Con người là gì? và những tiểu luận khác

Lượt đọc: 20 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
I

❊ ❊ ❊

Dòng chữ tượng hình này trong suốt mười bốn năm từng là niềm tuyệt vọng của tất cả các học giả dốc sức nghiên cứu những bí ẩn trên phiến đá Rosetta: (Hình 1)

Sau năm năm miệt mài nghiên cứu, Champollion đã dịch nó như sau:

Bởi vậy, hãy duy trì việc thờ phụng Epiphanes tại tất cả các đền thờ, kẻ nào trái lệnh sẽ bị xử tử.

Đó là bản dịch thứ hai mươi tư mà các giới học giả đưa ra. Trong một thời gian, nó đã được công nhận. Nhưng cũng chỉ được một thời gian ngắn. Rồi những hoài nghi bắt đầu bủa văng và làm lung lay bản dịch ấy, khiến các học giả lại phải tiếp tục công việc. Ba năm kiên trì nghiên cứu đã cho ra đời mười một bản dịch mới; trong số đó, bản dịch này của Grunfeldt đã nhận được sự tán thưởng đáng kể:

Con ngựa của Epiphanes sẽ được nuôi dưỡng bằng ngân sách công; kẻ nào trái lệnh sẽ bị xử tử.

Thế nhưng, bản dịch sau đây của Gospodin còn nhận được sự tán thành lớn hơn nữa từ giới bác học:

Tư tế phải giải thích trí tuệ của Epiphanes cho toàn thể dân chúng, và dân chúng phải thành kính lắng nghe, kẻ nào trái lệnh sẽ bị xử tử.

Bảy năm tiếp theo trôi qua, thêm hai mươi mốt bản dịch mới với nội dung khác biệt xa tắp được đưa ra—nhưng chẳng bản nào đủ sức thuyết phục. Thế rồi cuối cùng, Rawlinson, học giả trẻ tuổi nhất trong số họ, đã xuất hiện cùng một bản dịch lập tức được vạn người công nhận là phiên bản chính xác, và tên tuổi của ông nổi danh chỉ sau một đêm. Danh tiếng ấy vang xa đến mức ngay cả trẻ con cũng biết tới; và chiến công ấy gây xôn xao đến độ ngay cả sự kiện chính trị trọng đại cùng năm đó—cuộc đào tẩu khỏi đảo Elba—cũng không thể lấn ạt nổi. Phiên bản của Rawlinson viết như sau:

Bởi vậy, chớ quay lưng lại với trí tuệ của Epiphanes, mà hãy quay về dõi theo nó; có như thế nó mới dẫn dắt ngươi đến với sự bình an nơi đền thờ, làm dịu đi những nỗi đau khổ của kiếp người cùng những đớn đau của cái chết.

Và đây là một đoạn văn tự hóc húa khác: (Hình 2)

Đó là chữ Demotic—một phong cách viết và là một giai đoạn ngôn ngữ của Ai Cập đã biến mất khỏi tri thức của nhân loại từ hai ngàn năm trăm năm trước Công nguyên.

Những người da đỏ của chúng ta đã để lại nhiều ghi chép dưới dạng hình vẽ trên các vách đá và khối đá lớn. Những học giả tài năng và tận tụy nhất của chúng ta đã mất hai thế kỷ mới giải mã được những ý nghĩa ẩn giấu trong các bức vẽ đó; thế nhưng vẫn còn hai dòng chữ tượng hình nhỏ nằm giữa các hình vẽ trên rặng đá Dighton mà họ vẫn chưa thể giải thích một cách thỏa đáng. Đó là: (Hình 3)

Những lời giải thích được đưa ra cho bí ẩn này nhiều vô số kể; xếp lại có thể thành cả một cuốn sách.

Như vậy, chúng ta gặp vô vàn rắc rối khi giải mã những bí ẩn do con người tạo ra; chỉ khi bắt tay vào tìm kiếm bí mật của Thượng đế thì mọi khó khăn mới biến mất. Từ xưa đến nay vẫn luôn như vậy. Vào thời La Mã cổ đại, Thượng đế có thói quen giấu giếm ý định của Mình trong nội tạng của các loài chim, và điều này đã được người ta kiên trì, hy vọng theo dõi qua hết thế kỷ này đến thế kỷ khác, mặc dù chưa từng có một trường hợp mớ nào ghi nhận việc giấu giếm ấy thành công. Các chiêm tinh gia có thể đọc nội tạng dễ dàng như một đứa trẻ thời nay đọc chữ in lớn. Lịch sử La Mã đầy ắp những kỳ tích giải mã mà những con người phi thường này đã thực hiện. Những thành tựu kỳ lạ và tuyệt diệu ấy khiến chúng ta phải kinh ngạc và thán phục. Những con người đó có thể thấu suốt tâm điểm của một bí ẩn ngay lập tức. Nếu ý tưởng về phiến đá Rosetta xuất hiện vào thời đó thì chắc chắn đã làm họ bó tay, nhưng nội tạng thì chẳng thể làm khó được họ. Ngày nay chuyện nội tạng đã đi vào quá khứ—cả nội tạng lẫn những giấc mơ. Rốt cuộc người ta nhận ra rằng chúng thật chẳng thích hợp để làm nơi cất giấu các ý định của thần linh.

Một phần bức tường thành Valletri ngày trước từng bị sét đánh, lời phán của các thầy bói khi đó là một người con của thành phố này rồi sẽ có ngày nắm giữ quyền lực tối cao. —Suetonius của Bohn, trang 138.

“Rồi sẽ có ngày nào đó.” Nghe thật mơ hồ, nhưng chẳng sao cả, rốt cuộc chuyện đó vẫn xảy ra; người ta chỉ việc chờ đợi, kiên nhẫn và để mắt theo dõi, rồi sẽ nhận ra cú sét đánh năm xưa chính là nhắm tới Caesar Augustus để phát đi tín hiệu báo trước.

Còn có những điềm báo trước khác. Một trong số đó xuất hiện ngay trước khi Caesar Augustus ra đời, mang màu sắc vô cùng thơ mộng, cảm động và lãng mạn. Đó là một giấc mơ. Mẹ của Caesar Augustus đã mơ thấy nó, và nó được giải mã theo mức phí thông thường:

Atia, trước khi sinh nở, đã mơ thấy ruột gan mình trải dài đến tận các vì sao và mở rộng ra khắp vòm trời cùng mặt đất.—Suetonius, trang 139.

Điềm báo đó đúng là ngón nghề của thầy bói nên chẳng gây chút khó khăn nào, nhưng có lẽ sẽ phải mất tới mười bốn năm Rawlinson và Champollion mới dám chắc ý nghĩa của nó, bởi họ hẳn sẽ thấy ngạc nhiên và choáng váng. Đến lúc đó thì đã quá muộn để còn giá trị, và hóa đơn thanh toán dịch vụ cũng đã hết hiệu lực theo luật định.

Vào những ngày La Mã xa xưa ấy, việc học hành của một quý ông chưa thể coi là hoàn chỉnh nếu chưa qua một khóa học thần học tại chủng viện và học cách giải mã nội tạng. Học vấn của Caesar Augustus cũng được trau giuốt bước cuối cùng này. Trong suốt cuộc đời mình, bất cứ khi nào có gia cầm trong thực đơn, ông đều giữ lại phần nội tạng và tự cập nhật các kế hoạch của Thượng đế bằng cách thực hành nghệ thuật bói toán trên những bộ lòng đó.

Trong nhiệm kỳ chấp chính quan đầu tiên, khi đang quan sát điềm bói, mười hai con kền kền đã xuất hiện, giống như chúng từng xuất hiện trước Romulus. Và khi ông dâng tế lễ, lá gan của tất cả các vật tế đều cuộn gập vào trong ở phần dưới; một hiện tượng được những người có chuyên môn thời đó coi là điềm báo chắc chắn về một vận may lớn lao và kỳ diệu.—Suetonius, trang 141.

“Chắc chắn” là một từ mạnh mẽ, nhưng không nghi ngờ gì nữa nó hoàn toàn có cơ sở, nếu như lá gan thực sự gập lại theo cách đó. Vào thời ấy, gan gà nhạy cảm một cách kỳ lạ và tinh tế đối với các sự kiện sắp tới, dù sự kiện đó có xa xôi đến đâu; chúng chẳng bao giờ nằm yên mà cứ săn lại và ngoằn ngoèo như thế, đặc biệt là khi những con kền kền bay đến tỏ sự quan tâm đến đại sự sắp tới lẫn bữa sáng của chúng.

II

Bây giờ chúng ta có thể bỏ qua khoảng một ngàn một trăm ba mươi hay bốn mươi năm, đưa chúng ta đến với thời đại Kitô giáo văn minh và những ngày tháng động loạn dưới thời Vua Stephen của nước Anh. Thầy bói đã qua thời hoàng kim và từ lâu đã bị lãng quên; vị tư tế nay kế thừa cái nghề của ông ta.

Vua Henry đã băng hà; Stephen, kẻ táo tợn và tàn bạo đó, từ Normandy vượt biển sang để cướp ngai vàng từ tay con gái của Henry. Hắn đã thực hiện xong tội ác của mình, và Henry xứ Huntington, một tư tế phẩm vị cao, đã than khóc cho điều đó trong cuốn Sử biên niên của mình. Tổng giám mục xứ Canterbury đã làm lễ đăng quang cho Stephen: “vì vậy Chúa đã tráng xuống Tổng giám mục cùng một bản án mà Ngài từng tráng xuống kẻ đã đánh Jeremiah, vị tư tế vĩ đại: ông qua đời trong vòng một năm.”

Tội của Stephen lớn hơn, nhưng Stephen có thể chờ đợi; còn Tổng giám mục thì xem ra không thể.

Vương quốc trở thành mồi ngon cho các cuộc nội chiến; chém giết, binh lửa và cướp phá gieo rắc tai họa khắp vùng đất; tiếng kêu cứu, kinh hoàng và đau thương vang lên khắp mọi nơi.

Đó chính là hậu quả từ tội ác của Stephen. Những tình cảnh kinh hoàng không xiết ấy kéo dài suốt mười chín năm. Rồi Stephen thốt nốt qua đời một cách êm ái như bất kỳ ai trên đời, và được an táng một cách trang trọng. Điều đó khiến người ta không khỏi tội nghiệp cho vị Tổng giám mục đáng thương, và ước rằng ông cũng được tha thứ nhẹ nhàng như thế. Làm sao Henry xứ Huntington biết được Tổng giám mục bị đưa xuống mộ là do sự trừng phạt của Thượng đế vì đã làm lễ đăng quang cho Stephen? Ông không giải thích. Ông cũng chẳng giải thích tại sao Stephen lại nhận được một cái chết dễ chịu hơn mức hắn đáng được nhận, trong khi vị Vua Henry già nua, người tiền nhiệm đã trị vì nước Anh mười lăm năm trong sự hài lòng mãn nguyện của dân chúng, lại phải kết thúc cuộc đời trong những hoàn cảnh cực kỳ khó chịu, bất tiện và tồi tệ. Đó có lẽ là một đám táng kém trang nghiêm nhất được ghi nhận trong lịch sử. Chẳng có một chi tiết nào tỏ ra thỏa đáng. Nó dường như là đám táng dành riêng cho Stephen, và ngay cả đến ngày nay, người ta vẫn không khỏi tiếc nuối vì một sự nhầm lẫn mà sai người đã nhận lấy nó.

Bất cứ khi nào Thượng đế trừng phạt một ai đó, Henry xứ Huntington đều biết lý do và nói cho chúng ta biết; ngòi bút của ông trào dâng sự thán phục; nhưng khi một kẻ đáng bị trừng phạt lại thoát nạn, ông lại chẳng giải thích lời nào. Rõ ràng ông bối rối, nhưng ông không nói gì. Tôi nghĩ thường thấy rõ ông bị giằng xé bởi những sự bất nhung này, nhưng vẫn trung thành cố gắng hết sức không biểu lộ ra. Khi không thể ngợi ca, ông lại chọn một sự im lặng rõ rệt đến mức một kẻ nghi ngờ có thể nhầm đó là sự phê phán bị dồn nén. Tuy nhiên, ông có thừa cơ hội để cảm thấy hài lòng với diễn biến của mọi việc—cuốn sách của ông tràn ngập những điều như thế.

Vua David xứ Scotland... nhân danh tôn giáo đã xúi giục quân sĩ xử sự cực kỳ dã man với người Anh. Chúng phanh bụng phụ nữ, cắm trẻ em lên đầu ngọn giáo, tàn sát các tư tế ngay tại bàn thờ, và chặt đầu các bức tượng trên thánh giá để gắn vào thân thể những người bị giết, đồng thời đổi lại, chúng gắn đầu các nạn nhân lên thánh giá. Bất cứ nơi nào quân Scotland tràn qua, nơi đó đều diễn ra cùng một cảnh tượng kinh hoàng và tàn bạo: tiếng phụ nữ gào khóc, tiếng người già than van, hòa lẫn trong tiếng st hối của những kẻ đang hấp hối và sự tuyệt vọng của những người còn sống.

Nhưng người Anh đã giành chiến thắng.

Thế rồi thủ lĩnh của người Lothian gục xuống vì bị tên bắn xuyên người, và toàn bộ quân sĩ của hắn tháo chạy. Bởi Đấng Toàn Năng đã tức giận với họ và sức mạnh của họ bị xé rách như tơ nhện.

Tức giận với họ vì điều gì? Vì đã thực hiện những cuộc tàn sát dã man đó sao? Không, vì đó là hủ tục chung của cả hai bên, không có gì để phê phán. Vậy có phải vì thực hiện các cuộc tàn sát “nhân danh tôn giáo” không? Không, cũng không phải; tình cảm tôn giáo thời xa xưa ấy thường được thể hiện một cách cuồng nhiệt như thế. Sự thật là Ngài chẳng hề tức giận với “họ” chút nào; Ngài chỉ tức giận với vua của họ, người đã bội ước. Vậy tại sao Ngài không trút sự trừng phạt lên đầu vị vua mà lại trút lên “họ”? Thật là một câu hỏi khó. Người ta có thể thấy qua cuốn Sử biên niên rằng những “bản án” thường rơi nhầm vào người khác, nhưng Henry xứ Huntington lại không giải thích tại sao. Và đây là một bản án đã đi đúng hướng; sự mãn nguyện của người viết sử biên niên đối với nó chẳng hề giấu giếm:

Vào tháng Tám, Thiên Ý đã thể hiện sự công bằng của mình một cách đáng kinh ngạc; bởi hai quý tộc đã biến các chủng viện thành pháo đài và đuổi các tu sĩ đi, tội lỗi giống nhau nên đã chịu chung một sự trừng phạt. Robert Marmion là một, Godfrey de Mandeville là người kia. Robert Marmion, khi xuất quân chống lại kẻ thù, đã bị hạ sát ngay dưới chân tường tu viện, và là người duy nhất tử trận dù xung quanh có quân đội bao bọc. Chết trong tình trạng bị rút phép thông công, hắn phải chịu cái chết vĩnh viễn. Tương tự, Bá tước Godfrey bị tách khỏi quân sĩ và bị một người lính bộ binh thường bắn trúng bằng một mũi tên. Hắn coi thường vết thương, nhưng đã chết vì nó vài ngày sau đó, cũng trong tình trạng bị rút phép thông công. Hãy nhìn xem bản án tương tự của Thượng đế, thật đáng ghi nhớ qua mọi thời đại!

Sự hân hoan này làm tôi thấy gai người; không phải vì cái chết của những kẻ đó, bởi họ đáng bị như vậy, mà là vì cái chết vĩnh viễn trong ngọn lửa rực cháy đỏ rực. Nó làm tôi rợn tóc móc. Trong cả cuộc đời mình, tôi không biết quá ba người, hoặc có lẽ là bốn người, mà tôi lại cảm thấy vui mừng khi thấy họ phải quằn quại trong ngọn lửa đó dù chỉ trong một năm, nói chi đến vĩnh viễn. Tôi tin rằng mình sẽ nguôi khoai trước khi hết một năm, và sẽ cứu họ ra nếu có thể. Tôi nghĩ rằng rốt cuộc, nếu vợ và con của một kẻ nào đó, những người chẳng làm hại tôi, đến khóc lóc van xin, tôi sẽ không thể chịu đựng nổi; tôi biết mình sẽ tha thứ và thả hắn ra, ngay cả khi hắn từng xâm phạm một tu viện. Henry xứ Huntington đã theo dõi Godfrey và Marmion gần bảy trăm năm mươi năm nay, nhưng tôi thì không thể làm thế, tôi biết mình không thể. Bản chất tôi vốn mềm mỏng và dịu dàng, tôi hẳn đã tha thứ cho họ bảy mươi lần bảy từ lâu rồi. Và tôi nghĩ Thượng đế cũng vậy; nhưng đây chỉ là một ý kiến cá nhân, chứ không mang tính thẩm quyền như những lời giải thích của Henry xứ Huntington. Tôi cũng có thể học cách giải thích, nhưng tôi chưa bao giờ thử; tôi có quá ít thời gian.

Xuyên suốt cuốn sách của mình, Henry luôn thể hiện sự am hiểu về các ý định của Thượng đế, cũng như lý do cho những ý định đó. Đôi khi—thực ra là rất thường xuyên—hành động xảy ra sau ý định một khoảng thời gian dài đến mức người ta phải tự hỏi làm sao Henry có thể ghép đúng một hành động trong số hàng trăm hành động với một ý định trong số hàng trăm ý định và lần nào cũng đúng khi có quá nhiều sự lựa chọn giữa các hành động và ý định như vậy. Đôi khi một kẻ xúc phạm Thượng đế bằng một tội ác, và bị trừng phạt vì điều đó ba mươi năm sau; trong thời gian đó hắn đã phạm phải hàng triệu tội ác khác: chẳng sao cả, Henry có thể chỉ ra chính xác tội ác nào đã kéo dòi bọ đến. Dòi bọ thời đó thường được dùng để hạ sát những kẻ đặc biệt độc ác. Ngày nay cách này đã không còn, nhưng thời xưa đó là một phương pháp ưa thích. Nó luôn đánh dấu một trường hợp của “cơn thịnh nộ”. Chẳng hạn như:

... Thượng đế công minh trừng phạt sự phản bội của Robert Fitzhilderbrand, một con dòi đã sinh ra trong nội tạng hắn, từ từ gặm nhấm đường ruột và béo mầm trên cơ thể kẻ bị ruồng bỏ, cho đến khi hắn phải chịu những đớn đau tột cùng và thốt ra những tiếng rên siết đắng chát, kết thúc cuộc đời bằng một sự trừng phạt đích đáng.—(Trang 400.)

Đó có lẽ là một con cá sấu, nhưng chúng ta không thể biết chắc; chúng ta chỉ biết đó là một giống loài đặc biệt, chỉ được dùng để thể hiện cơn thịnh nộ. Một số nhà thẩm quyền cho rằng đó là một con thằn lằn ngư, nhưng còn rất nhiều nghi vấn.

Tuy nhiên, có một điều chúng ta biết chắc; đó là con dòi đó đã chực chờ từ nhiều năm trước. Robert F. từng xâm phạm một tu viện một lần; từ đó hắn đã phạm vô số tội ác không thể nhắc tên, và chúng đều được chấp thuận—trong sự bất bình—nhưng việc tàn phá tu viện thì chưa bao giờ bị quên lửng hay tha thứ, và con dòi cuối cùng đã đến.

Tại sao những sự trừng phạt này lại bị hoãn lại một cách kỳ lạ như vậy? Mưu cầu điều gì từ việc đó? Henry xứ Huntington thực sự biết rõ các sự thật, hay ông ta chỉ đang đoán mò? Đôi khi tôi bị thuyết phục một nửa rằng ông ta chỉ là một kẻ đoán mò, và lại còn đoán không giỏi. Trí tuệ của thần linh chắc chắn phải có chất lượng tốt hơn những gì ông ta thêu dệt nên.

Năm trăm năm trước thời của Henry, một vài dự báo về mục đích của Chúa đã được một Giáo hoàng đưa ra, người đã nhận thức được qua một số điềm báo hoàn toàn đáng tin cậy do Thượng đế cung cấp cho những người thân cận của Ngài rằng ngày tận thế

... sắp đến. Nhưng khi ngày tận thế đến gần, nhiều điều chưa từng xảy ra trước đây sẽ xuất hiện, như những biến đổi trong không khí, những điềm báo kinh hoàng trên bầu trời, những cơn dông bão trái với quy luật tự nhiên của các mùa, chiến tranh, nạn đói, dịch bệnh, động đất ở nhiều nơi; tất cả những điều này sẽ không xảy ra trong thời đại của chúng ta, mà sau thời đại của chúng ta mọi chuyện sẽ ứng nghiệm.

Tuy nhiên, ngày kết thúc đã đến gần đến mức những điềm báo này được “gửi đến trước để chúng ta có thể chăm lo cho linh hồn mình và chuẩn bị sẵn sàng đối mặt với bản án đang đến gần.”

Đó là chuyện của mười ba trăm năm trước. Điều này thực ra chẳng có chút tiến bộ nào so với công việc của các thầy bói La Mã.

Nguồn: Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 31 tháng 8 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.