Tối hôm đó, thầy Pierre Arétin trở về dinh thự vào lúc tám giờ, thật cáu kỉnh.
Thật vậy, được mời dự một bữa ăn tối tiếp theo là một cuộc lễ, Arétin đã đi đúng giờ đến dinh thự người đãi tiệc.
Nhất là ăn ngon, Thầy Pierre không vắng mặt bao giờ.
Ông quý chuộng những bữa ăn thân mật đó. Trước hết ông ăn uống thịnh soạn mà không phải tốn tiền; kế đó là vì trong những cuộc lễ đó, ông có dịp làm quen với một vị Mạnh Thường Quân và ông có một số tiền bằng cách ông viết tặng một bài thơ, hoặc ông viết tiểu sử cho một nhà quý tộc nào đó thích hư vinh.
Đối với những tiểu sử đó, Arétin đã thiết lập một giá biểu được ông áp dụng kỹ lưỡng, như là một thương gia lương thiện.
Hình dung từ nào đáng giá một ê-quy, lời tán dương nào đáng giá mười ê-quy. “Danh tiếng” phải trả ba ê-quy. “Tuyệt diệu” phải trả bốn ê-quy. “Tao nhã như mặt trời” được đánh giá sáu ê-quy.
Cần phải kiếm sống cho cuộc đời khốn khổ.
Cho nên, tối hôm đó, thầy Pierre được mời ăn tối, đã tìm thấy dinh thự của người đãi tiệc đóng cửa. Người ta thông báo với ông rằng cuộc lễ và bữa ăn tối được dời lại về sau.
Thành ra ông đi về dinh thật cáu kỉnh, và những nàng Arétines phải chịu đựng những lời chửi rủa, chỉ trừ ra Perina, kể từ cái cảnh ở Mestre, nàng được ông tỏ ra âu yếm lạ lùng.
– Quỷ quái gì đang xảy ra ở Venise? Thầy Pierre Arétin làu bàu vừa ăn xong bữa ăn tối một mình. Người ta chỉ thấy có những gương mặt lo sợ, những vẻ mặt dài một thước, ánh mắt mập mờ, nhưng kẻ nói chuyện thì thầm. Nếu việc đó tiếp tục, ta sẽ thôi không làm đẹp cho Venise với sự hiện diện của ta, và ta sẽ bỏ đi. Nào hãy xem... Ta có thể đi đến nơi nào?... Đến Rome? Quỷ ơi! Viên Hồng y Rospoli đã cho đánh đòn ta... Đến Paris? Francois nước Pháp khá hung bạo để cho treo cổ ta... Ta sẽ suy nghĩ đến sự việc... Nhưng có điều chắc chắn rằng Venise trở thành không chịu nổi.
Đến đây, Arétin đi về phòng ngủ của mình, cho đốt lò lửa, cho sưởi ấm chiếc giường, và cuối cùng lên giường nằm ngủ. Chẳng bao lâu ông mơ rằng ông đi đến Paris và rằng hoàng đế Francois đến đón đầu ông van xin ông chấp nhận một chiếc tủ đựng đầy vàng.
– Đức ông! Đức ông! Giọng nói của một tên gia nhân gọi bên ông.
Thật vậy, Arétin bắt bọn gia nhân xưng hô ông là Đức ông hoặc ít nhất cũng là Ngài.
Ông giật mình thức giấc.
– Có việc gì? Lửa cháy dinh thự hả?
– Không, thưa đức ông, ở dưới cửa sổ của chúng ta, về phía con đường phố nhỏ, một người đàn ông đang rên rỉ hấp hối.
– Xỏ lá! Đểu giả! Việc đó có liên quan gì đến ta?... Mi đánh thức ta chỉ vì một gã say rượu khóc lóc dưới cửa sổ ta!
– Xin tha lỗi, thưa đức ông, đó không phải là một gã say rượu. Đó là một người đàn ông quý phái, bị tử thương, và yêu cầu được nói chuyện với ngài.
– Thế mi đã có đi ra xem?
– Vâng, thưa đức ông. Nghe những tiếng rên rỉ trong con đường phố nhỏ, hồi lúc nãy chúng tôi đã võ trang dao găm và cầm đèn ra xem... Một người đàn ông đang nằm dài ở đó và mất máu do bị một vết thương ghê gớm. Ông ta thấy chúng tôi. Chúng tôi hỏi ông ta xem chúng tôi có thể giúp đỡ gì được không. Và ông ta hỏi có phải dinh thự này là của Pierre Arétin. Được chúng tôi trả lời xác nhận, ông van xin chúng tôi chở ông đến gần bên ngài.
– Người đàn ông đó là ai? Ông ta tên gì?
– Chúng tôi không biết, thưa đức ông.
– Gã bị thương hãy cút đi theo quỷ! Cầu cho chứng hoại thư làm ngạt thở cái gã hấp hối còn tìm cách làm rộn người trước khi chết. Này! Bởi tất cả lũ quỷ, người ta không được ngủ yên mà không bị tất cả những gã gần chết ở Venise đến kéo chân mình!
Nói xong, Arétin ra lệnh cho đi tìm kẻ bị thương và chở ông ta vào trong dinh thự với tất cả sự thận trọng mà tình trạng ông ta đòi hỏi.
– Đó là những việc mà chúng tôi đã làm rồi, tên gia nhân nói.
– Và mi đã để ông ta ở đâu, tên lưu manh quá đỗi! Bộ mi nghĩ rằng nhà của ta là một bệnh viện chăng?
– Thưa đức ông, chúng tôi đã để ông ta ở gian phòng bên dưới, nơi có một chiếc giường tốt. Và tôi đã sai đi tìm một y sĩ giải phẫu.
– Tốt lắm! Hãy đi đi!...
Tên gia nhân biến mất. Arétin nhảy xuống giường và lẹ làng mặc quần áo, vừa tiếp tục càu nhàu giữa hai hàm răng.
– Chẳng biết ý nghĩ quỷ quái nào mà những kẻ sắp chết lại đến ở nhà ta! Ta nổi khùng lên để thấy ngôi nhà ta trở thành một nơi nương náu cho những kẻ hấp hối... Và tuy nhiên, phải là một người Turc mới không mở hé cánh cửa cho những ai than khóc!... Nào ta hãy đi đến xem!...
Ông vội đi xuống gian phòng bên dưới, nơi đặt người lạ bị thương nằm trên một chiếc giường.
Người hấp hối vừa bất tỉnh.
Arétin bước đến gần và nhận ra ông ngay.
– Dandolo! Ông lẩm bẩm. Dandolo đã được ta bán cho tấm chân dung của Roland Candiano!
Hai cái tên đó phối hợp một sự liên tưởng, Pierre Arétin giật mình.
– Hừ! Ông nói. Ta thấy hình như kẻ đã tặng cho nhát dao ghê gớm này có thể được gọi...
Vào lúc đó, người bị thương mở mắt ra và ánh mắt của ông nhìn sững lên Arétin.
– Can đảm, thưa ngài, nhà thi sĩ nói, hãy can đảm! Một y sĩ giải phẫu sắp đến... Ngài sẽ được cứu sống...Dù tôi có bị rủi ro gây ra nhiều phiền toái...
Người bị thương ra dấu.
Arétin cúi xuống.
– Ngài muốn gì?... Ngài có thể nói được không?...
– Người y sĩ giải phẫu! Dandolo cố gắng nói.
– Ông ta sắp đến... Ông ta sẽ cứu sống ngài... Hãy can đảm!...
– Không!... Ta sắp chết...
Arétin sắp nhắc lại những lời khuyến khích bỗng cánh cửa mở ra, người y sĩ giải phẫu đi vào.
Ông liền bước đến cạnh người bị thương, và thấy cây dao găm còn cắm ở trong vết thương. Ông quan sát vị trí mà không sờ đến cây dao và ông đứng lên.
Dandolo nhìn sững ông với một ánh mắt bình tĩnh và tuyệt vọng.
– Ta biết... Rằng ta bị nguy cơ... Ông lẩm bẩm. Chỉ cho ta biết chừng nào... Ta phải chết...
– Xin ngài hãy tin tưởng, viên y sĩ giải phẫu nói mơ hồ.
– Hãy nói đi... Ta muốn biết... Ta không e ngại...Cái chết!...
– Người muốn biết?...
– Thật là cần thiết!!
– Vậy thì! Viên y sĩ giải phẫu nói... Đến lúc người ta rút cây dao ra khỏi vết thương, có thể lúc bấy giờ ngài mới phải e ngại... nhưng cũng không chắc lắm...Xin hãy lấy can đảm!.
– Ta đã hiểu, Dandolo nói. Ông có thể cho ta một thứ thuốc bổ... Để giúp... Cho ta nói được.
– Dễ dàng, viên y sĩ giải phẫu vội vàng nói.
Và ông lật đật lục trong một cái hộp đem theo, lấy ra một chai nhỏ và rót hết vào trong miệng của Dandolo.
Một ít bọt máu nổi lên trên miệng vết thương, xung quanh lưỡi dao bị cắm sâu; nhưng đồng thời hai gò má tái mét của người bị thương lấy lại một ít sắc hồng.
– Ta cảm thấy đỡ, ông nói... Cám ơn... Ông có thể đi ra... Ta không quên những gì ông đã nói với ta...
Arétin đưa vị y sĩ giải phẫu ra đến gian tiền sảnh.
– Ông nghĩ thế nào? Ông hỏi.
– Người đàn ông này sẽ chết trong một giờ đồng hồ; ông ta sẽ chết ngay nếu như người ta lấy cây dao ra...
– Không có gì có thể cứu sống ông ta?
– Không có gì cả.
Arétin có một cái nhăn nhó thương xót và vội vàng trở lại bên cạnh kẻ bị thương.
– Tất cả đều tốt đẹp, ông nói, viên y sĩ giải phẫu cho biết có nhiều hy vọng...
– Không có liên quan đến việc đó, Dandolo nói với một sự cương quyết trong giọng nói. Hãy trả lời cho ta mau và thành thật. Trong nửa giờ đồng hồ có lẽ sẽ quá trễ...
– Ngài hãy nói đi và xin an lòng về sự thành thật của tôi. Tôi không muốn nói láo với...
– Với một người sắp chết... Tốt... Ngày hôm nọ ông nói với ta rằng Roland Candiano ở trong số bạn hữu của ông?
– Nghĩa là... Ngài hãy nghe tôi nói... Có lẽ tôi hơi có khoe khoang.
Đôi mắt của Dandolo đầy thất vọng.
– Vậy thì, ông nói, ông không thể trao cho ông ta một bức thơ bí mật... Ta không thể giao phó cho ông một việc có quan hệ trực tiếp đến ông ta sao?
– Xin lỗi! Pierre vội vàng nói. Trái lại, những việc đó, tôi hơn cả mọi người, có thể giúp đỡ ngài. Tôi có thể gặp Candiano. Ông ta đi đến đây. Tôi có thể nghe tất cả về ông ta. Bởi vì tôi còn hơn là người bạn của ông ta... Tôi là kẻ chịu ơn của ông ta.
– Vậy thì, ông có thể trao cho ông ta một bức thơ?
– Tôi xin đảm nhận.
– Và bức thơ đó, ông bằng lòng viết theo lời ta đọc?
– Rất sẵn lòng.
– Và ông thề với ta rằng sau đó sẽ quên những gì ông đã viết?
– Tôi xin thề với tất cả tấm lòng tôi. Xin ngài đừng có ngại ngùng gì trên tất cả mọi điểm. Ít ra tôi có thể bảo đảm với ngài rằng tôi tận tụy với ông ta. Tôi biết một ít công việc của ông ta, và tôi còn có tham dự, nếu như tôi dám nói... Hãy đọc đi, ngài lãnh chúa thân mến, hãy đọc đi đừng lo ngại... Và cuối cùng, để xóa tan nơi ngài sự băn khoăn lo lắng, ngài chỉ nên đọc những gì cần thiết, tôi đảm nhận viết lại sau đó bức thư của ngài với những sự vẽ vời nên thơ cần thiết... Tôi có thói quen làm những công việc đó, Arétin nói thêm không thiếu vẻ tự hào.
Đồng thời, ông kéo một chiếc bàn lại gần bên giường, đặt lên một nghiên mực và giấy, rồi ông ngồi xuống cầm lấy cây bút lông.
Dandolo theo dõi sự chuẩn bị đó với nỗi lo sợ và nóng nảy ghê gớm.
– Hãy viết, ông nói.
Rồi ông đọc:
“Roland,
“Ta sắp chết. Bị trúng tử thương, không gì có thể cứu sống ta. Cho nên đây là lời nói từ bên kia cõi chết gởi đến ngài. Xin ngài hãy xem nó như là một sự thật thiêng liêng.
“Roland, ta đã hèn nhát. Sự yếu đuối đã làm cho ta phạm phải một tội ác.
“Từ cái tội ác đó, ngài đã chịu đau khổ. ”Và nếu chỉ liên quan đến ngài, có lẽ ta sẽ tự an ủi...
“Bởi vì ta không thể quên rằng thân phụ của ngài, ngài thủ tướng, đã để cho ta, ta là con trai của dòng họ Dandolo, sống trong cảnh nghèo khổ, riêng biệt khỏi Chánh phủ nước Cộng hòa...
“Nhưng vì ở trên đời còn có một người cũng đang đau khổ, có lẽ còn hơn cả ngài.
“Đó là con gái của ta. Nó đau khổ một cách oan ức.
“Nó bị trừng phạt về một cái lỗi mà nó không phạm phải. Đây là những sự kiện chính xác, Roland, chính xác, ta thề trên dòng máu của ta đang chảy, ta thề trên cái chết...
Dandolo ngừng lại một lúc, thở rất khó khăn.
– Ngài có nghĩ, Arétin nói, rằng tất cả việc đó có hơi khô khan và dồn dập không, và tôi cần phải trau dồi sự trống trải của những câu đó bằng vài hình dung từ văn hoa không?... Nghệ thuật, thưa ngài, nghệ thuật!...Nghệ thuật có những quyền hạn bất khả xâm phạm...Và những quyền hạn đó lan rộng đến văn chương, thưa ngài...
Kẻ hay chữ rởm tốt bụng khoa khoa cây bút lông.
– Ta van xin ông đừng thay đổi một chữ nào trong đó. Thưa ông, ông có phải là người có danh dự không?
– Quả vậy, nhưng mà nghệ thuật... Chà! Nghệ thuật!... Cuối cùng. Tôi xin hứa với ngài là tôn trọng những lời văn đó, mặc dù tôi thấy nó khô khan và nghèo nàn...
Dandolo ra hiệu cám ơn và đọc tiếp:
“Con gái ta, Roland, xứng đáng với ngài. Trái tim cao thượng của nó, thừa kế tương lai những đức tính của tổ tiên chúng tôi, đã chấp nhận một sự hy sinh ghê gớm... Ngài hãy lắng nghe...
“Lúc ấy ngài ở trong các gian ngục tối.
“Altieri hăm dọa ta về sự phá sản hoàn toàn, về cái chết của những kẻ bị tình nghi nếu như ta không vâng lời ông ta.
“Ta đã hèn nhát... Ta vâng lời.
“Theo lịnh của ông ta, ta nói với Léonore rằng ngài đã tẩu thoát, bằng cách bỏ rơi nó, bằng cách từ bỏ tình yêu của nó.” Sau đó, ta nói với nó rằng ngài đã chết.
“Cuối cùng, ta bảo nó rằng chỉ có cuộc hôn nhân của nó với Altieri mới có thể cứu sống ta, ta, thân phụ của nó...
“Léonore bằng lòng mang cái tên của Altieri.
“Nó bằng lòng nhận sự hy sinh ghê gớm, việc đó đã làm tan nát trái tim của nó...
“Nhưng bây giờ, ngài hãy lắng nghe...
“Nó chỉ bằng lòng có việc đó!...
“Ngài hiểu rõ ta không, Roland?... Ngài có nghe ta không?... Ngài có tin trong lời nói của kẻ ở bên kia cõi chết đưa về cho ngài?...
“Léonore mang cái tên của Altieri...
“Và không bao giờ Léonore là người vợ của Altieri...
“Tưởng rằng ngài chết, nó đã hiến dâng cho ngài cái tang vĩnh viễn của những người góa phụ thời thượng cổ vẫn giữ trung trinh tiết liệt với người chồng, ở bên kia phần mộ...
“Và đến lúc nó được biết rằng ngài còn sống, thì sự trung trinh của con tim dịu dàng nhất, của tâm hồn tinh khiết nhất, vẫn giữ trọn tình yêu với ngài...
“Đó là những gì ta muốn tỏ với ngài...
“Ta chết... Ta không tỏ cho ngài rõ cái cuộc sống địa ngục mà Léonore đã chấp nhận sống ở bên cạnh Altieri để giữ tròn trinh tiết với ngài.
“Tiết liệt! Trung thành! Chung thủy! Tất cả cuộc đời tươi trẻ của Léonore chỉ biểu hiện trong những từ đó.
“Các người có được sum họp một ngày kia không?...Ta không biết...
“Ta không tin việc đó... Ta thấy những biến cố đang được chuẩn bị dường như là một điều đau đớn báo trước cho con gái ta.
“Nên ta tin rằng các người bị chia ly mãi mãi...
“Nhưng mà; dù ở xa, Roland, ngài đừng có một ý tưởng xấu xa nào về đứa trẻ đó... Hãy tôn kính nó... Hãy khen ngợi nó... Một kẻ bị hy sinh... Đó là một nạn nhân... Nạn nhân bởi lòng chung thủy của nó và sự hèn nhát của ta...
“Vĩnh biệt, Roland... Vĩnh biệt, Léonore... Vĩnh biệt, các người mà thuở xưa được người ta gọi là Đôi tình nhân thành Venise...
“Ta chết...
– Hãy đưa cho ta cây bút lông, Dandolo nói với một giọng cương quyết...
Arétin đặt tờ giấy trước mặt kẻ bị thương, và để cây bút lông vào trong bàn tay ông.
Dandolo ký tên.
Rồi, với một cử chỉ chậm chạp, thỏa mãn, dường như lời xưng tội cuối cùng đã hoàn trả lại cho ông sự yên tĩnh của tâm hồn mà ông đã tìm kiếm từ lâu, ông tự rút cây dao găm ra khỏi vết thương, và giây phút sau, ông tắt thở...
Arétin không thấy gì cả từ sự kết thúc cực kỳ đau đớn xót xa trong sự giản dị lặng lẽ và bi thảm.
Cũng như tấn hài kịch luôn luôn đi sát tấn thảm kịch trong đời, cũng như một vị thần linh cắc cớ dường như đã quyết định rằng chính cái chết phải luôn luôn tập họp quanh mình những cử chỉ buồn cười, Arétin đã cầm lấy bức thơ mà ông vừa mới viết, sau khi Dandolo vừa ký xong.
Không cần để ý đến kẻ bị thương nữa, ông bắt đầu đọc lại nho nhỏ, vừa đi đến gần cây đèn sáp để ở trên bàn. Với nhiều cái nhăn mặt phản đối, ông lầm bầm trong miệng những lời liên tiếp. Rồi ông tiếp tục đọc bức thơ đã bị gián đoạn. Cuối cùng, ông nhún vai và lẩm bẩm:
– Cuối cùng, người ta không thể đòi hỏi người đàn ông đó những gì như là một người nghệ sĩ... Thí dụ như ở nơi ta. Ông ta không hiểu nghệ thuật, kẻ khốn nạn.
Ông nói “Nghệ thuật” vừa để một dấu mũ lên chữ A (ART), vừa đưa mắt lên trời, với điệu bộ của một giáo sĩ đang dâng hiến bánh thánh.
Trong lòng, ông không tin chút nào.
Nhưng mà ông ta đã tạo ra cái thói quen cố hữu đó một lần dứt khoát, để cho người ta nghe mãi ông nhắc đến cái nghệ thuật lớn, người ta có thể ca ngợi ở xung quanh ông:
– Nghệ sĩ tài danh biết bao!...
Về việc đó, ông không có lầm lẫn: quả thật người ta nói như thế!
Và việc đó thật là gớm ghiếc, kỳ dị, người đàn ông đó bị xâm chiếm bởi sự lo lắng làm “trò hề”, trong khi người đàn ông kia đang hấp hối...
Sau khi nói xong những lời chỉ trích, những sự nhận xét, những lời chê bai và những cái nhún vai, Arétin quay sang Dandolo và nói, tin chắc rằng kẻ bị thương đã theo dõi tất cả bộ điệu đó với lòng thán phục:
– Thưa ngài, tôi đã thề với ngài rằng sẽ tôn trọng nguyên văn của ngài; tôi sẽ làm như thế, nhưng mà thật sự... Này, này, ông ta đã chết...
Với một sự khủng khiếp và với một lòng trắc ẩn còn thành thật hơn cả ông muốn – bởi vì việc đó vẫn còn là thành phần của nghệ thuật lớn, và không để cho xúc động bởi những quang cảnh tầm thường và ghê gớm – ông ngắm nhìn cái thây.
Dandolo vẫn còn cầm trong bàn tay co rúm của ông cây dao găm mà ông vừa rút ra từ vết thương.
Nét mặt của ông, đã bị dày vò quá nhiều trong lúc ông còn sống, đã trở nên thanh thản khi được an nghỉ.
Và cái gì đó như là một nụ cười nở trên đôi môi ông. Đã nạp xong cống lễ cho cơn mơ mộng đặc biệt xâm chiếm tâm trí của mọi người sống đúng trước cái chết, Arétin bực bội lẩm bẩm:
– Ta lại có thêm một cái thi thể trên tay!... Ta sẽ phải làm gì đến nó?... Miễn là ta đừng có bị buộc phải làm lại chuyến hành trình mà ta đã làm với nàng Bianca đáng thương!... Đối với một ngàn ê-quy, có lẽ ta sẽ làm lại... Nhưng không ít hơn!... Ta vẫn còn run khi ta nghĩ đến! Cái đêm trải qua để ghim những cây đinh đen lên trên nắp một chiếc quan tài để vẽ một hàng chữ... May mắn thay, Perina đã giúp đỡ ta... Con bé Perina trung hậu!... Này này, chúng ta xem người quá cố có mang trên mình ông ta một lời căn dặn cuối cùng nào không...
Ông bước đến gần, mở chiếc áo chẽn, và ở cái túi bên trong quả thật ông tìm ra một tờ giấy và lẹ làng mở ra.
Tờ giấy chứa đựng những hàng chữ nầy:
“Ta, Dandolo, ngày hôm nay ta làm một chuyến hành trình ra khỏi Venise.
“Ta biết rằng ta có rất nhiều kẻ địch hung hăng.
“Cho nên có thể có một sự bất hạnh xảy đến ở dọc đường.
“Nếu như việc đó xảy ra, nếu như ta bị giết chết, nhân danh những tình cảm nhân đạo thiêng liêng nhất, ta cầu xin kẻ nào sẽ tìm gặp thi thể của ta hãy làm đúng theo lời trăn trối cuối cùng của ta là:
“1– Rằng cái chết của ta được thông báo đến con gái ta là Léonore đang ở Venise tại dinh thự người chồng của nó, đại úy thống lĩnh Altieri.
“2– Rằng thi thể của ta được đưa về Venise và đặt trong lăng mộ dòng họ Dandolo, tổ tiên ta với sự trang trọng.
“3– Rằng người ta đi đến Milan, đường Degli Bastori, trong ngôi nhà áp chót bên tay trái khi đi về hướng Campo Santo[1] của thành phố. Người ta sẽ đi xuống những hầm rượu. Người ta sẽ đào trong góc hướng Bắc của cái hầm chót, và người ta sẽ tìm thấy một cái rương đựng...
– Hả! Arétin gầm lên. Ta đọc không rõ! Ta bị lóa mắt! Nào chúng ta hãy xem, chúng ta hãy xem... Chúng ta nên bình tĩnh...
Ông đi lại gần cây đèn sáp.
Tờ giấy run rẩy trong hai bàn tay ông.
Ông đưa tay lên dụi mắt, rồi bấy giờ, đọc tiếp:
“–... một cái rương đựng năm chục ngàn đồng ê-quy sáu liu (năm chục ngàn ê-quy! Phải, phải, viết như vậy!)...Mười ngàn duy ca vàng... (Ôi! Ta trở thành điên cuồng!) Và cuối cùng là những đá quý và những nữ trang trị giá độ hai mươi lăm ngàn ê-quy...
Arétin suýt chết ngất và thốt ra một tiếng kêu lớn.
Bọn gia nhân chạy đến. Ông nhảy dựng, giận dữ.
– Bọn bây muốn gì, lũ say rượu, trộm cắp, lưu manh?
Có một cuộc chạy tán loạn của bọn gia nhân.
Arétin đóng cẩn thận cánh cửa, và trở lại ngồi gần bên cái tử thi mà gương mặt đã bất động với một nụ cười buồn bã.
– Ôi! Ông nói với một giọng âm vang, ta đã đọc rõ!
Ta đọc rõ! Ta không có nằm mơ. Người ta quả có đưa Dandolo bị thương đến đây! Ông ta quả đã chết thật dưới đôi mắt ta! Quả chính là ta đã mở nút của chiếc áo chẽn! Và đúng là một bức thơ, một tờ giấy mà ta đang cầm trong tay! Một gia tài!... Nguyên một cái gia tài! Không còn làm thơ nữa! Không còn nghệ thuật! Không còn những lời tán dương! Đời sống được bảo đảm, rộng rãi và đế vương!... Ôi! Chúng ta hãy xem lại... Chúng ta hãy đọc lại... Chúng ta đừng để lầm lẫn... Đúng là có hai mươi lăm ngàn ê-quy nữ trang... Mười ngàn duy ca vàng... Năm mươi ngàn đồng ê-quy sáu liu... Và tất cả đúng là ở Milan... Đường Degli Bastori, ngôi nhà áp chót bên tay trái... Khi đi về hướng Campo Santo!... Do cái bụng của mẹ ta, chết vì khốn khổ trong bệnh viện Arezo!... Bởi những nhũ hoa của Margherita!...Bởi cái đầu và máu của Chúa!... Giàu có! Ta thành giàu có!... Những quý tộc, những vị Hồng y, những thi sĩ, những nghệ sĩ, tất cả, tất cả, hãy chào Pierre Arétin vừa cuối cùng tìm ra cái kiệt tác đã được mọi người luôn luôn tôn sùng, mà mọi người sẽ tôn sùng mãi trong những thế kỷ của những thế kỷ... giàu sang!...
Ông bắt đầu đi bằng những bước lớn, và co quắp tờ giấy trong bàn tay, lẩm bẩm sôi nổi:
– Ta sẽ cưới Perina làm vợ, và từ yếu tố đó Roland Candiano có hứa cho ta ba chục ngàn đồng duy ca ba liu... Ta có khoảng mười tám ngàn ê-quy trong những chiếc tủ của ta... Chúng ta hãy tính kỹ... Tổng cộng, kia là ta làm chủ gần tám trăm ngàn đồng liu... Ta rút lui khỏi công việc thương mãi của ta... Ta sống như một đại lãnh chúa, lúc ở Venise, lúc ở Milan hoặc là ở Florence, lúc ở Parme hoặc là ở Modène, nhưng không ở Rome... Giáo hoàng sẽ cho ám sát ta để thừa hưởng của cải của ta... Và đến lượt ta, ta trả tiền cho những thi sĩ, những gã Arétins đáng thương để ca tụng sự vinh quang của ta, sự huy hoàng, sự đức hạnh, lòng can đảm, thiên tài của ta, tất cả những gì ta muốn! Chà!...
Khi bình tĩnh lại, ông mở tờ giấy đã bị ông làm nhàu nát ra.
– Chúng ta hãy xem còn có việc nào khác không, ông lẩm bẩm.
Bỗng nhiên, ông xanh mặt và ấp úng:
– Quỷ thật! Quỷ thật!
Và ông nói thêm:
– Nếu như ta không đọc đoạn chót?... Nào hãy xem! Ai bắt buộc ta đọc đoạn chót?... Tờ giấy này không thể bị rơi vào lửa đúng vào lúc ta sắp đọc đoạn chót sao?...Quỷ quái chưa! Không, không, ta không có đọc, ta không muốn đọc đoạn chót!...
Bất hạnh thay, ông đã đọc kỹ, lần này!
Và dù cho ông có nhắm mắt, nó vẫn chói sáng rực trong tâm trí của ông.
Đây là đoạn cuối nói như sau:
“... Rằng nếu tờ giấy này rơi vào trong tay một nhà quý tộc, một nhà thi sĩ, một nghệ sĩ, cuối cùng trong tay một người đàn ông chân thành, ta sẽ không làm một điều sỉ nhục để dâng hiến cho ông ta một sự báo đáp...
“Rằng nếu như tử thi của ta được một tên trộm cắp tìm gặp, ta quả quyết tin rằng ông ta sẽ kính trọng những ý chí cuối cùng của người người chết, và rằng ông ta sẽ bằng lòng bốn ngàn ê-quy về phần của mình...
“Rằng nếu như cuối cùng, thi thể của ta được một người nghèo khó tìm ra, ta cho phép ông ta rút ra trong những số tiền kể trên năm trăm đồng đuy ca vàng để đền đáp công khó nhọc của ông ta...
“Dù là người đàn ông nào sẽ đọc những hàng chữ này, ý chí cuối cùng của một người chết, ta cầu khẩn ông ta sẽ chia làm hai phần bằng nhau trong căn nhà gỗ mà ông ta sẽ tìm thấy trong chiếc rương ở Milan.
“Một cho Roland Candiano mà người ta sẽ tìm thấy lại ở Venise, hoặc là ở những khe núi La Piave, không xa ngôi làng Nervesa.
“Phần kia cho con gái ta Léonore, phu nhân của Altieri, đại úy thống lĩnh ở Venise.
“Và ta ký tên..."
Theo sau chữ ký gần bên Dandolo đã ấn con dấu của ông và ông ghi thêm chức vụ cựu Đại Pháp quan của nước Cộng hòa.
Arétin ném một ánh mắt trách móc khó tả lên trên thi hài.
– Tại sao cho ta nỗi vui mừng đó! Ông lẩm bẩm.
Và ông tiếp tục cuộc đi dạo, nhưng lần này bước đi chầm chậm và đôi mắt ngó xuống đất.
– Nào hãy xem, ông suy nghĩ, ta không thể xem ta hợp lệ như là một tên trộm cắp, cho nên cái phần bốn ngàn ê-quy không phải để cho ta... Ta buộc phải thú nhận rằng ta thuộc vào hạng những nhà thi sĩ, nghĩa là những kẻ mà người ta không thể làm sỉ nhục để dâng hiến cho một sự báo đáp...
Ông cay đắng nói thêm:
– Điều sỉ nhục! Điều sỉ nhục! Ta sẽ chấp nhận nó, ta, điều sỉ nhục!
Và bỗng nhiên, ông tự vỗ vào trán:
– Nhưng mà phải! Ta rất có thể đặt mình vào trong loại những người nghèo!... Ta là người nghèo! Có ai nghèo hơn ta?... Nào hãy xem... Chúng ta hãy đọc lại... Ông ta để lại bao nhiêu cho kẻ nghèo?... Ta tin rằng, là hai ngàn đồng đuy ca vàng?... Không,... Không, than ôi! Đó là năm trăm đuy ca... Nếu như được là những đồng đuy ca đôi!... Arétin, tội nghiệp Arétin nghèo biết bao nhiêu! Mi phải bằng lòng với số năm trăm đuy ca... Một số tiền lớn thật! Với cái giá đó, ta rất muốn mỗi ngày trời mưa những thi thể xuống nhà ta!...
Được an ủi phần nào, Arétin đi ra khỏi phòng người chết, sau khi đã xếp cẩn thận và giấu vào trong áo chẽn của ông hai tờ giấy.
Bây giờ, ông trở về phòng, lớn tiếng kêu gọi các nàng Arétines và vừa than van, cho sắc nước thuốc, và vì Perina hỏi thăm bịnh ông thế nào...
– Một chứng bịnh lớn, ông đáp lại. Ta suýt trở nên giàu có!...
Uống xong chén thuốc an thần, thầy Arétin đuổi hết mọi người ra, không quên thốt lên nhiều tiếng rên rỉ, và một khi đã vào giường nằm, ông tổng kết việc ông cần phải làm. Trước hết báo cho phu nhân Altieri biết về sự bất hạnh đang giáng xuống nàng.
Kế đó, lo lắng việc tang ma cho Dandolo, nếu như viên đại úy thống lĩnh để cho ông sự chăm lo đó.
Rồi ông sẽ đi đến Milan và đem về chiếc rương quý báu và chỉ lấy ra, than ôi! Có năm trăm đồng đuy ca đáng thương... Một gia tài nho nhỏ.
Và cuối cùng, ông sẽ trao lại cho Roland bức thư do Dandolo đọc cho viết.
Chúng tôi dường như không phải dùng một lời vô ích nào để bổ sung thêm một điều suy nghĩ mà chắc chắn quý độc giả cũng đã có suy nghĩ.
Không một lúc nào Arétin nghĩ đến việc giữ lại cho mình trọn cả gia tài của Dandolo, dù là một ý nghĩ thoáng qua. Ông chấp nhận tuân theo những nguyện vọng của người chết.
Việc đó đáng khen ngợi!
Sự sợ hãi những người chết, sự suy nghĩ rằng họ sẽ trở về báo oán những người sống chắc chắn đã ảnh hưởng nhiều trong tính liêm khiết của thầy Arétin.
Đó là những gì ông phát biểu vào lúc nằm ngủ vừa lẩm bẩm:
– Quỷ ơi! Ta sẽ tuân theo ông ta từng điểm một...Ta không muốn cho ông ta về kéo hai chân ta.
❀ ❀ ❀
[1] Campo Santo, tiếng Ý có nghĩa là Đất thánh, nơi chôn xác.