chàng.
“Mẹ tôi vốn mang họ Eyre; bà có hai người anh em trai; một người là linh mục, đã kết hôn với tiểu thư Jane Reed ở Gateshead; người kia là ông John Eyre, một thương gia, vừa mới qua đời ở Funchal, xứ Madeira. Ông Briggs, với tư cách là luật sư của ông Eyre, đã viết thư cho chúng tôi hồi tháng Tám vừa qua để báo tin về cái chết của người bác, và cho biết rằng bác đã để lại toàn bộ tài sản cho đứa con gái mồ côi của người anh trai làm linh mục, mà gạt chúng tôi ra rìa, do một mối hiềm khích không bao giờ được tha thứ giữa bác và cha tôi. Cách đây vài tuần, ông ấy lại viết thư báo rằng người nữ thừa kế đã mất tích, và hỏi xem chúng tôi có biết chút tin tức gì về cô ấy chăng. Một cái tên tình cờ được viết trên một mẩu giấy đã giúp tôi tìm ra cô ấy. Phần còn lại thì cô biết rồi đấy.” Chàng lại toan bước đi, nhưng tôi đã tựa lưng vào cửa.
“Xin hãy để tôi nói,” tôi bảo; “hãy cho tôi một giây lát để thở và suy nghĩ đã.” Tôi ngừng lại—chàng đứng trước mặt tôi, tay cầm mũ, vẻ mặt trông khá bình thản. Tôi lại tiếp tục—
“Mẹ của thầy là em gái của cha tôi sao?”
“Phải.”
“Vậy tức là cô của tôi?”
Chàng cúi đầu.
“Bác John của thầy cũng chính là bác John của tôi? Thầy, chị Diana và Mary là con của em gái bác, cũng như tôi là con của anh trai bác ư?”
“Không thể chối cãi.”
“Vậy ba người chính là anh chị em họ của tôi; một nửa dòng máu của mỗi bên chúng ta đều chảy từ một nguồn cội?”
“Chúng ta là anh chị em họ; đúng vậy.”
Tôi ngắm nhìn chàng. Dường như tôi vừa tìm được một người anh trai: một người mà tôi có thể tự hào,—một người mà tôi có thể yêu thương; và hai người chị gái, những người mà phẩm chất cao quý đến mức, ngay từ khi mới chỉ quen biết như những người xa lạ, họ đã khơi dậy trong tôi lòng cảm mến và sự ngưỡng mộ chân thành. Hai cô gái mà tôi từng quỳ gối trên nền đất ướt sũng, ngó qua khung cửa sổ mắt cáo thấp lè tè của gian bếp nhà Moor House, để ngắm nhìn với một nỗi niềm xen lẫn chua xót giữa niềm quan tâm và sự tuyệt vọng, nay lại chính là những người ruột thịt gần gũi của tôi; và chàng thanh niên đàng hoàng đĩnh đạc đã tìm thấy tôi khi tôi gần như sắp chết trước ngưỡng cửa nhà chàng lại là người cùng huyết thống với tôi. Thật là một sự phát hiện huy hoàng cho một kẻ khốn cùng cô độc! Đây mới thực sự là của cải!—của cải cho tâm hồn!—một mỏ quặng của những tình cảm chân thành, nồng hậu. Đây là một phúc lành rạng rỡ, sống động và đầy phấn chấn;—chẳng giống như món quà nặng nề bằng vàng ròng kia: dù giàu có và đáng hoan nghênh theo cách của nó, nhưng lại khiến lòng người phải trĩu nặng vì sức nặng của nó. Lúc này tôi vỗ tay trong niềm vui sướng bất ngờ—mạch máu tôi rộn rã, những đường gân tôi run lên vì xúc động.
“Ôi, tôi mừng quá!—tôi mừng quá đi mất!” tôi thốt lên.
St. John mỉm cười. “Chẳng phải tôi đã nói là cô toàn bỏ quên những điểm cốt yếu để mải miết đuổi theo những chuyện vụn vặt đó sao?” chàng hỏi. “Khi tôi báo tin cô nhận được một gia tài thì cô lại làm bộ nghiêm trọng; thế mà bây giờ, vì một chuyện chẳng đâu vào đâu, cô lại phát cuồng lên thế này.”
“Thầy nói thế là có ý gì chứ? Đối với thầy chuyện đó có thể chẳng đáng bận tâm; thầy đã có các chị gái và chẳng thèm đoái hoài gì đến một người em họ; nhưng tôi thì chẳng có một ai thân thích trên đời; và giờ đây bỗng nhiên có tới ba người thân,—hoặc hai người, nếu thầy không chịu tính mình vào đó,—đã xuất hiện vẹn nguyên trong cuộc đời tôi. Tôi xin nhắc lại lần nữa, tôi vui sướng lắm!”
Tôi rảo bước thật nhanh quanh căn phòng: rồi tôi dừng lại, gần như ngột ngạt vì những ý nghĩ đang dâng trào nhanh hơn mức tôi có thể tiếp nhận, thấu hiểu và sắp xếp chúng:—những ý nghĩ về những điều có thể, có lẽ, sẽ và phải xảy ra, mà lại xảy ra chẳng bao lâu nữa. Tôi nhìn lên bức tường trống trơn: nó dường như biến thành một bầu trời dày đặc những vì sao đang mọc lên,—mỗi vì sao lại soi sáng cho tôi tới một mục đích hay một niềm hoan lạc. Những con người đã cứu mạng tôi, những người mà cho tới giờ phút này tôi chỉ có thể yêu thương một cách vô vọng, thì nay tôi đã có thể đền đáp họ. Họ đang phải chịu cảnh đọa đày,—tôi có thể giải thoát cho họ: họ đang phải phiêu bạt mỗi người một phương,—tôi có thể đoàn tụ họ lại: sự tự lập, sự sung túc thuộc về tôi đây, cũng có thể là của họ. Chẳng phải chúng tôi có bốn người sao? Hai mươi nghìn bảng chia đều ra sẽ là mỗi người năm nghìn, một sự công bằng—quá đủ đầy và dư dả: công lý sẽ được thực thi,—hạnh phúc chung sẽ được bảo đảm. Giờ đây sự giàu sang không còn đè nặng lên tôi nữa: giờ đây nó không đơn thuần là một món tiền thừa kế,—mà là một di sản của sự sống, của niềm hy vọng và niềm vui sướng.
Trong lúc những ý nghĩ ấy đang càn quét tâm trí mình, trông tôi ra sao tôi cũng chẳng rõ; nhưng tôi sớm nhận thấy thầy Rivers đã đặt một chiếc ghế ra phía sau tôi, và đang nhẹ nhàng tìm cách đỡ tôi ngồi xuống đó. Chàng cũng khuyên tôi nên bình tâm lại; tôi gạt phắt cái ý nghĩ cho rằng mình đang bất lực hay quẫn trí, giằng tay chàng ra, và lại bắt đầu đi đi lại lại.
“Ngày mai thầy hãy viết thư cho chị Diana và Mary,” tôi nói, “bảo hai chị hãy về nhà ngay lập tức. Chị Diana từng nói rằng cả hai chị sẽ coi mình là giàu có nếu có được một nghìn bảng, vậy thì với năm nghìn bảng họ sẽ sống rất đàng hoàng.”
“Bảo tôi xem có thể lấy cho cô một ly nước ở đâu nào,” St. John nói; “cô thực sự phải cố gắng trấn tĩnh lại cảm xúc của mình đi thôi.”
“Vớ vẩn! Thế món tiền thừa kế này sẽ có tác động thế nào tới thầy đây? Liệu nó có giữ chân thầy ở lại nước Anh, khiến thầy cưới tiểu thư Oliver và an phận sống như một người phàm trần bình thường không?”
“Cô đang nói mê sảng đấy: đầu óc cô rối bời cả rồi. Tôi đã quá đột ngột khi thông báo tin tức này; nó đã làm cô kích động quá sức chịu đựng.”
“Thầy Rivers! Thầy làm tôi mất hết cả kiên nhẫn rồi đấy: tôi hoàn toàn tỉnh táo; chính thầy mới là người hiểu lầm, hay đúng hơn là giả vờ hiểu lầm.”
“Có lẽ, nếu cô giải thích cặn kẽ hơn một chút, tôi sẽ hiểu rõ hơn chăng.”
“Giải thích ư! Còn có gì để mà giải thích nữa chứ? Chẳng lẽ thầy không thấy hai mươi nghìn bảng, cái món tiền đang nói đến ấy, chia đều cho một người cháu trai và ba người cháu gái của bác chúng ta, thì mỗi người sẽ được năm nghìn bảng sao? Điều tôi muốn là, thầy hãy viết thư cho các chị gái của thầy và báo cho họ biết về món tài sản thuộc về họ.”
“Thuộc về cô thì đúng hơn, ý cô là thế chứ.”
“Tôi đã nói rõ quan điểm của mình về chuyện này rồi: tôi không thể có cách nghĩ nào khác được đâu. Tôi không phải là kẻ ích kỷ đến tàn nhẫn, mù quáng đến bất công, hay vô ơn bạc bẽo đến mức quỷ tha ma bắt. Hơn nữa, tôi đã quyết tâm phải có một mái ấm và những người thân thích. Tôi thích ngôi nhà Moor House, và tôi sẽ sống ở Moor House; tôi yêu mến chị Diana và Mary, và tôi sẽ gắn bó suốt đời với Diana và Mary. Có năm nghìn bảng sẽ khiến tôi vui sướng và có ích cho tôi; còn nếu có hai mươi nghìn bảng thì nó sẽ chỉ đày đọa và đè nặng lên tôi mà thôi; hơn nữa, về mặt đạo lý nó chẳng bao giờ có thể thuộc về tôi một cách chính đáng, dẫu về mặt luật pháp có thể là như vậy. Thế nên, tôi xin nhường lại cho mọi người những gì hoàn toàn thừa thãi đối với tôi. Đừng có phản đối, và cũng đừng bàn cãi gì về chuyện đó nữa; chúng ta hãy thống nhất với nhau, và quyết định dứt điểm vấn đề này ngay đi.”
“Đây chỉ là hành động theo những xung động nhất thời thôi; cô phải mất nhiều ngày để suy nghĩ chín chắn về một việc như thế này, trước khi lời nói của cô có thể coi là có giá trị thực sự.”
“Ồ! Nếu tất cả những gì thầy nghi ngờ chỉ là sự chân thành của tôi, thì tôi yên tâm rồi: thầy có thấy lẽ công bằng trong chuyện này không?”
“Tôi có thấy một sự công bằng nhất định; nhưng điều đó lại trái với mọi thói thường. Vả lại, toàn bộ gia tài ấy thuộc về cô một cách chính đáng: bác tôi đã tự tay làm nên cơ nghiệp ấy; bác có toàn quyền để lại cho bất kỳ ai bác muốn: và bác đã để lại cho cô. Rốt cuộc thì, công lý vẫn cho phép cô giữ lấy nó: cô hoàn toàn có thể thanh thản lương tâm mà coi nó thuộc về riêng mình.”
“Với tôi,” tôi nói, “đây hoàn toàn là vấn đề của tình cảm cũng như của lương tâm: tôi phải chiều theo cảm xúc của mình; tôi hiếm khi có cơ hội được làm như thế lắm. Dù thầy có tranh cãi, phản đối và làm phiền tôi suốt một năm trời, tôi cũng không thể từ bỏ niềm vui sướng ngọt ngào mà tôi vừa thoáng thấy—đó là được đền đáp một phần nào món nợ ân tình to lớn, và giành lấy cho mình những người bạn tri kỷ suốt đời.”
“Bây giờ cô nghĩ vậy thôi,” St. John đáp lại, “bởi cô chưa biết thế nào là sở hữu, và do đó cũng chưa biết thế nào là tận hưởng sự giàu sang: cô không thể hình dung nổi tầm quan trọng mà hai mươi nghìn bảng sẽ mang lại cho cô đâu; về vị thế mà nó cho phép cô có được trong xã hội; về những triển vọng mà nó sẽ mở ra trước mắt cô: cô không thể—”
“Còn thầy,” tôi ngắt lời, “thì lại chẳng thể nào tưởng tượng nổi nỗi khát khao tình cảm anh chị em trong tôi lớn đến nhường nào. Tôi chưa từng có một mái ấm, tôi chưa từng có anh chị em; bây giờ tôi phải có và nhất định sẽ có họ: thầy đâu có ngần ngại đón nhận và thừa nhận tôi, phải không nào?”
“Jane này, tôi sẽ làm anh trai cô—các chị gái của tôi sẽ làm chị gái cô—mà không cần cô phải hy sinh những quyền lợi chính đáng của mình như thế.”
“Anh trai ư? Phải rồi; ở cách xa muôn trùng ngàn dặm! Chị gái ư? Phải rồi; đang phải nai lưng làm lụng nơi đất khách quê người giữa những kẻ xa lạ! Còn tôi, giàu có—ngập ngụa trong đống vàng mà tôi chẳng hề đổ mồ hôi làm ra và cũng chẳng xứng đáng được hưởng! Còn thầy thì không một xu dính túi! Thật là một sự bình đẳng và tình anh em tuyệt vời làm sao! Thật là một sự gắn kết keo sơn! Một mối thâm tình khăng khít!”
“Nhưng Jane ơi, những khát khao của cô về tình thân gia đình và hạnh phúc mái ấm có thể được thực hiện bằng những cách khác chứ đâu chỉ bằng con đường cô đang trù tính: cô có thể kết hôn mà.”
“Lại vớ vẩn nữa rồi! Kết hôn ư! Tôi không muốn lấy chồng, và sẽ chẳng bao giờ lấy chồng đâu.”
“Nói thế là quá lời rồi đấy: những lời khẳng định liều lĩnh như vậy chỉ chứng tỏ sự kích động mà cô đang phải chịu đựng thôi.”
“Chẳng quá lời chút nào đâu: tôi biết rõ lòng mình cảm thấy thế nào, và tôi chán ghét cái ý nghĩ về hôn nhân đến mức nào. Chẳng có ai cưới tôi vì tình yêu đâu; và tôi cũng không đời nào chịu để người ta coi mình như một món đầu cơ tiền bạc đơn thuần. Tôi cũng chẳng cần một kẻ xa lạ—vô cảm, xa cách, khác biệt với tôi; tôi chỉ cần những người ruột thịt của mình: những người mà tôi có được sự đồng cảm trọn vẹn. Xin thầy hãy nhắc lại một lần nữa rằng thầy sẽ làm anh trai tôi đi: khi thầy thốt ra những lời ấy, tôi đã thấy mãn nguyện, thấy hạnh phúc lắm rồi; hãy nhắc lại đi, nếu thầy có thể, hãy nhắc lại một cách chân thành xem nào.”
“Tôi nghĩ mình có thể làm được điều đó. Tôi biết mình luôn yêu thương các chị em gái của tôi; và tôi biết tình cảm tôi dành cho họ bắt nguồn từ đâu,—từ sự tôn trọng phẩm giá và lòng ngưỡng mộ tài năng của họ. Cô cũng là người có nguyên tắc và có trí tuệ: sở thích và thói quen của cô rất giống với Diana và Mary; sự hiện diện của cô luôn khiến tôi thấy dễ chịu; trong những cuộc trò chuyện với cô, từ lâu tôi đã tìm thấy một niềm an ủi bổ ích. Tôi cảm thấy mình có thể dễ dàng và tự nhiên dành một chỗ trong trái tim mình cho cô, như một người em gái thứ ba và là cô em gái út của tôi.”
“Cảm ơn thầy: thế là đủ làm tôi mãn nguyện cho đêm nay rồi. Bây giờ thầy nên về đi thôi; vì nếu thầy còn nán lại lâu hơn, có lẽ thầy lại làm tôi bực mình thêm bởi một mối e dè ngờ vực nào đó mất.”
“Còn trường học thì sao, cô Eyre? Chắc bây giờ phải đóng cửa thôi nhỉ?”
“Không đâu. Tôi vẫn sẽ giữ cương vị cô giáo cho đến khi thầy tìm được người thay thế.”
Chàng mỉm cười tán thành: chúng tôi bắt tay nhau, rồi chàng cáo từ.
Tôi chẳng cần phải thuật lại chi tiết những cuộc giằng co tiếp sau đó mà tôi đã trải qua, cùng những lý lẽ mà tôi đã dùng, để dàn xếp xong xuôi những chuyện liên quan đến món di sản theo đúng ý nguyện của mình. Nhiệm vụ của tôi vô cùng gian nan; nhưng vì tôi đã tuyệt đối quyết tâm—vì cuối cùng những người anh chị em họ của tôi cũng nhận thấy rằng tâm ý của tôi thực sự kiên định và không thể lay chuyển trong việc chia đều tài sản—vì tự trong đáy lòng họ hẳn cũng cảm nhận được lẽ công bằng của ý định ấy; và hơn nữa, chắc chắn trong thâm tâm họ ý thức được rằng nếu ở vào địa vị của tôi, họ cũng sẽ làm đúng như những gì tôi muốn làm—nên rốt cuộc họ đã nhượng bộ đến mức đồng ý đưa vụ việc ra phân xử. Những trọng tài được chọn là ông Oliver và một vị luật sư tài ba: cả hai đều đồng tình với ý kiến của tôi: tôi đã đạt được mục đích của mình. Các văn bản chuyển nhượng tài sản đã được soạn thảo xong xuôi: St. John, Diana, Mary và tôi, mỗi người đều sở hữu một sản nghiệp đủ để sống sung túc đàng hoàng.