Cái chết của Jean Clemens xảy ra vào sáng sớm ngày 24 tháng 12 năm 1909. Khi tôi mới gặp lại ông Clemens, tâm trí ông đang bấn loạn tột cùng, nhưng chỉ vài giờ sau, tôi đã thấy ông ngồi viết liên tục không ngừng tay.
“Tôi đang ghi chép lại toàn bộ,” ông nói, “tất cả mọi chuyện. Viết ra giúp tôi vơi bớt nỗi lòng. Nó cho tôi một lý do để tiếp tục suy nghĩ.” Trong suốt ngày hôm đó và ngày tiếp theo, thỉnh thoảng tôi lại ghé qua và hầu như lúc nào cũng thấy ông đang viết. Đến tối ngày 26, khi biết Jean đã được an táng tại Elmira, ông bước vào phòng tôi, tay cầm bản thảo.
“Tôi đã hoàn thành rồi,” ông bảo; “cậu đọc đi. Bàn thân tôi chẳng thể tự đánh giá được nó nữa. Nếu cậu thấy nó xứng đáng, thì một ngày nào đó—vào thời điểm thích hợp—nó có thể khép lại cuốn tự truyện của tôi. Đây là chương cuối cùng.”
Bốn tháng sau—gần như đúng vào ngày này—(ngày 21 tháng 4), ông đã đến bên Jean.
Albert Bigelow Paine.
Stormfield, Đêm Giáng sinh, 11 giờ sáng, năm 1909.
JEAN ĐÃ CHẾT!
Đã có ai từng thử viết ra giấy tất cả những sự việc nhỏ nhặt liên quan đến một người thân yêu—những chuyện xảy ra trong suốt hai mươi tư giờ trước cái chết đột ngột và bất ngờ của người ấy chưa? Liệu một cuốn sách có chứa hết được không? Hai cuốn sách liệu có đủ không? Tôi nghĩ là không. Chúng cuồn cuộn tràn về trong tâm trí như một dòng lũ. Đó là những điều nhỏ nhặt vẫn xảy ra hằng ngày, trước đây vốn chẳng quan trọng và dễ dàng chìm vào quên lãng—nhưng giờ đây! Giờ đây, chúng khác biệt biết bao! Chúng quý giá, thân thương, đáng nhớ, xót xa, thiêng liêng và mang phẩm giá cao quý biết chừng nào!
Tối qua, Jean rạng rỡ sức sống trẻ trung, và tôi cũng vậy nhờ khoảng thời gian nghỉ dưỡng bổ ích ở Bermuda, hai cha con cùng nắm tay nhau bước ra từ phòng ăn, ngồi xuống thư viện trò chuyện, lên kế hoạch, bàn bạc một cách vui vẻ và hạnh phúc (và ngây thơ làm sao!)—cho đến tận chín giờ—giờ giấc ấy là muộn đối với chúng tôi—rồi cả hai lên tầng, chú chó người Đức thân thiện của Jean bước theo sau. Tại cửa phòng tôi, Jean nói: “Con không thể hôn chúc bố ngủ ngon được: con bị cảm, bố sẽ bị lây mất.” Tôi cúi xuống hôn lên tay con. Con đã xúc động—tôi nhìn thấy điều đó trong mắt con—và rồi theo bản năng, con quay lại hôn lên tay tôi. Thế rồi với lời chúc thường lệ đầy vui vẻ “Chúc bố/con ngủ ngon nhé!”, chúng tôi chia tay nhau.
Vào lúc bảy giờ rưỡi sáng nay, tôi tỉnh dậy và nghe thấy tiếng người bên ngoài cửa phòng. Tôi tự giục lòng: “Chắc Jean lại đang cưỡi ngựa ra ga lấy thư như mọi khi.” Thế rồi Katy[1] bước vào, đứng bên giường tôi run rẩy, hổn hển một lúc rồi mới cất được thành lời:
[1] Katy Leary, người đã phục vụ cho gia đình Clemens suốt hai mươi chín năm.
“CÔ JEAN MẤT RỒI!”
Có lẽ đến giờ tôi mới hiểu được cảm giác của một người lính khi viên đạn đâm xuyên qua tim.
Trong phòng tắm, sinh linh trẻ trung và xinh đẹp ấy nằm đó, trải dài trên sàn nhà và được phủ một tấm ga. Con nhìn thật bình thản, tự nhiên, hệt như đang ngủ. Chúng tôi đều biết chuyện gì đã xảy ra. Con mắc bệnh động kinh: một cơn co giật và suy tim đã ập đến khi con đang tắm. Bác sĩ phải đi mất mấy dặm mới tới nơi. Những nỗ lực của ông, cũng như nỗ lực trước đó của chúng tôi, đều không thể giành lại sự sống cho con.
Bây giờ đã là giữa trưa. Con trông đáng yêu, dịu dàng và thanh thản làm sao! Đó là một gương mặt cao quý, tràn ngập sự trang nghiêm; và trái tim đang nằm yên lặng lẽ kia từng là một trái tim nhân hậu.
Ở Anh, mười ba năm trước, vợ chồng tôi đã bị một bức điện văn đâm thấu tim với nội dung: “Susy đã được giải thoát một cách thanh thản hôm nay.” Sáng nay, tôi phải gửi một đòn giáng tương tự cho Clara ở Berlin. Đi kèm một mệnh lệnh kiên quyết: “Con không được về nhà.” Clara và chồng nó vừa giương buồm rời khỏi đây vào ngày 11 tháng này. Clara làm sao chịu đựng nổi đây? Từ thời thơ ấu, Jean đã luôn sùng bái Clara.
Bốn ngày trước, tôi trở về sau kỳ nghỉ kéo dài một tháng ở Bermuda với sức khỏe hoàn hảo; nhưng do một sự cố nào đó, giới báo chí lại không nhận ra điều này. Hôm kia, thư từ và điện văn từ bạn bè lẫn những người xa lạ bắt đầu gửi đến, cho thấy mọi người tưởng tôi đang ốm nặng nguy đến tính mạng. Ngày hôm qua, Jean năn nỉ tôi hãy giải thích tình trạng của mình qua Hãng thông tấn Associated Press. Tôi bảo chuyện đó chẳng quan trọng; nhưng con bé khổ sở và nói tôi phải nghĩ đến Clara. Clara sẽ nhìn thấy tin tức trên báo Đức, mà nó thì đã chăm sóc chồng ngày đêm suốt bốn tháng qua[2], người mệt mỏi và yếu ớt, cú sốc này có thể gây ra hậu quả tai hại. Điều đó hoàn toàn có lý; vì vậy tôi đã gọi điện gửi một đoạn văn hài hước tới Hãng thông tấn Associated Press để phủ nhận “cáo buộc” rằng tôi đang “hấp hối”, và nói rằng “ở độ tuổi của tôi, tôi sẽ không làm một việc như thế.”
[2] Ông Gabrilowitsch vừa trải qua phẫu thuật viêm ruột thừa.
Jean hơi bận lòng và không thích tôi coi nhẹ chuyện đó như vậy; nhưng tôi bảo xử lý thế là tốt nhất, vì chẳng có gì nghiêm trọng cả. Sáng nay, tôi đã gửi những sự thật đau thương về thảm họa không thể cứu vãn của ngày hôm nay tới Hãng thông tấn Associated Press. Liệu cả hai bản tin có cùng xuất hiện trên các tờ báo chiều nay không?—một bản tin quá đỗi vui tươi, còn bản tin kia lại quá đỗi bi thảm?
Tôi đã mất Susy mười ba năm trước; tôi mất mẹ của con bé—người mẹ không ai sánh bằng!—mấy năm rưỡi trước; Clara đã sang Châu Âu sinh sống; và giờ đây tôi mất Jean. Tôi mới nghèo xơ xác làm sao, tôi—người từng vô cùng giàu có! Bảy tháng trước, ông Rogers qua đời—một trong những người bạn tốt nhất tôi từng có, một người hoàn hảo nhất, xét trên phương diện một con người và một quý ông, mà tôi từng gặp trong đời; trong vòng sáu tuần qua, Gilder rồi Laffan cũng ra đi—những người bạn tri kỷ lâu năm của tôi. Jean nằm ở đằng kia, tôi ngồi ở đây; chúng tôi là những kẻ xa lạ ngay dưới mái nhà của chính mình; tối qua chúng tôi còn hôn tay tạm biệt tại cánh cửa này—và đó là mãi mãi, mà chẳng ai trong chúng tôi nghi ngờ điều đó. Con nằm đó, và tôi ngồi đây—viết lách, tự làm mình bận rộn, để giữ cho trái tim khỏi vỡ vụn. Ánh nắng mặt trời đang tràn ngập các ngọn đồi xung quanh rực rỡ làm sao! Nó giống như một sự mỉa mai.
Bảy mươi tư tuổi vào hai mươi tư ngày trước. Bảy mươi tư tuổi vào ngày hôm qua. Hôm nay ai có thể đếm được tuổi của tôi đây?
Tôi lại nhìn con một lần nữa. Tôi kinh ngạc vì mình có thể chịu đựng được. Con trông giống hệt mẹ mình khi nằm qua đời ở căn biệt thự Florentine ngày ấy. Sự thanh thản ngọt ngào của cái chết! Nó còn đẹp hơn cả giấc ngủ.
Tôi đã chứng kiến cảnh chôn cất mẹ con. Tôi từng nói mình sẽ không bao giờ chịu đựng nỗi kinh hoàng đó một lần nữa; rằng tôi sẽ không bao giờ nhìn vào mộ phần của bất kỳ ai thân yêu với mình nữa. Tôi đã giữ lời. Ngày mai họ sẽ đưa Jean rời khỏi ngôi nhà này, mang con đến Elmira, New York, nơi những người trong chúng tôi đã được giải thoát đang nằm nghỉ, nhưng tôi sẽ không đi theo.
Jean vẫn còn đứng trên bến tàu khi con tàu cập bến, mới chỉ bốn ngày trước. Con đã đứng ở cửa, rạng rỡ đón chào khi tôi về đến ngôi nhà này vào tối hôm sau. Chúng tôi chơi bài, và con cố dạy tôi một trò chơi mới có tên là “Mark Twain”. Tối qua chúng tôi còn ngồi trò chuyện vui vẻ trong thư viện, và con không cho tôi nhìn vào ban công kính, nơi con đang chuẩn bị cho Giáng sinh. Con nói sáng mai con sẽ làm xong, và rồi người bạn nhỏ người Pháp của con từ New York sẽ đến—sự bất ngờ sẽ nối tiếp; sự bất ngờ mà con đã chuẩn bị trong nhiều ngày qua. Khi con bước ra ngoài một lúc, tôi đã lén nhìn vào, thật là không phải. Sàn ban công kính được trải thảm, bài trí ghế tựa và sofa; và món quà bất ngờ chưa hoàn thành nằm ở đó: một cây thông Noel phủ đầy những dải kim tuyến bạc tuyệt đẹp; trên bàn là vô số những vật dụng rực rỡ mà con định treo lên cây vào ngày hôm nay. Bàn tay tàn nhẫn nào sẽ xua tan sự bất ngờ dở dang đầy ý nghĩa ấy khỏi nơi đó? Chắc chắn không phải là tôi rồi. Tất cả những chuyện nhỏ nhặt này chỉ vừa xảy ra trong bốn ngày qua. “Nhỏ nhặt”. Đúng vậy—là khi đó. Nhưng giờ thì không. Không có gì con nói, nghĩ hay làm giờ đây là nhỏ nhặt nữa. Và tất cả sự hóm hỉnh dồi dào ấy!—giờ đã đi đâu mất rồi? Giờ đây nó là niềm bi thương. Niềm bi thương, và nghĩ đến nó chỉ khiến nước mắt tuôn rơi.
Tất cả những điều nhỏ nhặt ấy xảy ra mới chỉ vài giờ trước—và giờ đây con nằm ở đằng kia. Nằm ở đằng kia, và chẳng còn bận tâm đến điều gì nữa. Thật kỳ lạ—kỳ diệu—không thể tin nổi! Tôi đã từng trải qua cảm giác này trước đây; nhưng dẫu có trải qua một ngàn lần, nó vẫn là điều không thể tin nổi.
“CÔ JEAN MẤT RỒI!”
Đó là những gì Katy đã nói. Khi nghe thấy tiếng mở cửa sau đầu giường mà không có tiếng gõ cửa báo trước, tôi đã tưởng đó là Jean đến hôn chúc tôi một buổi sáng tốt lành, vì con là người duy nhất có thói quen bước vào mà không cần nghi thức.
Và thế là—
Tôi đã sang phòng khách của Jean. Thật là một khoảng hỗn loạn những quà tặng Giáng sinh dành cho gia nhân và bạn bè! Chúng ở khắp mọi nơi; bàn, ghế, sofa, sàn nhà—mọi thứ đều bị chiếm trọn. Đã nhiều năm rồi tôi mới lại thấy một cảnh tượng như thế này. Trong những ngày xưa cũ ấy, bà Clemens và tôi thường lặng lẽ lẻn vào phòng trẻ lúc nửa đêm Đêm Giáng sinh để ngắm nhìn dãy quà tặng. Khi đó các con còn nhỏ. Và giờ đây phòng khách của Jean trông hệt như phòng trẻ ngày ấy. Những món quà chưa kịp dán nhãn—đôi tay lẽ ra sẽ dán nhãn cho chúng hôm nay đã mãi mãi xuôi tay. Mẹ của Jean luôn kiệt sức vì những chuẩn bị cho Giáng sinh. Jean cũng làm điều tương tự vào ngày hôm qua và những ngày trước đó, và sự mệt mỏi đã phải trả giá bằng chính mạng sống của con. Sự mệt mỏi đã gây ra cơn co giật tấn công con vào sáng nay. Con đã không bị tái phát suốt nhiều tháng qua.
Jean đầy tràn sức sống và năng lượng đến mức con luôn gặp nguy cơ quá sức. Mỗi sáng con đều cưỡi ngựa từ sáu giờ rưỡi, ra ga lấy thư. Con kiểm tra thư từ và tôi chia chúng ra: một số cho con, một số cho ông Paine, số còn lại cho thư ký và tôi. Con giải quyết xong phần của mình rồi lại leo lên ngựa, đi trông nom trang trại và đàn gia cầm trong suốt thời gian còn lại trong ngày. Đôi khi con chơi bida với tôi sau bữa tối, nhưng con thường quá mệt để chơi và đi ngủ sớm.
Chiều qua, tôi đã nói với con về một số kế hoạch tôi dự định trong thời gian ở Bermuda để san sẻ bớt gánh nặng cho con. Chúng tôi sẽ thuê một người quản gia; đồng thời chuyển phần việc thư ký của con sang cho ông Paine.
Không—con không đồng ý. Chính con cũng đã tự lên kế hoạch. Mọi chuyện kết thúc bằng một sự thỏa hiệp, tôi phải nhượng bộ. Tôi luôn nhượng bộ con. Con không muốn người khác kiểm tra hóa đơn và để Paine ký séc—con muốn tự mình tiếp tục làm việc đó. Con cũng muốn tiếp tục làm quản gia, và để Katy phụ giúp. Con cũng sẽ tiếp tục trả lời thư từ của bạn bè cá nhân giúp tôi. Sự thỏa hiệp là như thế. Cả hai chúng tôi đều gọi đó là sự thỏa hiệp, mặc dù tôi chẳng thấy có sự thay đổi to lớn nào cả.
Dẫu sao thì Jean cũng hài lòng, và điều đó là quá đủ đối với tôi. Con tự hào khi được làm thư ký của tôi, và tôi chưa bao giờ thuyết phục được con từ bỏ bất kỳ phần nào trong công việc chẳng mấy dễ chịu đó.
Trong cuộc trò chuyện tối qua, tôi bảo tôi thấy mọi việc diễn ra quá suôn sẻ nên nếu con đồng ý, tôi sẽ quay lại Bermuda vào tháng Hai để giải thoát bản thân khỏi những va chạm và ồn ào trong một tháng nữa. Con khẩn thiết giục tôi nên làm vậy, và nói nếu tôi hoãn chuyến đi đến tháng Ba, con sẽ dắt Katy cùng đi với tôi. Chúng tôi đã bắt tay đập tay ăn mừng vì điều đó, và bảo thế là quyết định xong. Tôi đã có ý định viết thư gửi Bermuda bằng chuyến tàu ngày mai để thuê một ngôi nhà đầy đủ đồ đạc và người giúp việc. Tôi định viết bức thư đó vào sáng nay. Nhưng giờ đây, nó sẽ chẳng bao giờ được viết ra nữa.
Vì con đang nằm ở đằng kia, và trước mắt con là một chuyến đi khác hẳn.
Màn đêm đang buông xuống; vành mặt trời chỉ còn nhô lên một chút trên đường viền các ngọn đồi.
Tôi lại ngắm nhìn khuôn mặt ấy, khuôn mặt ngày càng trở nên thân thương với tôi hơn mỗi ngày. Tôi mới chỉ bắt đầu thực sự hiểu Jean trong chín tháng qua. Con đã phải rời xa gia đình rất lâu trước khi trở về với chúng tôi cách đây ba tư năm. Con đã bị cách ly trong các viện dưỡng bệnh, cách xa chúng tôi hàng dặm. Con đã xúc động, vui mừng và biết ơn biết bao khi lại được bước qua bậc cửa của cha mình!
Liệu tôi có muốn mang con trở lại cuộc sống nếu có thể không? Tôi sẽ không làm vậy. Nếu chỉ một lời nói có thể làm được điều đó, tôi sẽ cầu xin sức mạnh để giữ lời nói ấy lại. Và tôi sẽ có đủ sức mạnh; tôi chắc chắn về điều đó. Mất con, tôi gần như phá sản, và cuộc đời tôi là một nỗi đắng ngắt, nhưng tôi hài lòng: vì con đã được ban tặng món quà quý giá nhất trong tất cả các món quà—món quà khiến mọi món quà khác trở nên đớn hèn và nghèo còm—cái chết. Tôi chưa bao giờ muốn bất kỳ người bạn nào đã được giải thoát của mình quay trở lại cuộc sống kể từ khi tôi trưởng thành. Tôi đã cảm thấy như vậy khi Susy ra đi; và sau đó là vợ tôi, rồi sau nữa là ông Rogers. Khi Clara gặp tôi tại nhà ga ở New York và báo tin ông Rogers đã đột ngột qua đời sáng hôm đó, suy nghĩ của tôi là: Ôi, con người cưng của số phận—may mắn suốt cả cuộc đời dài và đẹp đẽ—may mắn cho đến tận giây phút cuối cùng! Giới báo chí nói có những giọt nước mắt xót xa trong mắt tôi. Đúng vậy—nhưng đó là dành cho tôi, chứ không phải cho ông ấy. Ông ấy không chịu tổn thất nào cả. Tất cả những của cải ông từng tạo ra trước đây đều là nghèo khó nếu so với vận may này.
Tại sao hai năm trước tôi lại xây ngôi nhà này? Để làm nơi trú ngụ cho khoảng trống mênh mông này sao? Tôi mới ngu ngốc làm sao! Nhưng tôi sẽ ở lại đây. Linh hồn của những người đã mất làm cho ngôi nhà trở nên thiêng liêng đối với tôi. Các thành viên khác trong gia đình tôi lại không như vậy. Susy mất trong ngôi nhà chúng tôi xây ở Hartford. Bà Clemens không bao giờ bước chân vào đó nữa. Nhưng điều đó lại làm cho ngôi nhà trở nên thân thương hơn đối với tôi. Tôi đã trở lại đó một lần kể từ đó, khi ngôi nhà trống không, lặng câm và cô quạnh, nhưng đối với tôi đó là một nơi thiêng liêng và đẹp đẽ. Tôi có cảm giác như linh hồn của những người đã khuất đang ở quanh tôi, sẽ cất lời và chào đón tôi nếu họ có thể: Livy, Susy, George, Henry Robinson, và Charles Dudley Warner. Họ mới tốt lành, tử tế và cuộc đời họ mới đáng yêu làm sao! Trong tưởng tượng, tôi có thể nhìn thấy tất cả bọn họ một lần nữa, tôi có thể gọi bọn trẻ quay lại và nghe chúng nô đùa lần nữa với George—người cựu nô lệ da đen tuyệt vời, thần tượng của bọn trẻ, người đã đến vào một ngày nọ—như một người xa lạ thoáng qua—để lau cửa sổ, và đã ở lại suốt mười tám năm. Cho đến khi ông qua đời. Clara và Jean sẽ không bao giờ bước chân vào khách sạn ở New York mà mẹ chúng từng lui tới trong những ngày trước đây. Chúng không thể chịu đựng được. Nhưng tôi sẽ ở lại ngôi nhà này. Tối nay nó trở nên thân thương với tôi hơn bao giờ hết. Linh hồn của Jean sẽ làm cho nó luôn đẹp đẽ trong mắt tôi. Cái chết cô đơn và bi thảm của con—nhưng tôi sẽ không nghĩ về điều đó lúc này.
Mẹ của Jean luôn dành hai hoặc ba tuần để mua sắm Giáng sinh, và luôn kiệt sức về mặt thể xác khi Đêm Giáng sinh đến. Jean đúng là con gái của mẹ—con đã vắt kệt sức mình để săn tìm quà tặng ở New York trong những ngày qua. Paine vừa tìm thấy trên bàn làm việc của con một danh sách dài các tên người—khoảng mười người, ông ấy nghĩ vậy—những người mà con đã gửi quà tối qua. Có vẻ như con không quên một ai. Và Katy đã tìm thấy ở đó một cuộn tiền giấy, dành cho gia nhân.
Chú chó của con hôm nay cứ đi lang thang quanh khu đất, cô độc và buồn bã. Tôi đã nhìn thấy nó từ cửa sổ. Con xin nó từ Đức về. Nó có đôi tai cao và trông giống hệt một con sói. Nó được huấn luyện ở Đức và không biết ngôn ngữ nào ngoài tiếng Đức. Jean không bao giờ ra lệnh cho nó ngoài tiếng mẹ đẻ đó. Và vì vậy, khi chuông báo trộm vang lên dữ dội vào lúc giữa đêm cách đây hai tuần, người quản gia, vốn là người Pháp và không biết tiếng Đức, đã cố gắng một cách vô ích để làm chú chó chú ý đến kẻ nghi là trộm. Jean đã viết thư cho tôi, gửi sang Bermuda, kể về sự cố đó. Đó là bức thư cuối cùng tôi nhận được từ trí óc tinh anh và bàn tay tháo vát của con. Chú chó sẽ không bị bỏ mặc đâu.
Chưa từng có một trái tim nào nhân hậu hơn Jean. Từ thời thơ ấu, con luôn dành phần lớn tiền tiêu vặt của mình cho các hoạt động thiện nguyện này nọ. Sau khi trở thành thư ký và thu nhập tăng gấp đôi, con đã rộng tay chi tiền cho những việc đó. Cả tiền của tôi nữa, tôi rất vui và biết ơn khi phải nói vậy.
Con là một người bạn trung thành của tất cả động vật, và con yêu thương tất cả chúng, chim chóc, muông thú, và mọi thứ—ngay cả rắn—một đặc tính di truyền từ tôi. Con biết rõ tất cả các loài chim; con rất giỏi về mảng kiến thức đó. Con đã trở thành hội viên của nhiều hội bảo vệ động vật khi còn là một cô bé—cả ở đây lẫn nước ngoài—và con vẫn là một hội viên tích cực cho đến phút cuối cùng. Con đã thành lập hai hoặc ba hội bảo vệ động vật, ở đây và ở Châu Âu.
Con là một thư ký gây khó khăn, vì con hay bới thư từ của tôi ra khỏi thùng rác và trả lời chúng. Con cho rằng mọi bức thư đều đáng được lịch sự phản hồi. Mẹ con đã nuôi dưỡng con trong sự nhầm lẫn nhân hậu đó.
Con có thể viết một bức thư hay, và viết rất nhanh. Con không có năng khiếu âm nhạc cho lắm, nhưng lưỡi con lại tiếp thu các ngôn ngữ một cách dễ dàng. Con không bao giờ để tiếng Ý, tiếng Pháp và tiếng Đức của mình bị mai một vì bỏ bê.
Những bức điện chia buồn đang dồn dập gửi về, từ khắp nơi, lúc này đây, hệt như ở Ý năm năm rưỡi trước, khi mẹ của đứa trẻ này trút hơi thở cuối cùng ngây thơ. Chúng không thể chữa lành vết thương, nhưng chúng làm nguôi đi phần nào nỗi đau. Khi Jean và tôi hôn tay tạm biệt tại cửa phòng tôi lần cuối, làm sao chúng tôi có thể tưởng tượng được rằng chỉ trong hai mươi hai giờ nữa, đường dây điện báo lại mang đến những lời lẽ như thế này:
“Từ đáy lòng mình, chúng tôi xin gửi lời chia buồn sâu sắc nhất, người bạn thân thương nhất.”
Trong nhiều, rất nhiều ngày tới, bất kể tôi đi đến đâu trong ngôi nhà này, những vật kỷ niệm của Jean cũng sẽ lặng lẽ nói với tôi về con. Ai có thể đếm hết được số lượng của chúng?
Con đã phải sống lưu vong hai năm với hy vọng chữa khỏi căn bệnh của mình—bệnh động kinh. Không có từ ngữ nào diễn tả hết sự biết ơn của tôi khi con không phải trút hơi thở cuối cùng trong tay những người xa lạ, mà là trong sự che chở thương yêu của chính ngôi nhà mình.
“CÔ JEAN MẤT RỒI!”
Đó là sự thật. Jean đã chết.
Một tháng trước, tôi còn đang viết những bài báo sôi nổi và vui nhộn cho các tạp chí sắp xuất bản, và giờ đây tôi đang viết—những dòng này.
NGÀY GIÁNG SINH. GIỮA TRƯA.—Tối qua, thỉnh thoảng tôi lại sang phòng Jean, giật tấm ga trải giường ra ngắm nhìn gương mặt thanh thản, hôn lên trán lạnh ngắt, và nhớ lại đêm tan nát tâm can ở Florence năm nào, trong căn biệt thự mênh mông, câm lặng và sâu hun hút đó, khi tôi đã bò xuống cầu thang không biết bao nhiêu lần, giật tấm ga ra ngắm nhìn một gương mặt giống hệt gương mặt này—gương mặt của mẹ Jean—và hôn lên vầng trán hệt như vầng trán này. Và tối qua tôi lại được thấy những gì tôi đã thấy khi đó—kỳ tích kỳ lạ và xinh đẹp ấy—những nét nét mềm mại, dịu dàng của thời con gái đầu đời được phục hồi bởi bàn tay nhân từ của cái chết! Khi mẹ của Jean nằm qua đời, mọi dấu vết của lo âu, phiền muộn, đau khổ và những năm tháng bào mòn đều biến mất khỏi gương mặt, và tôi lại được ngắm nhìn nó như tôi từng biết và sùng bái trong thời kỳ tươi trẻ và đẹp đẽ của một thế hệ trước.
Khoảng ba giờ sáng, trong lúc đi lang thang quanh nhà trong sự tĩnh lặng sâu thẳm, như người ta vẫn thường làm trong những thời điểm thế này, khi có một cảm giác mơ hồ rằng một thứ gì đó đã mất đi không bao giờ tìm lại được, nhưng vẫn phải đi tìm, dù chỉ để có việc làm cho sự tìm kiếm vô ích đó, tôi bắt gặp chú chó của Jean ở hành lang tầng dưới, và nhận ra nó không nhảy lên chào đón tôi theo thói quen hiếu khách của nó, mà bước đi chậm rãi và buồn thảm; tôi cũng nhớ ra rằng nó chưa từng bén mảng đến phòng Jean kể từ khi bi kịch xảy ra. Tội nghiệp mày, mày có biết không? Tôi nghĩ là có. Mỗi khi Jean ra ngoài trời, nó luôn ở bên con; mỗi khi con ở trong nhà, nó cũng ở bên con, cả đêm lẫn ngày. Phòng khách của con là phòng ngủ của nó. Bất cứ khi nào tôi tình cờ gặp nó ở tầng trệt, nó luôn đi theo tôi, và khi tôi lên tầng, nó cũng đi theo—chạy nhảy cuồng nhiệt. Nhưng giờ thì khác: sau khi xoa đầu nó một chút, tôi vào thư viện—nó ở lại phía sau; khi tôi lên tầng, nó không đi theo tôi nữa, chỉ nhìn theo bằng đôi mắt đăm đắm. Nó có đôi mắt tuyệt vời—to, lành và giàu cảm xúc. Nó có thể trò chuyện bằng đôi mắt. Nó là một sinh vật đẹp đẽ, thuộc giống chó cảnh sát New York. Tôi không thích chó, vì chúng sủa khi không có lý do; nhưng tôi đã thích con này ngay từ đầu, vì nó thuộc về Jean, và vì nó không bao giờ sủa trừ khi có lý do—mà cũng không quá hai lần một tuần.
Trong lúc đi lang thang, tôi ghé thăm phòng khách của Jean. Trên giá sách, tôi tìm thấy một chồng sách của mình, và tôi biết điều đó có nghĩa là gì. Con đang chờ tôi ở Bermuda về để ký tặng, rồi con sẽ gửi chúng đi. Giá như tôi biết con định tặng chúng cho ai! Nhưng tôi sẽ không bao giờ biết được. Tôi sẽ giữ lại chúng. Bàn tay con đã chạm vào chúng—đó là một sự phong tước—giờ đây chúng đã trở nên cao quý.
Và trong tủ quần áo, con đã giấu một sự bất ngờ dành cho tôi—một thứ mà tôi từng nhiều lần ước mình có được: một quả địa cầu lớn tuyệt đẹp. Tôi không thể nhìn rõ nó vì nước mắt giàn giụa. Con sẽ không bao giờ biết được sự tự hào và niềm vui mà tôi dành cho nó. Hôm nay thư từ ngập tràn những ký ức thương yêu dành cho con: ngập tràn những lời lẽ thân thương cũ kỹ mà con vốn rất yêu thích, “Giáng sinh vui vẻ nhé Jean!” Giá như con có thể sống thêm dù chỉ một ngày nữa!
Cuối cùng con hết tiền, và không chịu dùng tiền của tôi. Vì vậy con đã gửi đến một trong những mái ấm dành cho cô gái nghèo ở New York tất cả quần áo con có thể dọn dẹp—và có lẽ còn nhiều hơn thế nữa.
ĐÊM GIÁNG SINH.—Chiều nay họ đã đưa con rời khỏi phòng. Ngay khi có thể, tôi xuống thư viện, và con nằm đó, trong quan tài, mặc đúng bộ quần áo con đã mặc khi đứng ở đầu kia của chính căn phòng này vào ngày 6 tháng 10 vừa qua, với tư cách là phù dâu chính của Clara. Gương mặt con lúc đó rạng rỡ sự háo hức hạnh phúc; giờ đây vẫn là gương mặt ấy, nhưng mang sự trang nghiêm của cái chết và sự bình yên của Chúa.
Họ kể với tôi người đến viếng đầu tiên là chú chó. Nó tự đến mà không ai mời, đứng bằng hai chân sau, đặt hai chân trước lên linh cữu, và nhìn một lần cuối cùng thật lâu vào gương mặt từng vô cùng thân thương với nó, rồi lặng lẽ ra đi như khi nó đến. Nó biết đấy.
Đến giữa chiều, trời bắt đầu đổ tuyết. Thật đáng thương—khi Jean không thể nhìn thấy nó! Con vốn yêu tuyết đến thế.
Tuyết tiếp tục rơi. Vào lúc sáu giờ, xe tang đỗ trước cửa để mang đi gánh nặng xót xa. Khi họ nhấc linh cữu lên, Paine bắt đầu chơi bản “Impromptu” của Schubert trên đàn orchestrelle, đó là bài hát Jean yêu thích nhất. Sau đó ông chơi bản Intermezzo; bản đó dành cho Susy; rồi ông chơi bản Largo; bản đó dành cho mẹ của chúng. Ông làm vậy theo yêu cầu của tôi. Ở một nơi khác trong cuốn Tự truyện, tôi đã kể lại việc bản Intermezzo và Largo đã gắn liền trong trái tim tôi với Susy và Livy trong những giờ phút cuối cùng của họ trên đời này như thế nào.
Từ cửa sổ, tôi nhìn thấy xe tang và các xe đi kèm uốn lượn dọc theo con đường rồi mờ dần, biến thành những bóng ma trong làn tuyết rơi, và rồi biến mất hoàn toàn. Jean đã ra đi khỏi cuộc đời tôi, và sẽ không bao giờ quay trở lại nữa. Jervis, người anh họ từng chơi đùa với con khi cả hai còn là những đứa trẻ—anh ấy và Katy già thân yêu của con—đang đưa con về căn nhà thời thơ ấu xa xôi, nơi con sẽ lại nằm bên cạnh mẹ mình, cùng với Susy và Langdon.
NGÀY 26 THÁNG 12. Chú chó đến thăm tôi vào lúc tám giờ sáng nay. Nó rất quấn quýt, đứa trẻ mồ côi tội nghiệp! Phòng tôi từ nay sẽ là chỗ ở của nó.
Cơn bão hoành hành suốt đêm. Nó vẫn hoành hành suốt buổi sáng. Tuyết bị cuốn qua cảnh vật thành những đám mây mênh mông, tuyệt mỹ, uy nghi—và Jean không có ở đây để ngắm nhìn.
2:30 CHIỀU.—Đã đến giờ hẹn. Tang lễ đã bắt đầu. Cách xa bốn trăm dặm, nhưng tôi có thể nhìn thấy tất cả, hệt như tôi đang ở đó. Cảnh tượng là thư viện trong khu nhà Langdon. Quan tài của Jean nằm đúng nơi mẹ con và tôi từng đứng bốn mươi năm trước để làm lễ kết hôn; và là nơi quan tài của Susy từng nằm mười ba năm trước; nơi quan tài của mẹ con từng nằm năm năm rưỡi trước; và là nơi quan tài của tôi sẽ nằm sau một thời gian ngắn nữa.
NĂM GIỜ.—Tất cả đã kết thúc.
Khi Clara ra đi hai tuần trước để sang Châu Âu sống, điều đó thật cay đắng, nhưng tôi có thể chịu đựng được, vì tôi vẫn còn Jean. Tôi đã nói chúng tôi sẽ là một gia đình. Chúng tôi đã nói chúng tôi sẽ là những người bạn tri kỷ và hạnh phúc—chỉ hai cha con thôi. Giấc mơ tươi đẹp đó đã ở trong tâm trí tôi khi Jean ra đón tôi ở tàu thủy hôm Thứ Hai tuần trước; nó ở trong tâm trí tôi khi con đón tôi ở cửa vào tối Thứ Ba tuần trước. Chúng tôi đã ở bên nhau; CHÚNG TÔI LÀ MỘT GIA ĐÌNH! giấc mơ đã trở thành sự thật—ôi, đúng đắn tuyệt đối, mãn nguyện tuyệt đối, trọn vẹn tuyệt đối! và giữ nguyên sự thật ấy trong suốt hai ngày trọn vẹn.
Và bây giờ? Bây giờ Jean đã nằm dưới mộ sâu!
Nằm dưới mộ—nếu tôi có thể tin vào điều đó. Nguyện Chúa ban sự nghỉ ngơi cho linh hồn dịu dàng của con!