Chàng thanh niên. Ông cứ dùng mãi từ đó—huấn luyện. Ý ông muốn nói cụ thể là—
Ông lão. Học tập, chỉ dẫn, thuyết giảng, bài giảng đạo? Những thứ đó cũng nằm trong số đó—nhưng không phải phần lớn. Ý ta là tất cả những ảnh hưởng từ bên ngoài. Có hàng triệu ảnh hưởng như thế. Từ khi còn trong nôi cho đến lúc xuống lỗ, trong suốt những giờ phút thức giấc, con người luôn chịu sự huấn luyện. Đứng ở hàng đầu tiên trong số những người huấn luyện chính là sự giao du, môi trường sống. Chính môi trường con người xung quanh tác động đến tâm trí và cảm xúc của anh ta, cung cấp lý tưởng cho anh ta, đưa anh ta vào con đường và giữ anh ta trên con đường đó. Nếu rời bỏ con đường ấy, anh ta sẽ thấy mình bị xua đuổi bởi những người anh ta yêu thương và kính trọng nhất, những người mà sự công nhận của họ có giá trị nhất đối với anh ta. Anh ta là một con tắc kè hoa; theo quy luật tự nhiên, anh ta mang màu sắc của nơi mình tìm đến. Những ảnh hưởng quanh anh ta tạo ra sự yêu thích, sự ghét bỏ, quan điểm chính trị, thị hiếu, đạo đức, tôn giáo của anh ta. Anh ta chẳng tự tạo ra điều nào trong số ấy. Anh ta nghĩ là mình tự tạo ra, nhưng đó là vì anh ta chưa suy xét kỹ vấn đề. Cậu từng gặp những người theo giáo phái Presbyterians chưa?
Chàng thanh niên. Nhiều rồi ạ.
Ông lão. Làm sao mà họ lại trở thành tín đồ Presbyterians chứ không phải Congregationalists? Và tại sao những người Congregationalists lại không phải là Baptists, rồi Baptists không phải Roman Catholics, Roman Catholics không phải Buddhists, Buddhists không phải Quakers, Quakers không phải Episcopalians, Episcopalians không phải Millerites, Millerites không phải Hindus, Hindus không phải Atheists, Atheists không phải Spiritualists, Spiritualists không phải Agnostics, Agnostics không phải Methodists, Methodists không phải Confucians, Confucians không phải Unitarians, Unitarians không phải Mohammedans, Mohammedans không phải Salvation Warriors, Salvation Warriors không phải Zoroastrians, Zoroastrians không phải Christian Scientists, và Christian Scientists không phải Mormons—vân vân?
Chàng thanh niên. Ông tự trả lời câu hỏi của mình đi thì hơn.
Ông lão. Danh sách các giáo phái đó không phải là bản ghi chép về sự học hỏi, tìm tòi, hay kiếm tìm ánh sáng; nó chủ yếu (và một cách mỉa mai) cho thấy những gì sự giao du tạo nên. Nếu cậu biết quốc tịch của một người, cậu có thể đoán chính xác tới từng sợi tóc sắc thái tôn giáo của anh ta: người Anh—Protestant; người Mỹ—tương tự; người Tây Ban Nha, người Pháp, người Ireland, người Ý, người Nam Mỹ—Roman Catholic; người Nga—Greek Catholic; người Thổ Nhĩ Kỳ—Mohammedan; và cứ thế. Và khi cậu biết sắc thái tôn giáo của người đó, cậu biết loại sách tôn giáo nào anh ta sẽ đọc khi muốn tìm thêm ánh sáng, và loại sách nào anh ta né tránh, e rằng vô tình nhận được nhiều ánh sáng hơn mức mình muốn. Ở Mỹ, nếu cậu biết một cử tri đeo "vòng cổ" của đảng phái nào, cậu sẽ biết môi trường giao du của anh ta là gì, làm sao anh ta có quan điểm chính trị đó, loại báo chí nào anh ta đọc để mở mang đầu óc, loại báo nào anh ta siêng năng né tránh, và loại cuộc mít tinh nào anh ta tham dự để mở rộng kiến thức chính trị, cũng như loại mít tinh nào anh ta không tham dự, trừ khi đến để phản bác học thuyết của họ bằng gạch đá. Chúng ta luôn nghe về những người đi khắp nơi tìm kiếm sự thật. Ta chưa từng thấy một mẫu người (vĩnh cửu) như vậy bao giờ. Ta nghĩ người như thế chưa từng tồn tại. Nhưng ta đã thấy vài người hoàn toàn chân thành, những người nghĩ rằng mình là những Người Tìm Kiếm Sự Thật (vĩnh cửu). Họ tìm kiếm một cách siêng năng, kiên trì, cẩn trọng, thận trọng, sâu sắc, với sự trung thực hoàn hảo và phán đoán được điều chỉnh tinh vi—cho đến khi họ tin rằng không còn nghi ngờ hay thắc mắc gì nữa, họ đã tìm thấy Sự Thật. Đó là kết thúc của cuộc tìm kiếm. Thời gian còn lại của cuộc đời, người đó dành để đi tìm những tấm lợp nhằm che chắn cho Sự Thật của mình khỏi nắng mưa. Nếu tìm kiếm Sự Thật chính trị, anh ta tìm thấy nó trong một hoặc một vài trong số hàng trăm phúc âm chính trị đang cai trị con người trên trái đất; nếu tìm kiếm Tôn Giáo Duy Nhất Đúng Đắn, anh ta tìm thấy nó trong một hoặc một vài trong số ba ngàn tôn giáo đang có trên thị trường. Trong bất kỳ trường hợp nào, khi đã tìm thấy Sự Thật, anh ta không tìm kiếm thêm nữa; mà từ ngày đó trở đi, một tay cầm mỏ hàn, một tay cầm gậy gộc, anh ta hàn gắn những chỗ rò rỉ và lý lẽ với những kẻ phản đối. Đã có vô số Người Tìm Kiếm Sự Thật Tạm Thời—cậu đã bao giờ nghe nói về một người vĩnh cửu chưa? Ngay trong bản chất của con người, một người như vậy là không thể tồn tại. Tuy nhiên, trở lại với chủ đề—huấn luyện: mọi sự huấn luyện đều là một hình thức này hay hình thức khác của ảnh hưởng bên ngoài, và sự giao du là phần lớn nhất trong đó. Con người không bao giờ là gì khác ngoài những gì mà các ảnh hưởng bên ngoài đã tạo nên anh ta. Chúng huấn luyện anh ta đi xuống hoặc huấn luyện anh ta đi lên—nhưng chúng huấn luyện anh ta; chúng tác động lên anh ta mọi lúc mọi nơi.
Chàng thanh niên. Vậy nếu do những biến cố ngẫu nhiên của cuộc sống mà anh ta rơi vào hoàn cảnh tồi tệ, thì theo quan điểm của ông, anh ta không còn cứu chữa được nữa—anh ta buộc phải bị huấn luyện đi xuống.
Ông lão. Không còn cứu chữa sao? Không còn cứu chữa cho con tắc kè hoa này sao? Nhầm rồi. Chính trong bản chất tắc kè hoa lại ẩn chứa vận may lớn nhất của anh ta. Anh ta chỉ cần thay đổi môi trường sống—những mối giao du của mình. Nhưng động lực để làm điều đó phải đến từ bên ngoài—anh ta không thể tự mình khởi phát nó với mục đích đó. Đôi khi một điều rất nhỏ nhặt và ngẫu nhiên có thể cung cấp cho anh ta động lực ban đầu và đưa anh ta vào một con đường mới, với một ý tưởng mới. Một lời nhận xét tình cờ của người yêu, "Em nghe nói anh là kẻ hèn nhát," có thể tưới nước cho một hạt giống mầm mống, để nó nảy mầm, ra hoa, phát triển rực rỡ, và cuối cùng đơm hoa kết trái bất ngờ—trên chiến trường. Lịch sử loài người đầy rề những tai nạn như vậy. Tai nạn gãy chân đã đưa một người lính tục tĩu và thô bạo vào những ảnh hưởng tôn giáo và cung cấp cho anh ta một lý tưởng mới. Từ tai nạn đó đã nảy sinh Dòng Tên (Order of the Jesuits), và nó đã làm rung chuyển các ngai vàng, thay đổi các chính sách và làm nên những công trình to lớn trong suốt hai trăm năm—và sẽ còn tiếp tục. Việc tình cờ đọc một cuốn sách hoặc một đoạn văn trên tờ báo có thể đưa một người vào một lối đi mới, khiến anh ta từ bỏ những mối giao du cũ và tìm kiếm những mối giao du mới ăn khớp với lý tưởng mới của mình: và kết quả đối với người đó có thể là sự thay đổi hoàn toàn lối sống.
Chàng thanh niên. Có phải ông đang ám chỉ đến một phương cách hành động?
Ông lão. Không phải phương cách mới—mà là một phương cách cũ. Cổ xưa như loài người.
Chàng thanh niên. Đó là gì vậy?
Ông lão. Chỉ đơn giản là đặt bẫy con người. Những chiếc bẫy được gài mồi bằng những động lực ban đầu hướng tới các lý tưởng cao đẹp. Đó là điều người đi phát truyền giáo làm. Đó là điều nhà truyền giáo làm. Đó là điều các chính phủ nên làm.
Chàng thanh niên. Háo chẳng phải họ đang làm sao?
Ông lão. Mới làm được một mặt, mặt khác thì chưa. Họ cách ly bệnh nhân đậu mùa khỏi những người khỏe mạnh, nhưng khi xử lý tội phạm, họ lại tống người khỏe mạnh vào trại bệnh cùng với kẻ mắc bệnh. Nghĩa là họ nhốt những kẻ mới phạm tội chung với những tội phạm cựu trào. Điều này sẽ tốt nếu con người vốn dĩ có xu hướng hướng thiện, nhưng con người không như vậy, và thế là sự giao du khiến những kẻ mới phạm tội trở nên tồi tệ hơn so với lúc họ mới bị giam giữ. Đôi khi đó là một hình phạt cực kỳ tàn nhẫn đối với những người tương đối vô tội. Họ treo cổ một người—đó là hình phạt nhỏ nhặt; nhưng điều đó làm tan nát trái tim gia đình anh ta—đó mới là hình phạt nặng nề. Họ cho một kẻ đánh vợ đi tù êm ấm và được nuôi ăn, rồi để lại người vợ và gia đình vô tội của hắn chết đói.
Chàng thanh niên. Ông có tin vào thuyết cho rằng con người được trang bị khả năng nhận thức trực giác về thiện và ác không?
Ông lão. Adam còn chẳng có điều đó.
Chàng thanh niên. Nhưng liệu con người có có được nó kể từ đó không?
Ông lão. Không. Ta nghĩ anh ta chẳng có trực giác thuộc bất kỳ loại nào. Anh ta có được mọi ý tưởng, mọi ấn tượng từ bên ngoài. Ta cứ nhắc đi nhắc lại điều này, với hy vọng rằng ta có thể khắc ghi nó vào tâm trí cậu để cậu hứng thú tự mình quan sát, kiểm chứng xem nó đúng hay sai.
Chàng thanh niên. Ông lấy đâu ra những quan điểm chướng tai gai mắt này vậy?
Ông lão. Từ bên ngoài. Ta đâu có phát minh ra chúng. Chúng được thu thập từ hàng ngàn nguồn vô danh. Chủ yếu là thu thập một cách vô thức.
Chàng thanh niên. Ông không tin rằng Chúa có thể tạo ra một con người vốn dĩ trung thực sao?
Ông lão. Có chứ, ta biết Ngài có thể. Ta cũng biết rằng Ngài chưa bao giờ tạo ra một người như vậy.
Chàng thanh niên. Một nhà quan sát khôn ngoan hơn ông từng ghi lại thực tế rằng "một người trung thực là tác phẩm cao quý nhất của Chúa."
Ông lão. Người đó không ghi lại một thực tế, người đó ghi lại một sự dối trá. Nghe thì bay bổng, kêu đấy, nhưng không đúng. Chúa tạo ra một con người với những khả năng trung thực và không trung thực bên trong anh ta rồi dừng lại ở đó. Sự giao du của người đó phát triển các khả năng—tập hợp này hoặc tập hợp kia. Kết quả tương ứng là một người trung thực hoặc một kẻ dối trá.
Chàng thanh niên. Và người trung thực thì không đáng được—
Ông lão. Khen ngợi? Không. Ta phải nói với cậu bao nhiêu lần nữa đây? Anh ta không phải là kiến trúc sư tạo nên sự trung thực của chính mình.
Chàng thanh niên. Này nhé, vậy tôi xin hỏi ông việc huấn luyện con người sống một cuộc đời đạo đức thì có ý nghĩa gì? Được lợi lộc gì từ việc đó?
Ông lão. Bản thân người đó thu được lợi ích lớn từ việc đó, và đó là điều chính yếu—đối với anh ta. Anh ta không phải là mối nguy hiểm cho hàng xóm, không gây thiệt hại cho họ—và vì thế họ thu được lợi ích từ đức tính của anh ta. Đó là điều chính yếu đối với họ. Việc huấn luyện có thể làm cho cuộc sống này tương đối dễ chịu cho các bên liên quan; việc bỏ mặc sự huấn luyện này có thể khiến cuộc sống này trở thành mối nguy hiểm và đau khổ thường trực cho các bên liên quan.
Chàng thanh niên. Ông từng nói huấn luyện là tất cả; rằng huấn luyện chính là bản thân con người, vì nó tạo nên con người anh ta.
Ông lão. Ta nói huấn luyện và một điều nữa. Hãy để điều nữa đó qua một bên lúc này đã. Cậu định nói gì?
Chàng thanh niên. Nhà chúng tôi có một người tớ già. Bà ấy đã ở với chúng tôi hai mươi hai năm. Sự phục vụ của bà ấy từng không chê vào đâu được, nhưng bây giờ bà ấy rất hay quên. Tất cả chúng tôi đều yêu quý bà ấy; chúng tôi đều nhận ra bà ấy không thể tránh khỏi sự suy yếu do tuổi tác mang lại; những người còn lại trong gia đình không mắng mỏ bà ấy vì những chốn hay quên, nhưng đôi khi tôi lại làm vậy—tôi dường như không thể kiềm chế được mình. Tôi có cố gắng không? Tôi có cố gắng chứ. Thế rồi, sáng nay khi chuẩn bị ăn mặc, chưa có quần áo sạch nào được sửa soạn ra. Tôi nổi giận; tôi dễ nổi giận và nhanh nhất là vào buổi sáng sớm. Tôi bấm chuông; và ngay lập tức bắt đầu tự dặn mình không được tỏ ra giận dữ, phải cẩn thận và nói năng nhẹ nhàng. Tôi tự gìn giữ mình rất cẩn thận. Tôi thậm chí đã chọn đúng từ ngữ mình sẽ dùng: "Bà lại quên quần áo sạch rồi, Jane." Khi bà ấy xuất hiện ở cửa, tôi mở miệng định nói câu đó—thì từ miệng tôi, bị thúc đẩy bởi một làn sóng giận dữ tức thì mà tôi không ngờ tới và không kịp khống chế, lại thốt ra lời khiển trách gay gắt: "Bà lại quên chúng rồi đấy!" Ông nói con người luôn làm điều gì mang lại sự hài lòng nhất cho Chủ Nhân Bên Trong của mình. Vậy động lực chuẩn bị cẩn thận để giúp người tớ gái khỏi bị tủi hổ vì lời khiển trách đến từ đâu? Điều đó có đến từ Chủ Nhân, kẻ luôn quan tâm trước hết đến bản thân mình không?
Ông lão. Chắc chắn rồi. Không có nguồn nào khác cho bất kỳ động lực nào. Thứ yếu là cậu chuẩn bị để cứu cô gái khỏi bị tủi hổ, nhưng chủ yếu mục đích của nó là cứu chính cậu, bằng cách làm hài lòng Chủ Nhân.
Chàng thanh niên. Ý ông là sao?
Ông lão. Có thành viên nào trong gia đình từng van xin cậu hãy kiềm chế tính khí và đừng gắt gỏng với cô gái không?
Chàng thanh niên. Có. Mẹ tôi.
Ông lão. Cậu yêu bà ấy chứ?
Chàng thanh niên. Ôi, còn hơn thế nữa!
Ông lão. Cậu sẽ luôn làm bất cứ điều gì trong khả năng của mình để làm bà ấy vui lòng chứ?
Chàng thanh niên. Làm bất cứ điều gì để mẹ vui lòng là một niềm hân hoan đối với tôi!
Ông lão. Tại sao? Cậu làm điều đó để nhận thù lao, hoàn toàn—vì lợi nhuận. Loại lợi nhuận nào cậu kỳ vọng và chắc chắn nhận được từ khoản đầu tư đó?
Chàng thanh niên. Về mặt cá nhân? Không có gì. Làm mẹ vui lòng là đủ rồi.
Ông lão. Như vậy xem ra, mục đích của cậu, trước hết, không phải là cứu cô gái khỏi bị tủi hổ, mà là làm hài lòng mẹ cậu. Lại xem ra, việc làm hài lòng mẹ cậu mang lại cho cậu một niềm vui lớn. Đó chẳng phải là lợi nhuận cậu thu được từ khoản đầu tư sao? Đó chẳng phải là lợi nhuận thực sự và lợi nhuận đầu tiên sao?
Chàng thanh niên. Ôi, được rồi? Nói tiếp đi.
Ông lão. Trong mọi giao dịch, Chủ Nhân Bên Trong luôn chăm sóc sao cho cậu nhận được lợi nhuận đầu tiên. Nếu không thì không có giao dịch nào cả.
Chàng thanh niên. Chà, vậy nếu tôi rất thèm muốn lợi nhuận đó và chú tâm vào nó đến thế, tại sao tôi lại ném nó đi bằng cách nổi giận?
Ông lão. Để thu về một khoản lợi nhuận khác đột nhiên vượt qua nó về mặt giá trị.
Chàng thanh niên. Nó ở đâu ra?
Ông lão. Phục kích đằng sau bản tính bẩm sinh của cậu, và chờ đợi cơ hội. Tính khí nóng nảy bẩm sinh của cậu đột nhiên nhảy lên hàng đầu, và trong khoảnh khắc đó, ảnh hưởng của nó mạnh hơn ảnh hưởng của mẹ cậu, và xóa bỏ nó. Trong trường hợp đó, cậu khao khát phát ra một lời khiển trách gay gắt và tận hưởng nó. Cậu đã tận hưởng nó, đúng không?
Chàng thanh niên. Trong—trong một phần tư giây. Đúng—tôi đã làm vậy.
Ông lão. Rất tốt, đúng như ta đã nói: điều gì mang lại cho cậu niềm vui nhất, sự hài lòng nhất, trong bất kỳ khoảnh khắc nào hoặc một phần nhỏ của khoảnh khắc, là điều cậu sẽ luôn làm. Cậu phải làm hài lòng ý thích mới nhất của Chủ Nhân, bất kể đó là gì.
Chàng thanh niên. Nhưng khi nước mắt trào ra trong mắt người tớ già, tôi đã ước gì có thể chặt phăng bàn tay mình vì những gì mình đã làm.
Ông lão. Đúng. Cậu thấy đấy, cậu đã tự làm tủi hổ bản thân, cậu đã tự chuốc lấy đau khổ. Không có gì có tầm quan trọng hàng đầu đối với một người ngoại trừ những kết quả gây hại hoặc mang lại lợi ích cho anh ta—tất cả những thứ còn lại đều là thứ yếu. Chủ Nhân của cậu không hài lòng với cậu, mặc dù cậu đã vâng lời hắn. Hắn yêu cầu sự ăn ăn tức thì; cậu lại vâng lời; cậu phải làm vậy—chẳng bao giờ thoát khỏi mệnh lệnh của hắn. Hắn là một chủ nhân khắc nghiệt và thất thường; hắn đổi ý trong một phần tư giây, nhưng cậu phải sẵn sàng vâng lời, và cậu sẽ luôn vâng lời. Nếu hắn yêu cầu sự ăn ăn, cậu làm hài lòng hắn, cậu sẽ luôn cung cấp điều đó. Hắn phải được chăm sóc, cưng chiều, nuông chiều và giữ cho hài lòng, bất kể cái giá thế nào.
Chàng thanh niên. Huấn luyện! Ôi, nó có ích gì cơ chứ? Chẳng phải tôi, và chẳng phải mẹ tôi đã cố gắng huấn luyện tôi đến mức tôi không còn gắt gỏng với người tớ đó nữa sao?
Ông lão. Cậu chưa bao giờ nhịn được một lời mắng mỏ nào sao?
Chàng thanh niên. Ôi, dĩ nhiên là có—nhiều lần rồi.
Ông lão. Năm nay nhiều lần hơn năm ngoái chứ?
Chàng thanh niên. Vâng, nhiều hơn hẳn.
Ông lão. Năm ngoái nhiều lần hơn năm trước nữa chứ?
Chàng thanh niên. Vâng.
Ông lão. Vậy là có sự cải thiện lớn trong hai năm qua đúng không?
Chàng thanh niên. Vâng, không còn nghi ngờ gì nữa.
Ông lão. Vậy câu hỏi của cậu đã được trả lời rồi. Cậu thấy huấn luyện có ích đấy chứ. Hãy tiếp tục. Tiếp tục một cách trung thành. Cậu đang làm tốt đấy.
Chàng thanh niên. Sự cải tạo của tôi liệu có đạt đến mức hoàn hảo không?
Ông lão. Có chứ. Tới giới hạn của cậu.
Chàng thanh niên. Giới hạn của tôi? Ý ông là sao khi nói thế?
Ông lão. Cậu nhớ là cậu đã nói rằng ta bảo huấn luyện là tất cả. Ta đã sửa lại cho cậu, và nói "huấn luyện và một điều nữa." Điều nữa đó là khí chất—nghĩa là bản tính mà cậu sinh ra đã có. Cậu không thể nhổ bỏ bản tính của mình hay bất kỳ mẩu nhỏ nào của nó—cậu chỉ có thể tạo áp lực lên nó, giữ nó xuống và làm nó dịu đi. Cậu có tính khí nóng nảy đúng không?
Chàng thanh niên. Vâng.
Ông lão. Cậu sẽ không bao giờ loại bỏ được nó; nhưng bằng cách canh chừng nó, cậu có thể đè nén nó gần như toàn bộ thời gian. Sự tồn tại của nó là giới hạn của cậu. Sự cải tạo của cậu sẽ không bao giờ hoàn toàn đạt đến mức hoàn hảo, vì tính khí của cậu thỉnh thoảng sẽ đánh bại cậu, nhưng cậu sẽ đến đủ gần. Cậu đã có những tiến bộ có giá trị và có thể tiến bộ thêm nữa. Huấn luyện có ích chứ. Có ích vô cùng. Chẳng mấy chà cậu sẽ đạt đến một giai đoạn phát triển mới, khi đó sự tiến bộ của cậu sẽ dễ dàng hơn; dù sao cũng sẽ tiến triển trên một nền tảng đơn giản hơn.
Chàng thanh niên. Giải thích đi.
Ông lão. Bây giờ cậu nhịn mắng mỏ là để làm hài lòng chính mình bằng cách làm hài lòng mẹ cậu; sắp tới, việc chỉ riêng sự chiến thắng tính khí của mình thôi cũng sẽ làm thỏa mãn lòng kiêu hãnh của cậu và mang lại một niềm vui, sự hài lòng ngon lành hơn cả sự tán thành mà mẹ cậu dành cho cậu lúc này. Khi đó cậu sẽ nỗ lực vì chính mình một cách trực tiếp và ngay từ đầu, chứ không phải bằng con đường vòng vèo qua mẹ cậu. Điều đó đơn giản hóa vấn đề, và nó cũng làm tăng thêm động lực.
Chàng thanh niên. Ôi trời! Nhưng tôi sẽ không bao giờ đạt đến điểm mà tôi tha cho cô gái vì mục đích trước hết là vì cô ấy, chứ không phải vì tôi sao?
Ông lão. Sao lại không—có chứ. Trên thiên đường.
Chàng thanh niên. (Sau một hồi trầm ngâm) Khí chất. Chà, tôi thấy người ta phải tính đến khí chất. Đúng là một yếu tố lớn. Mẹ tôi là người chu đáo và không nóng tính. Khi ăn mặc xong, tôi sang phòng mẹ; bà không có ở đó; tôi gọi, bà trả lời từ phòng tắm. Tôi nghe tiếng nước chảy. Tôi hỏi. Bà trả lời, không hề gắt gỏng, rằng Jane đã quên chuẩn bị nước tắm cho bà, và bà đang tự chuẩn bị. Tôi đề nghị bấm chuông, nhưng bà nói: "Đừng, đừng làm thế; làm vậy chỉ khiến cô ấy tủi thân vì phải đối mặt với sự sót xót của mình, và sẽ là một lời khiển trách; cô ấy không đáng bị như vậy—cô ấy không có lỗi vì trí nhớ giở trò với mình." Tôi hỏi này—mẹ tôi có Chủ Nhân Bên Trong không?—và hắn đã ở đâu?
Ông lão. Hắn đã ở đó. Ở đó, và trông chừng sự bình yên, niềm vui và sự hài lòng của chính mình. Sự tủi thân của cô gái sẽ làm mẹ cậu đau lòng. Nếu không thì cô gái đã bị gọi lên bằng chuông, chịu cả sự tủi thân lẫn những thứ khác. Ta biết những người phụ nữ sẽ nhận được niềm vui số một từ việc bấm chuông gọi Jane lên—và thế là họ nhất định sẽ nhấn nút và tuân theo quy luật của bản chất và sự huấn luyện của họ, vốn là đầy tớ của Chủ Nhân Bên Trong họ. Rất có thể một phần sự nhẫn nại của mẹ cậu đến từ sự huấn luyện. Loại huấn luyện tốt—mà chức năng tốt nhất và cao nhất của nó là chăm lo sao cho mỗi khi nó mang lại sự hài lòng cho học trò của mình, một lợi ích gián tiếp sẽ đến với những người khác.
Chàng thanh niên. Nếu ông định đúc kết kế hoạch cải thiện tình trạng chung của nhân loại thành một lời khuyên bảo, ông sẽ dùng từ ngữ như thế nào?
Khuyên bảo
Ông lão. Hãy siêng năng huấn luyện các lý tưởng của cậu đi lên và tiếp tục đi lên hướng tới một đỉnh cao, nơi cậu sẽ tìm thấy niềm vui lớn nhất của mình trong cách hành xử mà vừa làm hài lòng cậu, vừa chắc chắn mang lại lợi ích cho người hàng xóm và cộng đồng của cậu.
Chàng thanh niên. Đó có phải là một phúc âm mới không?
Ông lão. Không.
Chàng thanh niên. Nó đã được dạy trước đây chưa?
Ông lão. Từ mười ngàn năm trước rồi.
Chàng thanh niên. Bởi ai?
Ông lão. Tất cả các tôn giáo lớn—tất cả các phúc âm lớn.
Chàng thanh niên. Vậy thì chẳng có gì mới về nó cả?
Ông lão. Ô có chứ. Lần này nó được phát biểu một cách thẳng thắn. Điều đó chưa từng được làm trước đây.
Chàng thanh niên. Ý ông là sao?
Ông lão. Chẳng phải ta đã đặt cậu lên hàng đầu, còn người hàng xóm và cộng đồng của cậu ở phía sau sao?
Chàng thanh niên. Chà, đúng vậy, đó quả là một sự khác biệt, đúng là thế.
Ông lão. Sự khác biệt giữa việc nói thẳng và nói quanh co; sự khác biệt giữa sự bộc bạch và sự gian dối.
Chàng thanh niên. Giải thích đi.
Ông lão. Những kẻ khác đưa cho cậu hàng trăm món hối lộ để trở nên tốt lành, do đó thừa nhận rằng Chủ Nhân bên trong cậu phải được xoa dịu và làm hài lòng trước tiên, và rằng cậu sẽ chẳng làm điều gì trực tiếp nếu không vì hắn; sau đó họ quay ngoắt lại và yêu cầu cậu làm điều tốt chủ yếu vì người khác; và làm nhiệm vụ chủ yếu vì nghĩa vụ; và thực hiện các hành vi hy sinh bản thân. Do đó, ngay từ đầu tất cả chúng ta đều đứng trên cùng một mảnh đất—thừa nhận Quốc Vương tối cao và tuyệt đối cư ngụ trong con người, và tất cả chúng ta đều mấp máy luồn cúi trước hắn và cầu xin hắn; sau đó những kẻ khác né tránh và lắt léo, quay ngoắt lại và đổi hình thức kêu gọi của họ một cách không thẳng thắn, không nhất quán và thiếu logic, rồi hướng sự thuyết phục của nó đến các quyền năng hàng nhì của con người và đến các quyền năng không hề tồn tại trong anh ta, do đó nâng chúng lên hàng đầu; trong khi trong Lời Khuyên Bảo của ta, ta bám chặt một cách logic và nhất quán vào vị trí ban đầu: Ta đặt các yêu cầu của Chủ Nhân Bên Trong lên hàng đầu, và giữ chúng ở đó.
Chàng thanh niên. Nếu chúng ta chấp nhận, vì mục đích tranh luận, rằng kế hoạch của ông và các kế hoạch khác đều nhằm tới và tạo ra cùng một kết quả—sống đúng đắn—thì kế hoạch của ông có ưu thế hơn các kế hoạch khác không?
Ông lão. Có một ưu thế, đúng—một ưu thế lớn. Nó không có sự giấu giếm, không có sự lừa dối. Khi một người sống một cuộc đời đúng đắn và có giá trị theo nó, anh ta không bị lừa dối về động cơ chính thực sự thúc đẩy anh ta làm điều đó—trong những trường hợp khác thì anh ta bị lừa dối.
Chàng thanh niên. Đó có phải là một ưu thế không? Liệu sống một cuộc đời cao đẹp vì một lý do tầm thường có phải là ưu thế không? Trong những trường hợp khác, anh ta sống cuộc đời cao đẹp dưới ấn tượng rằng mình đang sống vì một lý do cao đẹp. Đó chẳng phải là một ưu thế sao?
Ông lão. Có thể là vậy. Cùng một ưu thế mà anh ta có thể nhận được từ việc nghĩ mình là một công tước, và sống cuộc đời của một công tước rồi phô trương trong bộ dạng cùng bộ lông công tước, khi anh ta hoàn toàn không phải là công tước, và có thể tìm ra điều đó nếu anh ta chịu tra cứu hồ sơ gia tộc.
Chàng thanh niên. Nhưng dù sao đi nữa, anh ta buộc phải đóng vai một công tước; anh ta thò tay vào túi và làm việc thiện nguyện trên một quy mô lớn nhất có thể, và điều đó có lợi cho cộng đồng.
Ông lão. Anh ta có thể làm điều đó mà không cần phải là công tước.
Chàng thanh niên. Nhưng liệu anh ta có làm không?
Ông lão. Cậu không thấy mình đang đi đến đâu sao?
Chàng thanh niên. Đi đến đâu cơ?
Ông lão. Đến quan điểm của các kế hoạch khác: Rằng đó là đạo đức tốt khi để một công tước ngu dốt làm những việc thiện nguyện phô trương vì lòng tự trọng của mình, một động cơ khá thấp hèn, và tiếp tục làm chúng mà không được cảnh báo, e rằng nếu anh ta biết được động cơ thực sự thúc đẩy chúng, anh ta có thể thắt thắt túi tiền và ngừng làm người tốt?
Chàng thanh niên. Nhưng chẳng phải tốt nhất là để anh ta tiếp tục ngu dốt, chừng nào anh ta còn nghĩ mình đang làm điều tốt vì người khác sao?
Ông lão. Có thể là vậy. Đó là vị thế của các kế hoạch khác. Họ nghĩ rằng trò lừa bịp là thứ đạo đức đủ tốt khi cổ tức thu về là những hành động tốt và cách hành xử đẹp đẽ.
Chàng thanh niên. Theo ý kiến của tôi, dưới kế hoạch của ông về việc một người làm việc tốt trước hết là vì chính mình, thay vì trước hết là vì bản thân việc tốt đó, sẽ chẳng có ai làm việc tốt nào cả.
Ông lão. Gần đây cậu có thực hiện việc thiện nguyện nào không?
Chàng thanh niên. Có. Sáng nay.
Ông lão. Cho biết chi tiết xem.
Chàng thanh niên. Túp lều của bà lão da đen từng nuôi tôi từ nhỏ và từng cứu sống tôi một lần bằng cách mạo hiểm mạng sống của chính bà ấy đã bị cháy đêm qua, và sáng nay bà ấy đến khóc lóc, xin tiền để dựng lại túp lều khác.
Ông lão. Cậu đã cung cấp tiền chứ?
Chàng thanh niên. Dĩ nhiên rồi.
Ông lão. Cậu đã vui vì mình có tiền chứ?
Chàng thanh niên. Tiền ư? Tôi làm gì có. Tôi đã bán con ngựa của mình.
Ông lão. Cậu đã vui vì mình có con ngựa chứ?
Chàng thanh niên. Tất nhiên là tôi vui rồi; vì nếu tôi không có con ngựa, tôi đã bất lực, và mẹ tôi đã giành mất cơ hội giúp bà Sally già gầy dựng lại.
Ông lão. Cậu đã vô cùng vui mừng vì mình không bị rơi vào thế bất lực chứ?
Chàng thanh niên. Ôi, đúng là thế!
Ông lão. Vậy thì—
Chàng thanh niên. Dừng lại ở đó! Tôi biết toàn bộ danh mục câu hỏi của ông rồi, và tôi có thể trả lời từng câu một mà ông không cần lãng phí thời gian để hỏi; nhưng tôi sẽ tóm tắt toàn bộ vấn đề trong một lời nhận xét duy nhất: Tôi đã làm việc từ thiện đó biết rằng đó là vì hành động đó sẽ mang lại cho tôi một niềm vui tuyệt vời, và vì lòng biết ơn cùng sự hân hoan cảm động của bà Sally già sẽ mang lại cho tôi một niềm vui khác; và vì suy nghĩ rằng bà ấy giờ đây sẽ hạnh phúc và thoát khỏi rắc rối sẽ lấp đầy tôi bằng hạnh phúc. Tôi đã làm toàn bộ việc đó với đôi mắt mở to, nhận thức và nhận ra rằng tôi đang trông chừng phần lợi nhuận của mình trước tiên. Nào, tôi đã thú nhận rồi. Nói tiếp đi.
Ông lão. Ta chẳng có gì để đưa ra thêm nữa; cậu đã bao quát toàn bộ vấn đề rồi. Cậu có thể được thúc đẩy mạnh mẽ hơn để giúp Sally thoát khỏi rắc rối—cậu có thể làm điều đó một cách háo hức hơn—nếu cậu nằm trong ảo tưởng rằng mình làm điều đó chỉ vì bà ấy và vì lợi ích của bà ấy không?
Chàng thanh niên. Không! Không có gì trên đời có thể làm cho động lực thúc đẩy tôi trở nên mạnh mẽ hơn, làm chủ hơn, hoàn toàn không thể cưỡng lại được hơn nữa. Tôi đã chơi hết mình rồi!
Ông lão. Rất tốt. Cậu bắt đầu nghi ngờ—và ta tuyên bố là ta biết—rằng khi một người bị thúc đẩy mạnh mẽ hơn một chút để làm một trong hai điều hoặc trong hai tá điều so với việc làm bất kỳ điều nào khác, anh ta nhất định sẽ làm một điều đó, dù đó là điều tốt hay điều xấu; và nếu đó là điều tốt, không phải tất cả sự quyến rũ của mọi trò ngụy biện có thể làm tăng sức mạnh của động lực dù chỉ một chút hay thêm một chút vào sự an ủi và hài lòng mà anh ta sẽ nhận được từ hành động đó.
Chàng thanh niên. Vậy ông tin rằng xu hướng hướng tới việc làm điều tốt như trong lòng con người sẽ không bị giảm bớt bằng cách loại bỏ ảo tưởng rằng những hành động tốt được làm chủ yếu vì người Số 2 thay vì vì người Số 1 sao?
Ông lão. Đó là điều ta hoàn toàn tin tưởng.
Chàng thanh niên. Chẳng lẽ điều đó bằng cách nào đó dường như làm mất đi phẩm giá của hành động sao?
Ông lão. Nếu có phẩm giá trong sự dối trá, thì đúng là vậy. Nó loại bỏ điều đó.
Chàng thanh niên. Còn lại gì cho các nhà đạo đức học làm?
Ông lão. Dạy dỗ một cách không dè dặt những gì ông ta đã dạy bằng một bên miệng và rút lại bằng bên miệng kia: Hãy làm điều đúng vì chính bản thân cậu, và hãy hạnh phúc khi biết rằng người hàng xóm của cậu chắc chắn sẽ chia sẻ những lợi ích thu được.
Chàng thanh niên. Nhắc lại Lời Khuyên Bảo của ông đi.
Ông lão. Hãy siêng năng huấn luyện các lý tưởng của cậu đi lên và tiếp tục đi lên hướng tới một đỉnh cao, nơi cậu sẽ tìm thấy niềm vui lớn nhất của mình trong cách hành xử mà vừa làm hài lòng cậu, vừa chắc chắn mang lại lợi ích cho người hàng xóm và cộng đồng của cậu.
Chàng thanh niên. Mọi hành động của một người đều xuất phát từ những ảnh hưởng bên ngoài, ông nghĩ vậy sao?
Ông lão. Đúng.
Chàng thanh niên. Nếu tôi quyết định cướp một người, tôi không phải là người khởi phát ý tưởng đó, mà nó đến từ bên ngoài? Tôi thấy anh ta cầm tiền—chẳng hạn—và điều đó thúc đẩy tôi phạm tội?
Ông lão. Riêng điều đó thôi sao? Ôi, chắc chắn là không. Đó chỉ là ảnh hưởng bên ngoài mới nhất của một chuỗi các ảnh hưởng chuẩn bị kéo dài suốt nhiều năm. Không một ảnh hưởng bên ngoài đơn lẻ nào có thể làm cho một người làm một việc đi ngược lại sự huấn luyện của anh ta. Mức độ tối đa nó có thể làm là bắt đầu tâm trí anh ta trên một lối đi mới và mở nó ra để tiếp nhận những ảnh hưởng mới—như trong trường hợp của Ignatius Loyola. Theo thời gian, những ảnh hưởng này có thể huấn luyện anh ta đến mức phù hợp với tính cách mới của anh ta để khuất phục trước ảnh hưởng cuối cùng và làm việc đó. Ta sẽ đặt trường hợp theo một hình thức mà ta nghĩ sẽ làm rõ lý thuyết của ta cho cậu. Đây là hai thỏi vàng nguyên chất. Chúng đại diện cho hai tính cách đã được tinh chế và hoàn thiện trong các đức tính bằng nhiều năm huấn luyện đúng đắn siêng năng. Giả sử cậu muốn phá vỡ những tính cách mạnh mẽ và vững chắc này—cậu sẽ mang ảnh hưởng nào tác động lên các thỏi vàng?
Chàng thanh niên. Ông tự giải quyết đi. Tiếp tục đi.
Ông lão. Giả sử ta phun vào một trong hai thỏi vàng một dòng hơi nước trong nhiều giờ liền. Liệu có kết quả gì không?
Chàng thanh niên. Không có gì mà tôi biết.
Ông lão. Tại sao?
Chàng thanh niên. Một dòng hơi nước không thể phá vỡ một chất như vậy.
Ông lão. Rất tốt. Hơi nước là một ảnh hưởng bên ngoài, nhưng nó không có hiệu quả vì vàng không quan tâm đến nó. Thỏi vàng vẫn giữ nguyên như cũ. Giả sử chúng ta thêm vào hơi nước một ít thủy ngân ở dạng hơi, và phun dòng khí đó vào thỏi vàng, liệu có kết quả tức thì không?
Chàng thanh niên. Không.
Ông lão. Thủy ngân là một ảnh hưởng bên ngoài mà vàng (bởi bản chất đặc biệt của nó—chẳng hạn như khí chất, tính tình) không thể thờ ơ. Nó khơi dậy sự quan tâm của vàng, mặc dù chúng ta không nhận thấy; nhưng một lần áp dụng ảnh hưởng đơn lẻ không gây ra tổn hại nào. Hãy tiếp tục áp dụng trong một dòng chảy đều đặn, và gọi mỗi phút là một năm. Đến cuối mười hoặc hai mươi phút—mười hoặc hai mươi năm—thỏi vàng nhỏ đã bị úng đẫm thủy ngân, các đức tính của nó đã biến mất, tính cách của nó đã bị thoái hóa. Cuối cùng, nó sẵn sàng khuất phục trước một sự cám dỗ mà lẽ ra mười hoặc hai mươi năm trước nó sẽ chẳng buồn để ý. Chúng ta sẽ áp dụng sự cám dỗ đó dưới hình thức một cái ấn ngón tay của ta. Cậu chú ý đến kết quả chứ?
Chàng thanh niên. Vâng; thỏi vàng đã vỡ vụn thành cát. Giờ thì tôi hiểu rồi. Không phải ảnh hưởng bên ngoài đơn lẻ làm nên chuyện, mà chỉ là ảnh hưởng cuối cùng của một sự tích tụ lâu dài và làm tan rã chúng. Giờ thì tôi thấy rồi, động lực đơn lẻ của tôi muốn cướp người đàn ông không phải là động lực khiến tôi làm việc đó, mà chỉ là động lực cuối cùng của một chuỗi chuẩn bị. Ông có thể minh họa bằng một dụ ngôn.
Một Dụ Ngôn
Ông lão. Ta sẽ làm thế. Ngày xưa có một cặp đôi song sinh người New England. Họ giống nhau về bản tính tốt lành, đạo đức yếu ớt và ngoại hình. Họ là những tấm gương của trường Chủ nhật. Năm mười lăm tuổi, George có cơ hội đi làm phu thuyền trên một tàu đánh bắt cá voi, và ra khơi đến Thái Bình Dương. Henry ở lại nhà trong làng. Năm mười tám tuổi, George là một thủy thủ trên tàu, còn Henry là giáo viên lớp Kinh Thánh nâng cao. Năm hai mươi hai tuổi, George, thông qua thói quen đánh nhau và uống rượu thu được trên biển và trong các nhà trọ thủy thủ ở các cảng châu Âu và phương Đông, đã trở thành một kẻ thô bạo thông thường ở Hong-Kong, và thất nghiệp; còn Henry là người quản lý trường Chủ nhật. Năm hai mươi sáu tuổi, George là một kẻ lang thang, một tên ăn xin, còn Henry là mục sư của giáo xứ trong làng. Sau đó George trở về nhà, và là khách của Henry. Một buổi tối, một người đàn ông đi qua và rẽ vào con hẻm, Henry nói với một nụ cười chua chát: "Dù không cố ý làm tôi khó chịu, người đàn ông đó luôn nhắc nhở tôi về sự nghèo khó tột cùng của mình, vì ông ta mang theo đống tiền bên mình, và tối nào trong đời cũng đi qua đây." Ảnh hưởng bên ngoài đó—lời nhận xét đó—là đủ cho George, nhưng đó không phải là điều khiến hắn phục kích người đàn ông và cướp ông ta, nó chỉ đại diện cho mười một năm tích tụ của những ảnh hưởng như vậy, và sinh ra hành động mà sự ấp ủ lâu dài của chúng đã chuẩn bị. Chưa bao giờ điều đó nảy ra trong đầu Henry về việc cướp người đàn ông—thỏi vàng của anh ta chỉ chịu tác động của hơi nước sạch; nhưng thỏi vàng của George đã chịu tác động của hơi thủy ngân.