Tháng ngày của sự tán tỉnh đã trôi qua, và từng giờ khắc cuối cùng của nó đang đếm ngược. Không thể trì hoãn thêm cái ngày đang đến gần ấy — ngày cưới; và mọi chuẩn bị cho sự kiện trọng đại đã hoàn tất. Ít ra, tôi chẳng còn việc gì phải làm nữa: những chiếc va-li của tôi đã được đóng gói, khóa chặt, buộc dây cẩn thận, xếp thành hàng dọc theo bức tường căn phòng nhỏ; vào giờ này ngày mai, chúng sẽ ở rất xa trên con đường hướng về Luân Đôn: và tôi cũng vậy (nếu ơn Chúa cho phép), — hay đúng hơn, không phải tôi, mà là một Jane Rochester, một con người mà đến lúc này tôi vẫn chưa hề quen biết. Chỉ còn lại những tấm thẻ ghi địa chỉ là chưa được đóng đinh lên: chúng nằm đó, bốn ô vuông nhỏ, nằm trong ngăn kéo. Chính tay Mr. Rochester đã viết dòng chữ: “Mrs. Rochester, Khách sạn ——, Luân Đôn,” lên từng tấm: tôi không tài nào đủ can đảm để gắn chúng vào, hay nhờ ai gắn giúp. Mrs. Rochester! Bà ấy chưa hề tồn tại: bà ấy sẽ chỉ ra đời vào ngày mai, đâu đó sau tám giờ sáng; và tôi muốn đợi cho đến khi chắc chắn rằng bà ấy đã cất tiếng khóc chào đời một cách an toàn rồi mới trao lại toàn bộ tài sản ấy cho bà. Chỉ cần nhìn vào chiếc tủ tường đằng kia, đối diện bàn trang điểm của tôi, những bộ y phục được cho là của bà ấy đã soán ngôi chiếc váy bằng vải thô màu đen ở Lowood và chiếc mũ rơm của tôi là đủ rõ: bởi bộ y phục cô dâu ấy không hề thuộc về tôi; tấm áo choàng màu ngọc trai, chiếc khăn voan mỏng manh rủ xuống từ chiếc va-li bị chiếm đoạt. Tôi đóng sập cửa tủ lại để che đi những xiêm y kỳ lạ, giống như hồn ma đang ẩn chứa bên trong; thứ trang phục ấy, vào thời điểm chập tối này — lúc chín giờ — quả thực đã tỏa ra một thứ ánh sáng ma quái xuyên qua bóng tối trong phòng tôi. “Tôi để lại cô một mình nhé, giấc mộng trắng xóa,” tôi lẩm bẩm. “Tôi đang phát sốt: tôi nghe tiếng gió thổi ngoài kia: tôi sẽ ra ngoài và cảm nhận nó.”
Không chỉ sự tất bật của việc chuẩn bị mới khiến tôi thổn thức; không chỉ sự mong đợi về một bước ngoặt lớn — cuộc đời mới sẽ bắt đầu vào ngày mai: cả hai yếu tố đó chắc chắn đều góp phần tạo nên tâm trạng bồn chồn, phấn khích thúc giục tôi bước ra ngoài khu vườn đang chìm dần vào bóng tối trong muộn màng này; nhưng một nguyên nhân thứ ba còn tác động đến tâm trí tôi mạnh mẽ hơn cả.
Trong lòng tôi canh cánh một nỗi bận tâm kỳ lạ và đầy lo lắng. Đã có chuyện xảy ra mà tôi không tài nào tài hiểu nổi; chẳng ai hay biết hay chứng kiến sự việc ấy ngoài tôi ra: nó diễn ra vào đêm hôm trước. Đêm đó Mr. Rochester vắng nhà; và ông vẫn chưa trở lại: công việc đã gọi ông đến một điền trang nhỏ gồm hai, ba nông trại mà ông sở hữu cách đó ba mươi dặm — công việc buộc ông phải tự mình giải quyết trước khi lên đường rời khỏi nước Anh. Giờ đây tôi đang ngóng trông sự trở trờ về của ông; lòng nóng lòng muốn trút bỏ gánh nặng trong tâm trí, và tìm kiếm ở ông lời giải đáp cho câu đố đang làm tôi rối trí. Xin hãy kiên nhẫn đợi ông ấy trở về, hỡi độc giả; và khi tôi thổ lộ bí mật của mình với ông ấy, bạn cũng sẽ được chia sẻ niềm tâm sự đó.
Tôi tìm đến khu vườn cây ăn quả, bị cơn gió dồn đuổi tìm nơi trú ẩn, cơn gió mà suốt cả ngày đã thổi mạnh và lồng lộng từ phương nam tới, tuy nhiên chẳng đem theo lấy một hạt mưa. Thay vì dịu bớt khi màn đêm buông xuống, nó dường như càng gào thét dữ dội hơn và gầm rú trầm đục hơn: những hàng cây kiên định ngả nghiêng về một hướng, không hề oằn mình vặn vẹo, và hầu như suốt cả tiếng đồng hồ chẳng một lần tung ngọn trở lại — sức ép cứ liên tục uốn cong những tán lá sum sê về phía bắc — những đám mây trôi dạt từ cực này sang cực khác, nối đuôi nhau thật nhanh, lớp lớp chồng chất: chẳng một chút trời xanh nào lọt vào mắt trong suốt ngày tháng Bảy ấy.
Không phải không có một thứ niềm vui hoang dã nào đó khi tôi chạy đua trước gió, trút bỏ tâm sự nặng nề vào luồng không khí vô tận đang gầm thét qua không gian. Đi xuống lối đi rợp bóng nguyệt quế, tôi đối mặt với tàn tích của cây dẻ lớn; nó đứng sừng sững, đen đúa và rạn nứt: thân cây bị xé đôi ở chính giữa, hác ra một khoảng trống đến rợn người. Hai nửa bị chẻ đôi ấy không tách rời nhau, bởi phần gốc vững chắc và bộ rễ khỏe khoắn vẫn giữ chúng gắn kết ở phía bên dưới; dù cho sự sống chung đã bị hủy họi — nhựa sống không thể lưu thông thêm được nữa: những cành lớn ở hai bên đều đã chết, và những trận cuồng phong của mùa đông tới chắc chắn sẽ quật ngã một hoặc cả hai xuống đất: tuy nhiên, đến lúc này, người ta vẫn có thể coi chúng là một cái cây — một đống đổ nát, nhưng là một đống đổ nát toàn vẹn.
“Anh đã làm đúng khi bám chặt lấy nhau,” tôi nói: cứ như thể những mảnh gỗ khổng lồ ấy là sinh vật sống và có thể nghe thấy tôi. “Tôi nghĩ, dù trông anh có xơ xác, bị cháy xém và tiêu điều đến thế nào đi nữa, thì hẳn vẫn còn chút sự sống le lói bên trong anh, trỗi dậy từ sự gắn kết ở phần rễ trung thực, chân thành kia: các anh sẽ chẳng bao giờ có lại những chiếc lá xanh — chẳng bao giờ còn thấy chim chóc làm tổ và hót những khúc ca điền viên trên cành nữa; thời gian của niềm vui và tình yêu đã chấm dứt đối với các anh rồi: nhưng các anh không hề cô độc; mỗi người đều có một người đồng hành để đồng cảm với mình trong cơn tàn lụi.” Khi tôi ngước nhìn chúng, mặt trăng bất chợt xuất hiện ở khoảng trời lấp đầy khe nứt giữa hai thân cây; đĩa mặt trăng đỏ như máu và bị mây che khuất một nửa; nó dường như liếc nhìn tôi một cái đầy bối rối, ảm đạm rồi lại lập tức vùi mình vào tầng mây dày đặc. Gió lặng đi trong giây lát quanh Thornfield; nhưng xa xôi ngoài kia, trên cánh rừng và dòng nước, một tiếng thở dài hoang dã, u sầu vang lên: nghe thật xót xa, và tôi lại cắm cổ chạy đi.
Tôi lang thang khắp khu vườn cây ăn quả, nhặt những quả táo rụng đầy trên thảm cỏ quanh gốc cây; rồi tôi cẩn thận phân loại táo chín và táo xanh; tôi mang chúng vào nhà và cất vào phòng kho. Sau đó, tôi quay lại phòng đọc sách để xem lò sưởi đã được đốt lên chưa, bởi dù đang là mùa hè, tôi biết rằng trong một buổi tối ảm đạm thế này, Mr. Rochester sẽ thích ngắm nhìn một ngọn lửa ấm cúng khi bước vào: vâng, lửa đã được nhóm từ lâu và cháy rất đượm. Tôi kê chiếc ghế bành của ông lại góc lò sưởi; đẩy chiếc bàn lại gần; buông rèm xuống, và bảo người ta mang nến vào sẵn sàng để thắp. Càng bồn chồn hơn bao giờ hết, khi đã hoàn tất mọi sắp xếp đó, tôi không thể ngồi yên, thậm chí chẳng thể ở yên trong nhà: chiếc đồng hồ nhỏ trong phòng và chiếc đồng hồ cổ ngoài sảnh đồng loạt điểm mười giờ.
“Sao trời ngày càng muộn thế này!” tôi lẩm bẩm. “Tôi sẽ chạy ra cổng: thỉnh thoảng trăng lại sáng; tôi có thể nhìn rõ một đoạn đường dài. Có lẽ anh ấy sắp đến rồi, và ra đón anh ấy sẽ bớt đi vài phút giây chờ đợi thấp thỏm.”
Gió gầm thét trên những tán cây lớn rợp bóng quanh cổng; nhưng con đường phía trước, cả bên phải lẫn bên trái trong tầm mắt tôi, đều tĩnh lặng và cô quạnh: ngoại trừ những bóng mây thỉnh thoảng lướt qua khi ánh trăng ló rạng, nó chỉ là một dải lốm đốm nhợt nhạt kéo dài, chẳng một bóng người qua lại.
Một giọt nước mắt trẻ con làm mờ đi đôi mắt tôi khi tôi ngước nhìn — giọt nước mắt của sự thất vọng và bất kiên nhẫn; cảm thấy hổ thẹn, tôi vội vừng lau đi. Tôi chần chừ đứng lại; vương miện trăng hoàn toàn giấu mình sau buồng kín, kéo tấm rèm mây dày đặc che khuất; đêm trở nên tối mịt; mưa quất roi rát rạt theo cơn cuồng phong.
“Ước gì anh ấy đến! Ước gì anh ấy đến!” tôi thốt lên, bị cơn ác mộng và điềm gở bủa vây. Tôi đã mong anh ấy về trước giờ trà; giờ thì trời đã tối mịt: điều gì có thể giữ chân anh ấy lại cơ chứ? Đã có tai nạn nào xảy ra chăng? Sự việc của đêm hôm qua lại hiện về trong tâm trí tôi. Tôi giải thích nó như một điềm báo về thảm họa. Tôi sợ rằng niềm hy vọng của mình quá rực để có thể trở thành sự thật; và dạo gần đây tôi đã tận hưởng quá nhiều hạnh phúc nên tưởng chừng vận may của mình đã qua đỉnh điểm và giờ đây bắt đầu lụi tàn.
“Thôi được, tôi không thể quay lại nhà,” tôi nghĩ; “tôi không thể ngồi bên lò sưởi, trong khi anh ấy đang phiêu bạt ngoài thời tiết khắc nghiệt này: thà mỏi chân còn hơn đau thắt tim; tôi sẽ đi ra đón anh ấy.”
Tôi bước đi; tôi đi rất nhanh, nhưng chẳng được xa: chưa đi nổi một phần tư dặm, tôi đã nghe tiếng móng ngựa nện xuống mặt đường; một kỵ sĩ đang lao tới với tốc độ phi nước đại; một chú chó chạy sát bên cạnh. Dẹp đi những điềm gở! Chính là anh ấy: anh ấy đây rồi, cưỡi trên lưng Mesrour, theo sau là Pilot. Anh ấy đã thấy tôi; bởi vầng trăng đã rẽ mây tạo ra một khoảng trời xanh thẳm, rực rỡ ánh nước bên trong: anh ấy cất mũ và vung vòng quanh đầu. Tôi liền cất bước chạy về phía anh ấy.
“A đây rồi!” anh ấy thốt lên khi vươn tay ra và rướn người khỏi yên ngựa: “Em rõ ràng là không thể sống thiếu anh rồi. Đặt chân lên mũi ủng của anh đi; đưa cả hai tay đây: lên nào!”
Tôi vâng lời; niềm vui khiến tôi trở nên lanh lẹ: tôi phóng người ngồi lên phía trước anh ấy. Tôi nhận được một cái ôm hôn nồng nhiệt để chào đón, kèm theo chút đắc thắng tự đắc mà tôi đành nuốt trọn vào trong. Anh dừng lại niềm hân hoan của mình để gạn hỏi: “Nhưng có chuyện gì thế Jane, mà em lại ra đón anh vào giờ này? Có chuyện gì bất ổn à?”
“Không, chỉ là em nghĩ anh sẽ chẳng bao giờ đến. Em không tài nào chịu đựng được cảnh ngồi trong nhà chờ đợi anh, nhất là trong cơn mưa gió thế này.”
“Mưa gió thật đấy! Ừm, em đang ướt sũng như một nàng tiên cá; hãy kéo áo choàng của anh quấn quanh người đi: nhưng anh nghĩ em đang phát sốt đấy Jane ạ: cả má và tay em đều nóng bừng. Anh hỏi lại lần nữa, có chuyện gì xảy ra thế?”
“Bây giờ thì không có gì ạ; em không còn sợ hãi hay bất hạnh nữa.”
“Thế ra trước đó em đã bị cả hai điều ấy à?”
“Hơi thế ạ; nhưng lát nữa em sẽ kể cho anh nghe tất cả, thưa anh; và em đoán anh sẽ chỉ cười vào mặt em vì sự lo bò trắng răng này thôi.”
“Anh sẽ cười vào mặt em thật thỏa thích khi ngày mai đã qua đi; cho đến lúc đó thì anh không dám đâu: phần thưởng của anh chưa chắc chắn mà. Đây có phải là cô nàng suốt tháng qua trơn tuột như lươn và đầy gai góc như hoa tầm xuân không nhỉ? Anh chẳng thể đặt ngón tay vào đâu mà không bị đâm phải; thế mà giờ đây hình như anh đang nhặt được một chú cừu lạc trong vòng tay mình. Em đã đi lang thang khỏi đàn để tìm vị mục tử của mình phải không Jane?”
“Em muốn tìm anh: nhưng đừng có khoe khoang nữa. Chúng ta về đến Thornfield rồi đây: giờ thì cho em xuống đi.”
Anh đỡ tôi xuống mặt đường. Trong lúc John dắt ngựa đi, và anh đi theo tôi vào sảnh, anh dặn tôi hãy mau chóng thay bộ đồ khô ráo, rồi quay lại phòng đọc sách với anh; và anh níu tôi lại khi tôi đang hướng về cầu thang, để bắt tôi hứa là không được ở lâu: và tôi cũng chẳng ở lâu thật; năm phút sau tôi đã quay lại bên anh. Tôi thấy anh đang dùng bữa tối.
“Hãy ngồi xuống và bầu bạn với anh đi Jane: cầu trời đó là bữa ăn áp chót mà em sẽ ăn tại lâu đài Thornfield trong một thời gian dài.”
Tôi ngồi xuống gần anh, nhưng bảo rằng mình không thể ăn nổi.
“Có phải vì em sắp có một chuyến đi dài trước mắt không Jane? Có phải ý nghĩ sắp đến Luân Đôn đã lấy đi cảm giác thèm ăn của em không?”
“Tối nay em không thể nhìn rõ tương lai của mình, thưa anh; và em hầu như chẳng biết trong đầu mình đang có suy nghĩ gì nữa. Mọi thứ trong cuộc đời dường như đều thật phù du.”
“Trừ anh ra: anh đủ thực tế đấy chứ — chạm vào anh xem.”
“Chính anh, thưa anh, mới là kẻ giống bóng ma nhất trong số đó: anh chỉ là một giấc mộng mà thôi.”
Anh đưa tay ra, cười lớn. “Đó có phải là giấc mộng không?” anh nói, đưa bàn tay lại sát mắt tôi. Anh có một bàn tay đầy đặn, vạm vỡ và khỏe khoắn, cùng với một cánh tay dài và rắn rỏi.
“Phải ạ; dù em có chạm vào nó, thì đó vẫn là giấc mộng,” tôi nói khi gạt bàn tay ấy ra khỏi tầm nhìn. “Thưa anh, anh dùng bữa xong chưa?”
“Xong rồi, Jane.”
Tôi rung chuông gọi người dọn khay đi. Khi chúng tôi chỉ còn lại hai người, tôi khơi lại ngọn lửa trong lò, rồi kéo một chiếc ghế thấp ngồi ngay bên đầu gối chủ nhân.
“Sắp đến nửa đêm rồi,” tôi nói.
“Đúng vậy: nhưng hãy nhớ rằng, Jane, em đã hứa sẽ thức cùng anh vào đêm trước ngày cưới của chúng ta.”
“Em có hứa; và em sẽ giữ lời hứa đó, ít nhất là trong một hoặc hai tiếng nữa: em chẳng có chút hứng thú nào đi ngủ cả.”
“Mọi sự chuẩn bị của em đã hoàn tất chưa?”
“Thưa rồi, tất cả ạ.”
“Và phần anh cũng vậy,” anh đáp, “anh đã sắp xếp mọi thứ ổn thỏa; và chúng ta sẽ rời khỏi Thornfield vào ngày mai, chỉ nửa tiếng sau khi từ nhà thờ trở về.”
“Vâng, thưa anh.”
“Sao em lại thốt ra từ ‘vâng’ đó với một nụ cười kỳ lạ thế hỡi Jane! Trên má em kìa, sao lại có hai vệt màu rực rỡ đến vậy! Và đôi mắt em sao mà lấp lánh lạ thường thế! Em có khỏe không đấy?”
“Em tin là mình khỏe.”
“Tin ư! Có chuyện gì thế? Hãy nói cho anh nghe những gì em đang cảm nhận xem nào.”
“Em không thể đâu, thưa anh: chẳng từ ngữ nào có thể diễn tả hết những gì em đang cảm thấy. Em ước gì giờ phút này đừng bao giờ kết thúc: ai mà biết được khoảnh khắc tiếp theo sẽ mang theo số phận gì đến chứ?”
“Đây chỉ là chứng u sầu thôi, Jane. Em đã bị kích động quá mức, hoặc mệt mỏi quá độ rồi.”
“Thưa anh, anh có cảm thấy bình thản và hạnh phúc không?”
“Bình thản ư? — không: nhưng hạnh phúc — thì đến tận tận đáy lòng.”
Tôi ngước nhìn anh để tìm đọc những dấu hiệu của hạnh phúc trên khuôn mặt ấy: nó đang hừng hực và ửng đỏ.
“Hãy trao cho anh sự tin tưởng của em đi Jane,” anh nói: “hãy trút bỏ mọi gánh nặng đang đè nặng tâm trí em bằng cách sẻ chia nó với anh. Em đang sợ điều gì? — sợ rằng anh sẽ không phải là một người chồng tốt chắc?”
“Đó là điều xa vời nhất trong tâm trí em.”
“Em đang lo sợ về môi trường sống mới mà em sắp bước vào ư? — về cuộc đời mới mà em sắp trải qua chăng?”
“Không ạ.”
“Em làm anh bối rối đấy Jane ạ: ánh mắt và giọng điệu táo bạo nhưng đượm buồn của em khiến anh vừa bối rối vừa đau lòng. Anh muốn có một lời giải thích.”
“Vậy thì, thưa anh, xin hãy lắng nghe. Đêm qua anh vắng nhà phải không?”
“Đúng vậy: anh biết điều đó; và lúc nãy em có hé lộ về một chuyện gì đó đã xảy ra trong lúc anh vắng mặt: — chắc chẳng có gì quan trọng đâu; nhưng tóm lại là nó đã làm em phiền lòng. Hãy kể cho anh nghe xem nào. Chắc Mrs. Fairfax đã nói gì đó à? Hay em vô tình nghe được người hầu bàn tán? — lòng tự trọng nhạy cảm của em đã bị tổn thương sao?”
“Không thưa anh.” Đồng hồ điểm mười hai tiếng — tôi đợi cho đến khi tiếng chuông bạc của chiếc đồng hồ nhỏ dứt hẳn, và tiếng gõ khàn đục, vang vọng của chiếc đồng hồ lớn cũng im bặt, rồi tôi mới tiếp tục.
“Suốt ngày hôm qua tôi rất bận rộn, và rất hạnh phúc trong sự tất bật không ngừng nghỉ ấy; bởi vì tôi không hề bị ám ảnh bởi bất kỳ nỗi sợ hãi nào về môi trường sống mới v.v., như anh lầm tưởng: tôi nghĩ việc có hy vọng được sống cùng anh là một điều tuyệt vời, bởi vì tôi yêu anh. Không, thưa anh, đừng vuốt ve em lúc này — hãy để em nói chuyện mà không bị ngắt lời. Ngày hôm qua tôi đã đặt trọn niềm tin nơi Đấng Tối Cao, và tin rằng mọi việc đang hòa hợp để mang lại điều tốt đẹp cho cả anh và em: đó là một ngày đẹp trời, nếu anh còn nhớ — sự tĩnh lặng của bầu trời và không khí đã loại bỏ mọi lo ngại về sự an toàn hay thoải mái trong chuyến đi của anh. Tôi đã đi dạo một lát trên đường sau bữa trà, nghĩ về anh; và trong tưởng tượng, tôi thấy anh ở gần bên đến mức tôi hầu như chẳng cảm thấy sự vắng mặt thực sự của anh. Tôi nghĩ về cuộc đời đang bày ra trước mắt mình — cuộc đời của anh, thưa anh — một sự tồn tại rộng lớn và sôi động hơn nhiều so với cuộc đời tôi; cũng giống như độ sâu của đại dương mà con suối đổ vào so với những vùng nước nông trong dòng chảy hẹp của chính nó vậy. Tôi tự hỏi tại sao các nhà luân học lại gọi thế giới này là một hoang mạc ảm đạm: đối với tôi, nó nở rộ như một đóa hồng. Ngay lúc hoàng hôn, trời chuyển lạnh và mây kéo đến: tôi bước vào trong, Sophie gọi tôi lên lầu để ngắm chiếc váy cưới mà họ vừa mang tới; và bên dưới nó, trong chiếc hộp, tôi tìm thấy món quà của anh — chiếc khăn voan mà vì lòng xa hoa vương giả, anh đã cho người mua tận Luân Đôn: chắc hẳn anh đã quyết định, vì tôi không chịu nhận trang sức, nên phải lừa tôi nhận lấy một thứ đắt giá không kém. Tôi mỉm cười khi mở nó ra, và thầm nghĩ cách sẽ trêu chọc anh về gu thẩm mỹ quý tộc của anh, và những nỗ lực ngụy trang cho cô dâu bình dân của mình mang phong thái của một nữ tước. Tôi nghĩ đến việc mình sẽ mang xuống cho anh mảnh vải ren không thêu mà chính tay tôi đã chuẩn bị làm khăn trùm cho cái đầu xuất thân hèn kém của mình, và hỏi xem liệu nó đã đủ tốt cho một người phụ nữ chẳng thể mang lại cho chồng mình của cải, sắc đẹp hay gia thế gì chưa. Tôi hình dung rất rõ vẻ mặt của anh lúc đó; và nghe văng vẳng những câu trả lời mang đậm chất cộng hòa đầy bộc phát của anh, cùng sự chối bỏ đầy kiêu hãnh rằng anh chẳng cần phải gia tăng tài sản hay nâng cao địa vị của mình bằng cách kết hôn với một hầu bao hay một chiếc vương miện.”
“Em thấu hiểu anh quá nhỉ, đồ phù thủy nhỏ!” Mr. Rochester xen vào: “nhưng ngoài những đường thêu thùa ra, em còn tìm thấy gì trong chiếc khăn voan đó nữa? Em tìm thấy thuốc độc hay dao găm à, mà sao trông em bây giờ ủ rũ thế?”
“Không, không thưa anh; ngoài sự tinh xảo và sang trọng của chất vải, em chẳng tìm thấy gì ngoài niềm kiêu hãnh của Fairfax Rochester; và điều đó không làm em sợ hãi, bởi em đã quen với hình bóng con quỷ đó rồi. Nhưng thưa anh, khi trời tối dần, gió bắt đầu nổi lên; gió thổi vào tối qua không giống như bây giờ — hoang dã và dữ dội — mà mang theo ‘một tiếng rên rỉ u ám’ rợn ngợp hơn rất nhiều. Tôi ước gì anh đang ở nhà. Tôi bước vào căn phòng này, và cảnh tượng chiếc ghế trống cùng lò sưởi lạnh ngắt đã làm tôi tê tái. Sau khi lên giường một lúc lâu, tôi vẫn không thể chợp mắt — cảm giác lo âu kích thích khiến tôi khổ sở. Cơn cuồng phong mỗi lúc một mạnh lên dường như che lấp đi một âm thanh trầm buồn thảm hại trong tai tôi; lúc đầu tôi không thể nhận ra nó phát ra từ trong nhà hay ngoài trời, nhưng sau mỗi khoảng lặng, nó lại vang lên, mơ hồ mà đau đớn; cuối cùng tôi cũng nhận ra đó chắc hẳn là tiếng chó hú từ một nơi xa xôi nào đó. Tôi đã rất nhẹ nhõm khi nó ngừng lại. Khi chìm vào giấc ngủ, tôi vẫn tiếp tục mang theo ý nghĩ về một đêm tối tăm và lộng gió trong những giấc mơ. Tôi cũng tiếp tục khao khát được ở bên anh, và trải qua một cảm giác tiếc nuối kỳ lạ về một rào cản nào đó đang chia cắt chúng tôi. Suốt giấc ngủ đầu tiên, tôi đang dò dẫm theo những khúc quanh của một con đường vô định; bóng tối bao trùm lấy tôi; mưa quất vào người tôi; tôi đang oằn mình gánh vác một đứa trẻ nhỏ: một sinh vật rất nhỏ bé, còn quá non nớt và yếu ớt không thể tự đi, đang run rẩy trong vòng tay lạnh giá của tôi và khóc thét đáng thương bên tai. Tôi tưởng rằng, thưa anh, anh đang ở trên con đường ấy cách tôi một đoạn rất xa, và tôi đã vắt kiệt mọi sức lực để đuổi theo anh, cố gắng hết lần này đến lần khác để thốt lên tên anh và nài nỉ anh dừng lại — nhưng những chuyển động của tôi bị xiềng xích, và giọng nói của tôi cứ thế lịm đi không thành tiếng; trong khi anh, tôi cảm thấy, ngày càng rời xa tôi hơn qua từng khoảnh khắc.”
“Và những giấc mơ đó lại đang đè nặng lên tâm trí em lúc này sao Jane, khi mà anh đang ở ngay bên em? Đồ sinh vật nhỏ bé hay lo xa này! Hãy quên đi những nỗi thống khổ hão huyền ấy, và chỉ nghĩ đến hạnh phúc thực sự thôi! Em nói rằng em yêu anh, Janet: đúng vậy — anh sẽ không quên điều đó đâu; và em không thể chối cãi được đâu. Những lời đó đã không lịm đi không thành tiếng trên môi em. Anh đã nghe thấy chúng một cách rõ ràng và dịu dàng: có lẽ hơi trang nghiêm một chút nhưng ngọt ngào như âm nhạc — ‘Em nghĩ việc có hy vọng được sống cùng anh Edward, là một điều tuyệt vời, bởi vì em yêu anh.’ Em có yêu anh không Jane? — hãy nhắc lại xem nào.”
“Em có, thưa anh — em yêu bằng cả trái tim mình.”
“Được rồi,” anh nói sau vài phút im lặng, “thật kỳ lạ; nhưng câu nói ấy đã đâm sâu vào ngực anh một cách đau đớn. Tại sao nhỉ? Anh nghĩ là vì em đã nói nó với một năng lượng thành kính, chân thành đến vậy, và vì cái nhìn ngước lên anh lúc này chính là đỉnh cao của niềm tin, sự thật và lòng tận tụy: nó cứ như thể có một linh hồn nào đó đang hiện diện gần bên anh vậy. Hãy làm vẻ mặt ác độc đi Jane: như cách mà em vẫn rành rẽ; hãy nặn ra một nụ cười hoang dã, rụt rè và đầy khiêu khích của em đi; hãy nói rằng em ghét anh — hãy trêu chọc anh, làm anh bực mình đi; làm gì cũng được miễn là đừng làm anh xúc động: anh thà bị chọc giận còn hơn là cảm thấy u sầu.”
“Em sẽ trêu chọc và làm anh bực mình thỏa thích khi em kể xong câu chuyện này: nhưng xin hãy nghe em cho đến hết đã.”
“Anh cứ tưởng, Jane, là em đã kể hết cho anh nghe rồi chứ. Anh cứ nghĩ mình đã tìm ra nguồn cơn nỗi u sầu của em xuất phát từ một giấc mơ.”
Tôi lắc đầu. “Sao cơ! Vẫn còn nữa à? Nhưng anh sẽ không tin đó là chuyện gì quan trọng đâu. Anh cảnh báo trước là anh hoài nghi đấy nhé. Cứ kể tiếp đi.”
Vẻ bất an trong điệu bộ của anh, sự thiếu kiên nhẫn đầy lo âu trong thái độ của anh đã khiến tôi ngạc nhiên: nhưng tôi vẫn tiếp tục.
“Em lại mơ một giấc mơ khác, thưa anh: rằng lâu đài Thornfield đã trở thành một phế tích ảm đạm, là nơi trú ẩn của loài dơi và cú mèo. Em tưởng tượng rằng trong tổng thể uy nghi ấy chẳng còn lại gì ngoài một bức vỏ tường, rất cao và trông vô cùng mỏng manh. Vào một đêm trăng sáng, em lang thang qua khoảng sân cỏ mọc um tùm bên trong: ở đây em vấp phải một lò sưởi bằng đá cẩm thạch, còn chỗ kia là một mảnh phào chỉ đã sụp đổ. Được quấn trong một chiếc khăn choàng, em vẫn bồng theo đứa trẻ lạ mặt đó: em không được phép đặt nó xuống bất cứ đâu, dù tay có mỏi nhừ đến đâu — dù trọng lượng của nó có cản trở bước chân em đến mấy, em vẫn phải giữ lấy nó. Em nghe thấy tiếng vó ngựa phi nước đại từ xa trên đường; em chắc chắn đó là anh; và anh đang rời đi trong nhiều năm trời tới một đất nước xa xôi. Em trèo lên bức tường mỏng manh với sự vội vã điên cuồng và đầy nguy hiểm, khao khát được nhìn thấy anh dù chỉ một lần từ trên đỉnh: những viên đá lăn ra từ dưới chân em, những cành thường xuân em bám vào bị đứt gãy, đứa trẻ ôm chặt lấy cổ em vì sợ hãi và suýt bóp nghẹt em; cuối cùng em cũng leo lên tới đỉnh. Em thấy anh trông như một hạt bụi nhỏ trên con đường trắng xóa, nhỏ dần đi qua từng khoảnh khắc. Gió thổi mạnh đến mức em không thể đứng vững. Em ngồi xuống gờ tường hẹp; ôm ấp đứa bé đang hoảng sợ trong lòng: anh rẽ qua một góc đường; em rướn người về phía trước để nhìn lần cuối; bức tường sụp xuống; em chao đảo, đứa trẻ tuột khỏi đầu gối em, em mất thăng bằng, rơi xuống và bừng tỉnh.”
“Thế đấy Jane, chỉ có vậy thôi sao.”
“Mới chỉ là phần mở đầu thôi thưa anh; câu chuyện thực sự vẫn còn ở phía sau. Khi tỉnh dậy, một tia sáng làm lóa mắt em; em nghĩ — Ồ, trời sáng rồi! Nhưng em đã nhầm; đó chỉ là ánh nến. Em đoán là Sophie đã bước vào. Có một ngọn đèn đặt trên bàn trang điểm, và cánh cửa tủ — nơi trước khi đi ngủ em đã treo chiếc váy cưới và khăn voan của mình — đang mở hé; em nghe thấy tiếng sột soạt phát ra từ đó. Em hỏi, ‘Sophie, cô đang làm gì thế?’ Không ai trả lời cả; nhưng một bóng người từ trong tủ bước ra; nó cầm lấy ngọn đèn, giơ cao lên và ngắm nghía những bộ y phục đang rúng rẩy rủ xuống từ chiếc va-li. ‘Sophie! Sophie!’ em lại gọi: và không gian vẫn chìm trong im lặng. Em đã chồm dậy trên giường, rướn người về phía trước: sự ngạc nhiên ban đầu nhanh chóng nhường chỗ cho sự bàng hoàng; và rồi máu trong huyết quản em đông đặc lại. Mr. Rochester, đó không phải là Sophie, không phải Leah, cũng chẳng phải Mrs. Fairfax: đó không phải là — vâng, em chắc chắn là thế và bây giờ vẫn vậy — đó thậm chí không phải là người đàn bà kỳ lạ Grace Poole.”
“Chắc chắn phải là một trong số họ chứ,” chủ nhân của tôi ngắt lời.
“Không thưa anh, em xin long trọng cam đoan là không phải. Hình thù đang đứng trước mặt em chưa từng xuất hiện trong tầm mắt em ở bất cứ ngóc ngách nào của lâu đài Thornfield trước đó; chiều cao, vóc dáng ấy hoàn toàn xa lạ với em.”
“Hãy miêu tả nó xem nào, Jane.”
“Trông nó giống như một người phụ nữ, thưa anh, cao lớn, với mái tóc dày và đen thả dài sau lưng. Em không biết cô ta mặc trang phục gì: nó màu trắng và suôn thẳng; nhưng là áo đầm, tấm vải ga giường, hay vải liệm thì em không thể phân biệt được.”
“Em có thấy mặt cô ta không?”
“Lúc đầu thì không. Nhưng ngay sau đó cô ta cầm chiếc khăn voan của em lên; cô ta giơ cao, ngắm nghía nó một hồi lâu, rồi quàng nó lên đầu mình và quay lại soi gương. Vào khoảnh khắc đó, em nhìn thấy hình ảnh phản chiếu của khuôn mặt và các đường nét ấy một cách vô cùng rõ ràng trong tấm gương tối hình chữ nhật.”
“Và chúng trông thế nào?”
“Đáng sợ và ghê rợn đối với em — ồ thưa anh, em chưa bao giờ thấy khuôn mặt nào như thế! Đó là một khuôn mặt biến sắc — một khuôn mặt hoang dã. Ước gì em có thể quên đi ánh mắt đỏ ngầu đảo cuồng loạn và nét mặt sưng phồng đen đúa đáng sợ ấy!”
“Bóng ma thường có màu tái nhợt mà Jane.”
“Thưa anh, thứ này lại mang màu tím sẫm: đôi môi sưng phồng và thâm đen; vầng trán hằn những nếp nhăn; đôi lông mày đen nhướng ngược lên trên cặp mắt vằn tia máu. Anh có muốn em kể nó gợi cho em nhớ đến điều gì không?”
“Em cứ nói đi.”
“Giống như con quỷ hút máu gớm ghiếc của người Đức — Ma Cà Rồng.”
“A! — thế nó đã làm gì?”
“Thưa anh, nó bỏ chiếc khăn voan ra khỏi cái đầu gầy guộc, xé toạc thành hai mảnh, rồi vứt cả hai xuống sàn và giẫm đạp lên.”

“Rồi sao nữa?”
“Nó kéo rèm cửa sổ ra và nhìn ra ngoài; có lẽ nó thấy trời sắp sáng, nên cầm theo cây nến và lùi về phía cửa ra vào. Ngay sát đầu giường em, bóng người đó dừng lại: đôi mắt rực lửa trừng trừng nhìn em — ả ta chìa cây nến sát vào mặt em, và dập tắt nó ngay trước mắt em. Em nhận thức được rằng khuôn mặt đỏ lựng rực cháy của ả đang trùm lên mặt mình và rồi em mất ý thức: lần thứ hai trong đời — chỉ là lần thứ hai — em ngất lịm đi vì sợ hãi.”
“Ai ở cạnh em khi em tỉnh lại?”
“Không một ai cả thưa anh, ngoài ánh ban mai rực rỡ. Em đứng dậy, vốc nước rửa đầu và mặt, uống một ngụm nước thật dài; cảm thấy rằng dù có suy yếu nhưng mình không hề bị bệnh, và quyết định rằng em sẽ không hé răng kể câu chuyện hoang đường này cho bất kỳ ai ngoài anh. Giờ thì, thưa anh, hãy nói cho em biết người phụ nữ đó là ai và là thứ gì đi?”
“Đó là sản phẩm của một bộ não bị kích thích quá độ; điều đó là chắc chắn. Anh phải cẩn thận với em mới được, báu vật của anh ạ: một hệ thần kinh như của em không sinh ra để chịu đựng những cú sốc mạnh.”
“Thưa anh, xin hãy tin rằng hệ thần kinh của em không có vấn đề gì cả; sự việc đó hoàn toàn có thật: nó đã thực sự diễn ra.”
“Thế còn những giấc mơ trước đó của em, chúng cũng có thật ư? Lâu đài Thornfield là một phế tích sao? Anh bị chia cắt khỏi em bởi những trở ngại không thể vượt qua ư? Anh đang rời bỏ em mà không một giọt nước mắt — không một cái hôn — không một lời từ biệt ư?”
“Chưa ạ.”
“Anh sắp làm thế ư? Tại sao chứ, ngày mới gắn kết chúng ta khăng khít đã bắt đầu rồi kìa; và một khi chúng ta đã hợp làm một, sẽ không bao giờ có chuyện tái diễn những nỗi kinh hoàng tinh thần đó nữa; anh đảm bảo đấy.”
“Những nỗi kinh hoàng tinh thần ư, thưa anh! Ước gì em có thể tin chúng chỉ có thế: bây giờ em còn khao khát điều đó hơn bao giờ hết; bởi vì ngay cả anh cũng không thể giải thích cho em bí ẩn về vị khách đáng sợ đó.”
“Và vì anh không thể làm được điều đó, Jane ạ, nên nó chắc chắn là không có thật.”
“Nhưng thưa anh, khi em tự nhủ với bản thân như vậy lúc thức dậy sáng nay, và khi em nhìn quanh phòng để tìm kiếm sự can đảm và niềm an ủi từ vẻ quen thuộc tươi vui của từng món đồ dưới ánh ban mai rõ mồn một — ngay ở đó — trên thảm nhà — em đã nhìn thấy thứ bác bỏ hoàn toàn giả thuyết của em, — chiếc khăn voan bị xé toạc từ trên xuống dưới thành hai mảnh!”
Tôi cảm thấy Mr. Rochester giật mình run rẩy; anh vội vàng vòng tay ôm siết lấy tôi. “Tạ ơn Chúa!” anh thốt lên, “vì nếu có thứ gì đó độc ác bén mảng đến gần em đêm qua, thì chỉ có chiếc khăn voan là bị tổn hại. Ôi, nghĩ đến những chuyện có thể đã xảy ra kìa!”
Anh thở dốc, ôm chặt tôi đến mức tôi khó lòng thở nổi. Sau vài phút im lặng, anh tiếp tục với giọng vui tươi —
“Nào Janet, anh sẽ giải thích cho em tất cả về chuyện này. Đó nửa là giấc mơ, nửa là hiện thực. Anh không nghi ngờ gì việc có một người phụ nữ đã đột nhập vào phòng em: và người phụ nữ đó chính là — buộc phải là — Grace Poole. Chính em cũng gọi mụ ta là một sinh vật kỳ lạ; dựa trên tất cả những gì em biết, em có lý do để gọi mụ như vậy — mụ đã làm gì anh cơ chứ? làm gì Mason chứ? Trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê, em đã nhận ra sự xuất hiện và hành động của mụ; nhưng vì đang phát sốt, gần như mê sảng, em đã gán cho mụ một ngoại hình quái đản khác với nguyên bản: mái tóc dài bù xù, khuôn mặt đen sưng phồng, vóc dáng phóng đại, tất cả chỉ là sản phẩm của trí tưởng tượng; hậu quả của cơn ác mộng: việc xé chiếc khăn voan đầy hằn học là có thật: và điều đó rất đúng với tính cách của mụ. Anh biết em sẽ thắc mắc tại sao anh lại giữ một người phụ nữ như thế trong nhà: khi chúng ta kết hôn được một năm một ngày, anh sẽ kể cho em nghe; nhưng không phải bây giờ. Em đã thỏa mãn chưa Jane? Em có chấp nhận lời giải thích của anh về bí ẩn này không?”
Tôi suy ngẫm, và thực sự thì đó dường như là lời giải thích khả dĩ duy nhất: thỏa mãn thì tôi không hề, nhưng để làm vừa lòng anh, tôi đã cố gắng tỏ ra như vậy — cảm giác nhẹ nhõm thì tôi chắc chắn có; thế nên tôi đáp lời anh bằng một nụ cười mãn nguyện. Và giờ đây, khi đã qua một giờ sáng, tôi chuẩn bị rời khỏi anh.
“Sophie không ngủ cùng Adèle trong phòng trẻ sao?” anh hỏi khi tôi thắp nến.
“Vâng, thưa anh.”
“Và chiếc giường nhỏ của Adèle vẫn còn đủ chỗ cho em. Đêm nay em phải ngủ chung với con bé đấy Jane ạ: chẳng có gì lạ khi sự việc em vừa kể lại khiến em hoảng hốt, và anh muốn em không phải ngủ một mình: hãy hứa với anh là em sẽ sang phòng trẻ nhé.”
“Em rất sẵn lòng làm vậy ạ.”
“Và hãy khóa chặt cửa từ bên trong. Hãy đánh thức Sophie khi em lên lầu, viện cớ nhờ cô ta gọi em dậy thật sớm vào ngày mai; vì em phải chuẩn bị trang phục và ăn sáng xong trước tám giờ. Giờ thì, không còn những suy nghĩ u ám nào nữa nhé; hãy xua tan đi muộn phiền, Janet. Em có nghe thấy tiếng gió đã dịu thành những lời thì thầm êm đềm thế nào không? Và chẳng còn tiếng mưa đập vào khung cửa sổ nữa: nhìn đây này” (anh vén rèm lên) — “đêm nay thật đáng yêu làm sao!”
Quả thực là vậy. Một nửa bầu trời trong vắt và tinh khôi: những đám mây, giờ đây đang lũ lượt kéo đi trước cơn gió đã chuyển hướng sang tây, đang dịch chuyển về phía đông thành những cột dài lấp lánh ánh bạc. Vầng trán tỏa sáng thanh bình.
“Nào,” Mr. Rochester nói, nhìn sâu vào mắt tôi đầy dò hỏi, “Janet của anh bây giờ thế nào rồi?”
“Đêm nay thật thanh bình, thưa anh; và em cũng vậy.”
“Và đêm nay em sẽ không mơ về sự chia ly và đau thương nữa; mà là về tình yêu hạnh phúc và sự kết hợp viên mãn.”
Dự đoán này chỉ ứng nghiệm một nửa: quả thực tôi không mơ thấy đau thương, nhưng cũng chẳng mơ thấy niềm vui nào cả; bởi vì tôi hoàn toàn không chợp mắt chút nào. Ôm chặt bé Adèle trong vòng tay, tôi dõi theo giấc ngủ của tuổi thơ — thật thanh thản, không chút vẩn đục sân si, thật ngây thơ — và ngóng chờ ngày mới đến: toàn bộ cơ thể tôi đều tỉnh táo và bừng bừng sức sống; và ngay khi mặt trời mọc, tôi cũng đứng dậy. Tôi nhớ Adèle đã níu chặt lấy tôi khi tôi rời đi; tôi nhớ mình đã hôn con bé khi gỡ những ngón tay nhỏ xíu ra khỏi cổ mình; và tôi đã khóc nghẹn ngào vì xúc động, rồi rời đi vì sợ tiếng nấc của mình sẽ làm gián đoạn giấc ngủ say của con bé. Con bé dường như là biểu tượng cho cuộc đời quá khứ của tôi; còn anh, người mà tôi sắp sửa trang hoàng bản thân để gặp mặt, chính là hiện thân đầy e sợ nhưng được tôn sùng cho tương lai vô định của tôi ngày mai.