Thanh niên. Thật là gớm ghiếc. Những học thuyết say xỉn của anh, được đưa ra hồi nãy—về con chuột và đủ thứ chuyện—đã lột trần con người khỏi mọi phẩm giá, sự cao cả và tính uy nghiêm của nó.
Ông già. Nó có cái gì để mà lột đâu—đó chỉ là những thứ giả dối, những bộ cánh đi mượn. Nó đòi hỏi những công trạng vốn chỉ thuộc về Đấng Tạo Hóa của mình.
T.N. Nhưng anh không có quyền đặt nó lên cùng một hàng với loài chuột.
O.G. Tôi không làm thế—về mặt đạo đức. Làm thế sẽ không công bằng với con chuột. Con chuột ở trên nó một bậc, trong chuyện đó.
T.N. Anh đang đùa đấy à?
O.G. Không, tôi không đùa.
T.N. Thế ý anh là gì?
O.G. Chuyện đó thuộc về phạm trù Cảm giác Đạo đức. Đó là một vấn đề lớn. Hãy kết thúc những gì chúng ta đang bàn trước đã, rồi hãy tính đến nó.
T.N. Thôi được. Anh dường như đã thừa nhận rằng anh đặt con người và con chuột lên cùng một cấp độ. Đó là gì? Trí tuệ chăng?
O.G. Về hình thức—chứ không phải cấp độ.
T.N. Giải thích đi.
O.G. Tôi cho rằng bộ óc của con chuột và bộ óc của con người là cùng một cỗ máy, nhưng có năng lực không đồng đều—giống như của anh và của Edison; giống như của người lùn châu Phi và Homer; giống như của thổ dân Bushman và Bismarck.
T.N. Sao anh có thể biện minh cho điều đó, khi các loài động vật bậc thấp không có phẩm chất tinh thần nào ngoài bản năng, trong khi con người sở hữu lý trí?
O.G. Bản năng là gì?
T.N. Nó đơn thuần là sự vận hành vô thức và máy móc của thói quen di truyền.
O.G. Cái gì đã khơi nguồn cho thói quen đó?
T.N. Con vật đầu tiên đã bắt đầu nó, và các thế hệ con cháu đã thừa hưởng nó.
O.G. Con vật đầu tiên đã bắt đầu nó cách nào?
T.N. Tôi không biết; nhưng nó không hề dùng tư duy để nghĩ ra điều đó.
O.G. Sao anh biết nó không nghĩ?
T.N. Chà—dù sao thì tôi có quyền cho rằng nó không nghĩ.
O.G. Tôi tin là anh không có quyền đó đâu. Tư duy là gì?
T.N. Tôi biết anh gọi nó là gì: đó là sự ráp nối mang tính máy móc và tự động những ấn tượng tiếp nhận từ bên ngoài, rồi rút ra kết luận từ chúng.
O.G. Rất hay. Giờ thì ý kiến của tôi về cái thuật ngữ vô nghĩa “bản năng” là: nó chẳng qua chỉ là tư duy đã hóa đá; đã đông đặc và trở thành vô tri bởi thói quen; thứ tư duy từng có lúc sống động và thức tỉnh, nhưng nay đã trở thành vô thức—nói theo một cách ví von là đang mộng du.
T.N. Hãy minh họa điều đó xem.
O.G. Lấy một đàn bò đang ăn cỏ trên đồng đi. Đầu của tất cả chúng đều quay về cùng một hướng. Chúng làm điều đó theo bản năng; chúng chẳng thu được gì từ việc đó, chúng không có lý do gì cho việc đó, chúng cũng chẳng biết tại sao mình lại làm thế. Đó là một thói quen di truyền vốn có nguồn gốc từ tư duy—nghĩa là, sự quan sát một thực tế bên ngoài, và một kết luận có giá trị được rút ra từ quan sát ấy rồi được củng cố bởi kinh nghiệm. Con bò hoang dã tiên phong nọ nhận thấy rằng khi gió thổi xuôi chiều, nó có thể ngửi thấy kẻ thù kịp thời để trốn chạy; thế là nó suy luận rằng việc giữ cho mũi hướng về chiều gió là một việc đáng làm. Đó chính là quá trình mà con người gọi là lập luận. Cỗ máy tư duy của con người hoạt động y hệt như của các loài động vật khác, nhưng nó là một cỗ máy tốt hơn và mang tính chất Edison hơn. Con người, nếu ở vị trí của con bò, sẽ tiến xa hơn, suy luận rộng hơn: anh ta sẽ cho một phần đàn bò quay mặt theo hướng ngược lại để bảo vệ cả phía trước lẫn phía sau.
T.N. Anh vừa gọi thuật ngữ bản năng là vô nghĩa phải không?
O.G. Tôi cho rằng đó là một từ lai tạp. Tôi nghĩ nó làm chúng ta bối rối; bởi vì theo quy tắc, nó áp dụng cho những thói quen và xung động từng có cội nguồn sâu xa trong tư duy, nhưng thỉnh thoảng nó lại phá vỡ quy tắc đó để áp dụng cho những thói quen hầu như chẳng thể nhận vơ cội nguồn từ tư duy.
T.N. Cho một ví dụ xem nào.
O.G. Ờ thì, khi mặc quần, một người đàn ông luôn xỏ cùng một cái ống quen thuộc trước—không bao giờ xỏ cái ống kia. Chẳng có lợi lộc gì trong việc đó, và cũng chẳng có chút ý nghĩa nào cả. Mọi đàn ông đều làm thế, thế nhưng chẳng ai lại đi tư duy về chuyện đó rồi có chủ ý chọn lựa nó cả, tôi tưởng tượng thế. Nhưng đó là một thói quen được truyền lại, không nghi ngờ gì nữa, và sẽ tiếp tục được truyền lại.
T.N. Anh có thể chứng minh rằng thói quen đó tồn tại không?
O.G. Anh có thể chứng minh nó, nếu anh còn hoài nghi. Nếu anh đưa một người đàn ông đến cửa hàng quần áo và quan sát anh ta thử chừng một tá chiếc quần, anh sẽ thấy.
T.N. Ví dụ về con bò vẫn chưa—
O.G. Chưa đủ để cho thấy cỗ máy tinh thần của một con thú câm lặng cũng y hệt như của con người và quá trình lập luận của nó cũng giống thế sao? Tôi sẽ minh họa thêm. Nếu anh trao cho ông Edison một cái hộp mà anh làm cho nó bật nắp ra bằng một cơ chế ẩn giấu nào đó, ông ấy sẽ suy luận ra là có một cái lò xo, và sẽ tìm kiếm nó cho bằng được rồi sẽ tìm ra. Thuở nhỏ, một người chú của tôi có một con ngựa già, nó thường hay lẻn vào khu vườn rào kín nơi cất cũi bắp để ăn trộm bắp một cách bất lương. Chính tôi là kẻ phải chịu đòn phạt, vì người ta cho rằng tôi đãng trí không cài cái chốt gỗ vốn giữ cho cánh cổng luôn đóng. Những trận đòn roi liên miên đó làm tôi mệt mỏi; chúng cũng khiến tôi suy luận ra sự tồn tại của một kẻ thủ ác đâu đó ở quanh đây; thế nên tôi đã ẩn nấp và canh chừng cánh cổng. Chẳng mấy chốc con ngựa tới, dùng răng kéo cái chốt ra và đi vào trong. Chẳng ai dạy nó điều đó cả; nó đã quan sát—rồi tự mình tư duy ra điều đó. Quá trình của nó chẳng khác gì Edison; nó xâu chuỗi sự việc này với sự việc kia lại và rút ra một kết luận—và cả cái chốt nữa, nhưng tôi đã bắt nó phải đổ mồ hôi hột vì chuyện đó.
T.N. Nó có vẻ gì đó mang hơi hướng của tư duy. Dù vậy thì nó vẫn không mấy tinh vi công phu. Hãy mở rộng thêm đi.
O.G. Giả sử ông Edison đang tận hưởng lòng hiếu khách của ai đó. Ít lâu sau ông ấy ghé lại, và ngôi nhà thì trống không. Ông ấy suy luận rằng chủ nhà đã dọn đi. Một thời gian sau, ở một thị trấn khác, ông ấy nhìn thấy người đàn ông đó bước vào một ngôi nhà; ông ấy suy luận rằng đó là ngôi nhà mới, và liền đi theo để dò hỏi. Giờ thì đây, đây là trải nghiệm của một con mòng biển, được kể lại bởi một nhà tự nhiên học. Bối cảnh là một làng chài ở Scotland nơi những con mòng biển được đối xử tử tế. Con mòng biển cụ thể này đã ghé thăm một ngôi nhà tranh; được cho ăn; hôm sau lại đến và lại được cho ăn; lần tiếp theo nó bay thẳng vào nhà và ăn cùng gia đình; từ đó về sau nó cứ làm thế gần như mỗi ngày. Nhưng có lần con mòng biển đi vắng một chuyến dài vài ngày, và khi nó quay về thì ngôi nhà đã trống hoác. Những người bạn của nó đã dọn đến một ngôi nhà cách đó ba dặm. Vài tháng sau, nó nhìn thấy người chủ nhà trên đường phố ở đó, liền bám theo ông ta về nhà, đường hoàng bước vào nhà không cần lý do hay lời xin lỗi nào, và lại trở thành một vị khách quen hằng ngày. Loài mòng biển không được xếp hạng cao về mặt trí tuệ, nhưng con này có trí nhớ và năng lực lập luận, anh thấy đấy, và đã vận dụng chúng theo kiểu của Edison.
T.N. Dù vậy thì nó vẫn không phải là một Edison và không thể phát triển thành một Edison được.
O.G. Có lẽ là không. Thế anh thì có thể chắc?
T.N. Chuyện đó chẳng ăn nhập gì ở đây cả. Nói tiếp đi.
O.G. Nếu Edison gặp rắc rối và một người lạ giúp ông ấy thoát khỏi rắc rối đó, rồi ngày hôm sau ông ấy lại vướng vào đúng rắc rối cũ, ông ấy sẽ suy luận ra việc khôn ngoan cần làm trong trường hợp ông ấy biết địa chỉ của người lạ kia. Dưới đây là trường hợp về một chú chim và một người lạ được kể lại bởi một nhà tự nhiên học. Một người đàn ông người Anh nhìn thấy một con chim đang bay lượn vòng quanh đầu con chó của ông ta, ở dưới khoảng sân, và phát ra những tiếng kêu đầy đau khổ. Ông ta đến đó để xem sự thể thế nào. Con chó đang ngậm một con chim non trong miệng—mà không hề làm nó bị thương. Người quý tộc liền giải cứu nó, đặt nó lên một bụi cây và dắt con chó đi nơi khác. Sáng sớm hôm sau, con chim mẹ đã đến tìm người quý tộc vốn đang ngồi trên hiên nhà, và bằng những động tác khéo léo của mình, nó đã thuyết phục ông ta đi theo nó đến một góc khuất xa xôi trong khu vườn—nó bay dẫn trước một đoạn ngắn rồi đợi ông ta đuổi kịp, cứ thế cho đến hết quãng đường; hơn nữa nó còn đi theo con đường mòn uốn lượn, thay vì bay đường tắt cắt ngang qua các mảnh đất. Quãng đường vượt qua dài tới bốn trăm thước. Vẫn là con chó đó là thủ phạm; nó lại ngậm con chim non trong miệng một lần nữa, và một lần nữa nó buộc phải nhả ra. Giờ thì con chim mẹ đã suy luận thấu đáo mọi chuyện: vì người lạ đã giúp nó một lần, nó suy luận rằng ông ta sẽ lại giúp lần nữa; nó biết tìm ông ta ở đâu, và nó lên đường thực hiện nhiệm vụ của mình với đầy lòng tin tưởng. Quá trình tư duy của nó chính xác là những gì mà Edison sẽ làm. Nó xâu chuỗi sự việc này với sự việc kia—và tư duy chỉ có thế mà thôi—và từ những điều đó nó dựng nên một chuỗi suy luận logic của riêng mình. Bản thân Edison cũng chẳng thể làm tốt hơn thế được.
T.N. Anh có tin rằng nhiều loài động vật câm lặng có khả năng tư duy không?
O.G. Có—voi, khỉ, ngựa, chó, vẹt, vẹt đuôi dài, chim nhại, và nhiều loài khác nữa. Con voi có bạn đời sa xuống một cái hố, và đã đổ đất cùng rác rưởi xuống hố cho đến khi phần đáy được nâng lên đủ cao để con vật bị giam cầm có thể bước ra ngoài, đã được trang bị năng lực lập luận. Tôi cho rằng tất cả các loài động vật có thể học hỏi mọi thứ thông qua việc dạy dỗ và huấn luyện đều phải biết cách quan sát, xâu chuỗi sự việc này với sự việc kia và rút ra kết luận—chính là quá trình tư duy. Anh có thể dạy một kẻ đần độn các động tác sử dụng vũ khí, cách tiến lên, rút lui, và thực hiện các thao tác chiến thuật phức tạp trên chiến trường theo khẩu lệnh không?
T.N. Không thể nếu hắn ta là một kẻ đần độn chính hiệu.
O.G. Ồ chà, chim hoàng yến có thể học được tất cả những điều đó; chó và voi học được đủ loại điều kỳ diệu. Chúng chắc chắn phải có khả năng chú ý, xâu chuỗi các sự việc lại với nhau, và tự nhủ rằng: “Bây giờ thì ta hiểu ý rồi đấy: khi ta làm thế này thế nọ, đúng theo mệnh lệnh, ta sẽ được khen ngợi và cho ăn; khi ta làm khác đi ta sẽ bị trừng phạt.” Loài bọ chét có thể được dạy bất cứ thứ gì mà một Dân biểu Quốc hội có thể làm.
T.N. Thừa nhận rằng, các loài động vật câm lặng có khả năng tư duy ở một cấp độ thấp, vậy có loài nào có thể tư duy ở cấp độ cao không? Có loài nào tiến sát đến con người không?
O.G. Có chứ. Về mặt tư duy và lập kế hoạch, loài kiến là kẻ ngang hàng với bất kỳ chủng tộc da đen hoang dã nào của loài người; với tư cách là một chuyên gia tự học trong nhiều lĩnh vực, nó vượt trội hơn bất kỳ chủng tộc hoang dã nào của loài người; và trong một hoặc hai phẩm chất tinh thần cao cả, nó vượt xa tầm với của bất kỳ con người nào, dù là hoang dã hay văn minh!
T.N. Ồ, thôi đi! Anh đang xóa bỏ ranh giới trí tuệ ngăn cách giữa con người và loài vật đấy.
O.G. Xin lỗi anh nhé. Người ta không thể xóa bỏ cái vốn dĩ không tồn tại.
T.N. Hy vọng là anh không nói đùa. Anh không thể có ý định nghiêm túc tuyên bố là không có cái ranh giới như vậy chứ.
O.G. Tôi nói nghiêm túc đấy chứ. Những trường hợp về con ngựa, con mòng biển, con chim mẹ và con voi cho thấy những sinh vật đó đã xâu chuỗi các sự việc của chúng lại với nhau y hệt như cách mà Edison đã làm, và rút ra những kết luận giống hệt như những gì ông ấy sẽ rút ra. Cỗ máy tinh thần của chúng cũng y hệt như của ông ấy, và cách thức hoạt động của nó cũng vậy. Trang bị của chúng có phần thua kém so với chiếc đồng hồ Strasburg, nhưng đó là sự khác biệt duy nhất—chẳng có ranh giới nào cả.
T.N. Nghe có vẻ đúng đến mức phát bực; và thực sự xúc phạm. Nó nâng loài vật câm lặng lên thành—thành—
O.G. Hãy dẹp bỏ cái cụm từ dối trá đó đi, và gọi chúng là Những Sinh Vật Chưa Được Khám Phá; theo như chúng ta có thể biết, chẳng có thứ gọi là loài vật câm lặng nào trên đời này cả.
T.N. Dựa trên cơ sở nào mà anh đưa ra khẳng định đó?
O.G. Dựa trên những cơ sở rất đơn giản. Loài vật “câm lặng” ngụ ý một con vật không có cỗ máy tư duy, không có sự hiểu biết, không có tiếng nói, không có cách nào để truyền ạt những gì có trong tâm trí nó. Chúng ta biết rằng một con gà mái có tiếng nói. Chúng ta không thể hiểu hết mọi điều nó nói, nhưng chúng ta dễ dàng học được hai hoặc ba câu cú của nó. Chúng ta biết khi nào nó đang nói: “Tôi vừa đẻ một quả trứng”; chúng ta biết khi nào nó đang nói với bầy con: “Lại đây các con yêu, mẹ tìm thấy một con giun rồi”; chúng ta hiểu nó đang nói gì khi nó phát ra lời cảnh báo: “Nhanh lên! Mau chân lên! Lại tụm lại dưới cánh mẹ mau, có diều hâu đang tới kìa!” Chúng ta hiểu con mèo khi nó vươn người, rừ rừ vì trìu mến và mãn nguyện, rồi cất cao giọng mềm mại nói rằng: “Nào các bé mèo cưng, bữa tối đã dọn xong rồi”; chúng ta hiểu nó khi nó lang thang rên rỉ và nói rằng: “Chúng có thể ở đâu nhỉ? Chúng lạc mất rồi. Các người không giúp tôi tìm chúng sao?” và chúng ta hiểu gã mèo mướp hư hỏng khi hắn gào thét thách thức lúc nửa đêm từ trênái hiên nhà rằng: “Mày bước sang đây xem nào, đồ sản phẩm của cuộc giao hoán vô đạo đức kia, tao sẽ cho mày rụng sạch lông!” Chúng ta hiểu một vài câu của loài chó và chúng ta học cách hiểu một vài nhận xét cũng như cử chỉ của bất kỳ loài chim hoặc động vật nào khác mà chúng ta thuần hóa và quan sát. Sự rõ ràng và chính xác của một số ít tiếng kêu của con gà mái mà chúng ta hiểu là lập luận cho thấy nó có thể truyền đạt cho đồng loại của mình hàng trăm điều mà chúng ta không thể lĩnh hội—nói một cách ngắn gọn, là nó có thể trò chuyện. Và lập luận này cũng có thể áp dụng cho các trường hợp khác trong đại quân của Những Sinh Vật Chưa Được Khám Phá. Thật đúng là cái thói kiêu ngạo và xấc láo của con người khi gọi một con vật là câm lặng chỉ vì nó câm lặng trước nhận thức cùn mòn của hắn. Giờ thì bàn về loài kiến—
T.N. Vâng, quay lại với loài kiến đi, cái sinh vật mà—như anh có vẻ nghĩ—đã quét sạch dấu vết cuối cùng của ranh giới trí tuệ giữa con người và Những Sinh Vật Chưa Được Khám Phá.
O.G. Đó chính xác là những gì nó làm. Trong suốt lịch sử của mình, người thổ dân Úc chưa từng nghĩ ra một ngôi nhà cho riêng mình rồi tự tay xây dựng nó. Loài kiến là một kiến trúc sư kinh ngạc. Nó là một sinh vật vô cùng bé nhỏ, nhưng nó xây dựng nên một ngôi nhà vững chãi và bền bỉ cao tới tám thước—một ngôi nhà có tỷ lệ kích thước so với nó lớn hệt như tòa đại hay nhà thờ lớn nhất thế giới so với kích thước của con người. Không có chủng tộc hoang dã nào sản sinh ra những kiến trúc sư có thể sánh ngang với loài kiến về thiên tài hay văn hóa. Không có chủng tộc văn minh nào sản sinh ra những kiến trúc sư có thể lên bản thiết kế một ngôi nhà phục vụ cho các mục đích đặt ra tốt hơn loài kiến. Ngôi nhà của nó bao gồm một phòng ngai vàng; các phòng nuôi dưỡng con non; kho lẫm; các gian phòng dành cho lính gác, thợ thuyền, v.v.; và chúng cùng với vô số đại sảnh, hành lang nối liền với nhau được sắp xếp và phân bố bằng một con mắt đầy học thức và kinh nghiệm về sự tiện lợi cũng như khả năng thích ứng.
T.N. Đó có thể chỉ là bản năng thuần túy.
O.G. Nó sẽ nâng tầm người hoang dã lên nếu anh ta có được điều đó. Nhưng hãy nhìn xa hơn trước khi chúng ta đưa ra kết luận. Loài kiến có binh lính—các tiểu đoàn, trung đoàn, quân đoàn; và chúng có các đội trưởng, tướng lĩnh được chỉ định để dẫn dắt chúng ra trận.
T.N. Đó cũng có thể là bản năng.
O.G. Chúng ta hãy nhìn sâu hơn nữa. Loài kiến có một hệ thống chính phủ; nó được lên kế hoạch kỹ lưỡng, công phu, và được vận hành trôi chảy.
T.N. Lại là bản năng.
O.G. Nó có rất nhiều nô lệ, và là một chủ sử dụng lao động cưỡng bức hà khắc, bất công.
T.N. Bản năng.
O.G. Nó nuôi bò, và vắt sữa chúng.
T.N. Đương nhiên lại là bản năng rồi.
O.G. Ở Texas, nó vạch ra một mảnh ruộng rộng mười hai thước vuông, gieo trồng, làm cỏ, canh tác, thu hoạch mùa màng rồi đem cất trữ.
T.N. Vẫn là bản năng mà thôi.
O.G. Loài kiến phân biệt được đâu là bạn, đâu là kẻ lạ. Ngài John Lubbock đã bắt những con kiến từ hai tổ khác nhau, cho chúng uống rượu whisky đến say mèm rồi đặt chúng, trong tình trạng bất tỉnh, nằm cạnh một cái tổ, gần một vũng nước. Những con kiến trong tổ đã ra ngoài kiểm tra và bàn tán về những sinh vật nhục nhã này, sau đó khiêng những người bạn của chúng về nhà và ném những kẻ lạ xuống nước. Ngài John lặp lại thí nghiệm này nhiều lần. Một thời gian sau, những con kiến tỉnh táo làm y hệt như những gì chúng đã làm ban đầu—khiêng bạn về nhà và ném kẻ lạ xuống nước. Nhưng cuối cùng chúng đã mất kiên nhẫn, thấy rằng những nỗ lực cải tạo của chúng chẳng đem lại kết quả gì, liền ném cả bạn lẫn kẻ lạ xuống nước tuốt. Nào—đây là bản năng, hay đây là một cuộc thảo luận đầy tư duy và thông minh về một thứ hoàn toàn mới—hoàn toàn mới mẻ—đối với kinh nghiệm của chúng; với một phán quyết được đưa ra, một bản án được tuyên và một phán xét được thi hành? Đó có phải là bản năng?—tư duy đã hóa đá bởi hàng thế kỷ thói quen—hay đó chẳng phải là một tư duy hoàn toàn mới mẻ, được truyền cảm hứng bởi một cơ hội mới, những hoàn cảnh mới sao?
T.N. Tôi buộc phải thừa nhận điều đó. Đó không phải là kết quả của thói quen; nó mang đầy đủ vẻ bề ngoài của sự suy ngẫm, tư duy, xâu chuỗi sự việc này với sự việc kia, như cách anh hay nói. Tôi tin đó chính là tư duy.
O.G. Tôi sẽ cho anh thêm một ví dụ nữa về tư duy. Franklin có một cốc đường đặt trên bàn trong phòng mình. Lũ kiến đã mò tới được đó. Ông ấy thử dùng vài biện pháp ngăn chặn; và lũ kiến vẫn tỏ ra vượt trội hơn hẳn. Cuối cùng ông ấy nghĩ ra một cách để chặn đường tiếp cận—có lẽ là đặt các chân bàn vào những chiếc chảo đựng nước, hoặc vẽ một vòng tròn hắc ín xung quanh cốc đường, tôi không nhớ rõ lắm. Dù thế nào đi nữa, ông ấy đứng canh để xem chúng sẽ làm gì. Chúng thử đủ mọi mưu kế—thất bại, toàn bộ đều thất bại. Lũ kiến vô cùng bối rối. Cuối cùng chúng tổ chức một cuộc họp bàn, thảo luận vấn đề, đi đến quyết định—và lần này chúng đã đánh bại vị triết gia vĩ đại đó. Chúng xếp thành hàng ngũ, băng qua sàn nhà, leo lên vách tường, diễu hành qua trần nhà đến một điểm ngay phía trên cốc đường, rồi từng con một buông mình rơi thẳng xuống đó! Đó có phải là bản năng—tư duy đã hóa đá bởi hàng thế kỷ thói quen di truyền?
T.N. Không, tôi không tin đó là thế. Tôi tin đó là một kế sách được suy tính hoàn toàn mới để đối phó với một tình huống khẩn cấp mới.
O.G. Rất tốt. Anh đã thừa nhận năng lực lập luận trong hai trường hợp. Giờ tôi sẽ chuyển sang một chi tiết tinh thần mà trong đó loài kiến vượt trội hơn hẳn bất kỳ con người nào. Ngài John Lubbock đã chứng minh qua nhiều thí nghiệm rằng một con kiến nhận ra ngay lập tức một con kiến lạ cùng loài với mình, ngay cả khi kẻ lạ đó bị ngụy trang—bằng sơn. Ông ấy cũng chứng minh rằng một con kiến nhận biết được từng cá thể trong cái tổ gồm năm trăm ngàn nhân khẩu của nó. Thêm nữa, sau một năm vắng bóng, một trong số năm trăm ngàn con đó sẽ ngay lập tức nhận ra kẻ đi vắng vừa quay về và chào đón nồng nhiệt bằng một cử chỉ trìu mến. Những sự nhận biết này được thực hiện bằng cách nào? Không phải bằng màu sắc, vì những con kiến bị sơn vẫn được nhận ra. Không phải bằng mùi hương, vì những con kiến được nhúng qua cloroform vẫn được nhận ra. Không phải bằng tiếng nói và cũng không bằng ký hiệu râu hay sự tiếp xúc, vì những con kiến say mèm và bất động vẫn được nhận ra và bạn được phân biệt rạch ròi với kẻ lạ. Lũ kiến đều cùng một loài, do đó những người bạn buộc phải được nhận diện qua hình dáng và đặc điểm—những người bạn là một phần của cái tổ năm trăm ngàn thành viên! Có con người nào có trí nhớ về hình dáng và đặc điểm sánh được với mức độ đó không?
T.N. Dĩ nhiên là không rồi.
O.G. Lũ kiến của Franklin và lũ kiến của Lubbock cho thấy những năng lực tuyệt vời trong việc xâu chuỗi sự việc này với sự việc kia trong những tình huống khẩn cấp mới lạ chưa từng có tiền lệ và rút ra những kết luận thông minh từ những sự kết hợp đó—chính xác là quá trình tư duy của con người. Với sự trợ giúp của trí nhớ, con người lưu giữ các quan sát và lập luận của mình, suy ngẫm về chúng, bổ sung vào chúng, tái kết hợp chúng, và cứ thế tiến bước, từng chặng một, đi đến những kết quả to lớn—từ cái ấm đun nước cho đến động cơ phức tạp của con tàu tốc hành vượt đại dương; từ lao động cá nhân đến lao động nô lệ; từ lều tranh đến cung điện; từ những cuộc săn bắn thất thường đến nền nông nghiệp và thực phẩm dự trữ; từ đời sống du mục đến chính quyền ổn định và quyền lực tập trung; từ những đám đông rời rạc đến những quân đoàn hùng hậu. Loài kiến có sự quan sát, có năng lực lập luận, và có thêm trợ thủ đắc lực là một trí nhớ siêu phàm; nó đã tái tạo lại quá trình phát triển của con người và những nét đặc trưng cốt lõi trong nền văn minh của loài người, thế mà anh lại gọi tất cả những thứ đó là bản năng!
T.N. Có lẽ bản thân tôi đã thiếu đi năng lực lập luận rồi.
O.G. Chà, đừng nói với ai nhé, và đừng tái phạm nữa.
T.N. Chúng ta đã đi được một quãng đường dài. Kết quả là—theo như tôi hiểu—tôi buộc phải thừa nhận rằng hoàn toàn không có ranh giới trí tuệ nào ngăn cách giữa Con người và Những Sinh Vật Chưa Được Khám Phá sao?
O.G. Đó chính là điều anh buộc phải thừa nhận. Không hề có ranh giới nào như thế—không có cách nào để lách qua chuyện đó cả. Con người có một cỗ máy tinh thần tinh tế hơn và có năng lực cao hơn bên trong mình so với những loài kia, nhưng đó vẫn là cùng một cỗ máy và hoạt động theo cùng một cách thức. Và cả anh hay những loài kia đều không thể ra lệnh cho cỗ máy đó—nó hoàn toàn tự động, độc lập với sự kiểm soát, thích hoạt động lúc nào thì hoạt động, còn khi nó không thích thì đố ai ép được.
T.N. Vậy con người và các loài động vật khác đều hoàn toàn giống nhau về mặt cỗ máy tinh thần, và không có sự khác biệt nào mang tầm vóc ghê gớm giữa chúng, ngoại trừ về phẩm chất, chứ không phải về bản chất.
O.G. Tình hình đại loại là thế đấy—về mặt trí tuệ. Có những giới hạn rõ rệt ở cả hai phía. Chúng ta không thể học để hiểu nhiều về ngôn ngữ của chúng, nhưng loài chó, voi, vạn vật... lại học để hiểu rất nhiều ngôn ngữ của chúng ta. Ở mức độ đó, chúng vượt trội hơn chúng ta. Ngược lại, chúng không thể học đọc, viết, v.v., hay bất kỳ điều tinh tế và cao cả nào của chúng ta, và ở đó chúng ta nắm giữ lợi thế lớn trước chúng.
T.N. Thôi được rồi, cứ để chúng giữ những gì chúng có, tôi xin hoan nghênh; dù sao thì vẫn có một bức tường, và là một bức tường cao ngất ngưởng. Chúng không có Cảm giác Đạo đức; chúng ta có nó, và nó nâng chúng ta lên vượt bậc khỏi chúng một cách vô lượng.
O.G. Điều gì khiến anh nghĩ vậy?
T.N. Giờ thì nghe này—hãy dừng lại một nhịp đi. Tôi đã chịu đựng đủ những sự đồi bại và điên rồ khác rồi và thế là quá đủ; tôi không đời nào chấp nhận việc con người và các loài động vật khác bị đặt lên cùng một cấp độ về mặt đạo đức đâu.
O.G. Tôi đâu có định nâng con người lên ngang hàng với chúng.
O.G. Thế này thì quá thể lắm rồi! Tôi nghĩ không nên đem những chuyện như thế ra để đùa cợt.
O.G. Tôi không đùa cợt, tôi chỉ đang phản chiếu một sự thật rành rành và giản đơn—mà không hề mang lòng cay nghiệt. Việc con người phân biệt được điều đúng với điều sai chứng minh sự vượt trội về trí tuệ của anh ta so với các sinh vật khác; nhưng việc anh ta có thể làm điều sai trái lại chứng minh sự kém cỏi về mặt đạo đức của anh ta so với bất kỳ sinh vật nào không thể làm thế. Tôi tin rằng quan điểm này là không thể công phá.
Ý chí Tự do
T.N. Quan điểm của anh thế nào về Ý chí Tự do?
O.G. Rằng chẳng có thứ đó tồn tại. Người đàn ông đã đưa đồng xu cuối cùng của mình cho bà lão rồi lầm lũi đi bộ về nhà giữa cơn giông bão có sở hữu nó không?
T.N. Anh ta có sự lựa chọn giữa việc cứu giúp bà lão hay mặc kệ bà ấy chịu khổ. Chẳng phải thế sao?
O.G. Đúng vậy, đã có một sự lựa chọn phải được thực hiện, giữa sự thoải mái về thể xác ở một bên và sự an ủi của tâm hồn ở bên kia. Thể xác đã đưa ra một lời kêu gọi mạnh mẽ, tất nhiên rồi—thể xác chắc chắn sẽ làm thế; tâm hồn đưa ra một lời kêu gọi phản kháng. Một sự lựa chọn đã phải được thực hiện giữa hai lời kêu gọi đó, và nó đã được thực hiện. Ai hoặc cái gì đã quyết định sự lựa chọn đó?
O.G. Bất kỳ ai ngoài anh ra cũng sẽ nói rằng chính người đàn ông đó đã quyết định, và trong việc làm đó, anh ta đã thực thi Ý chí Tự do.
O.G. Chúng ta liên tục được quả quyết rằng mỗi con người đều được phú cho Ý chí Tự do, và rằng anh ta có thể và phải thực thi nó khi được trao cho một sự lựa chọn giữa hạnh kiểm tốt và hạnh kiểm kém-hơn. Tuy nhiên, chúng ta thấy rõ ràng rằng trong trường hợp của người đàn ông đó, anh ta thực sự chẳng có chút Ý chí Tự do nào cả: tính khí của anh ta, sự giáo dưỡng của anh ta, và những ảnh hưởng hằng ngày đã nhào nặn nên anh ta và biến anh ta thành con người như hiện tại, đã ép buộc anh ta phải giải cứu bà lão và nhờ đó cứu rỗi chính mình—cứu rỗi bản thân khỏi nỗi đau tinh thần, khỏi sự khốn cùng không thể chịu đựng nổi. Anh ta không hề thực hiện sự lựa chọn đó, nó được thực hiện thay cho anh ta bởi những thế lực mà anh ta không thể kiểm soát. Ý chí Tự do từ trước đến nay vẫn luôn tồn tại trong câu chữ, nhưng nó chỉ dừng lại ở đó mà thôi, tôi nghĩ thế—dừng lại ngay trước ngưỡng cửa của thực tế. Tôi sẽ không dùng những từ đó—Ý chí Tự do—mà dùng những từ khác.
T.N. Những từ nào khác?
O.G. Sự Lựa chọn Tự do.
T.N. Sự khác biệt nằm ở đâu?
O.G. Một bên ngụ ý quyền năng không bị ràng buộc để hành động theo ý thích của anh, bên kia chẳng ngụ ý gì ngoài một quá trình tinh thần thuần tuý: năng lực phán đoán để xác định xem trong hai điều thì điều nào gần với sự đúng đắn và công lý nhất.
T.N. Xin hãy làm rõ sự khác biệt đó.
O.G. Tâm trí có thể tự do lựa chọn, chọn lọc, chỉ ra điều đúng đắn và công bằng—chức năng của nó chỉ dừng lại ở đó. Nó không thể đi xa hơn trong vấn đề này. Nó không có thẩm quyền để ra lệnh rằng điều đúng đắn phải được thực thi và điều sai trái phải bị gạt bỏ. Thẩm quyền đó nằm ở những bàn tay khác.
T.N. Tay của người đàn ông đó sao?
O.G. Nằm trong cỗ máy đại diện cho anh ta. Trong bản tính bẩm sinh và nhân cách đã được xây dựng xung quanh nó bởi sự giáo dưỡng và môi trường sống.
T.N. Nó sẽ hành động theo điều đúng trong hai điều đó chứ?
O.G. Nó sẽ hành động theo ý nó muốn trong vấn đề này. Cỗ máy của George Washington sẽ hành động theo điều đúng; Pizarro sẽ hành động theo điều sai.
T.N. Thế thì theo như tôi hiểu, cỗ máy tinh thần của một kẻ xấu sẽ bình thản và sáng suốt chỉ ra điều nào trong hai điều là đúng và công bằng—
O.G. Đúng vậy, và cỗ máy đạo đức của hắn sẽ tự do hành động theo điều này hoặc điều kia, tùy theo cấu tạo của nó, và hoàn toàn dửng dưng trước cảm xúc của tâm trí đối với vấn đề đó—nghĩa là, sẽ là như thế, nếu tâm trí có bất kỳ cảm xúc nào; mà thực ra thì tâm trí chẳng có cảm xúc gì sất. Nó chỉ đơn thuần là một chiếc nhiệt kế: nó ghi nhận hơi nóng và cái lạnh, chứ chẳng mảy may quan tâm đến bên nào.
T.N. Thế thì chúng ta không được phép khẳng định rằng nếu một người biết điều nào trong hai điều là đúng thì anh ta hoàn toàn buộc phải làm điều đó sao?
O.G. Tính khí và sự giáo dưỡng của anh ta sẽ quyết định anh ta phải làm gì, và anh ta sẽ làm điều đó; anh ta không thể tự cứu mình, anh ta chẳng có chút thẩm quyền nào đối với vấn đề này. Chẳng phải việc David ra trận và tiêu diệt Goliath là đúng đắn sao?
T.N. Vâng.
O.G. Thế thì việc bất kỳ ai khác làm điều đó cũng sẽ đúng đắn ngang bằng chứ?
T.N. Chắc chắn rồi.
O.G. Thế thì việc một kẻ hèn nhát bẩm sinh dám thử làm điều đó cũng là đúng đắn ư?
T.N. Đúng thế—vâng.
T.N. Anh biết thừa là không một kẻ hèn nhát bẩm sinh nào đời nào dám thử làm việc đó, phải không?
O.G. Vâng.
T.N. Anh biết rằng cấu tạo và tính khí của một kẻ hèn nhát bẩm sinh sẽ là rào cản tuyệt đối và không thể vượt qua khiến hắn không bao giờ dám mưu tính một việc như thế, phải không?
T.N. Vâng, tôi biết điều đó.
O.G. Hắn nhận thức rõ ràng rằng việc thử làm điều đó là đúng đắn chứ?
T.N. Vâng.
O.G. Tâm trí của hắn có Sự Lựa chọn Tự do trong việc xác định rằng việc thử làm điều đó là đúng chứ?
T.N. Vâng.
O.G. Thế thì nếu vì lý do tính hèn nhát bẩm sinh mà hắn đơn giản là không thể thử làm điều đó, thì Ý chí Tự do của hắn đi đâu rồi? Ý chí Tự do của hắn nằm ở chỗ nào? Tại sao lại cứ phải khẳng định rằng hắn có Ý chí Tự do trong khi những sự thật rành rành lại cho thấy hắn không có? Tại sao lại cứ cho rằng vì hắn và David nhìn nhận cái đúng giống nhau, nên cả hai đều phải hành động giống nhau? Tại sao lại áp đặt cùng một thứ luật lệ lên con dê và con sư tử?
T.N. Thực sự là không có cái gọi là Ý chí Tự do sao?
O.G. Đó là những gì tôi nghĩ. Ý chí thì có đấy. Nhưng nó chẳng dính dáng gì đến nhận thức trí tuệ về đúng và sai, và không nằm dưới sự sai khiến của những nhận thức đó. Tính khí và sự giáo dưỡng của David có Ý chí, và đó là một sức mạnh mang tính cưỡng bách; David buộc phải tuân theo các sắc lệnh của nó, anh ta không có sự lựa chọn nào khác. Tính khí và sự giáo dưỡng của kẻ hèn nhát sở hữu Ý chí, và nó mang tính cưỡng bách; nó ra lệnh cho hắn phải tránh xa nguy hiểm, và hắn tuân theo, hắn không có sự lựa chọn nào khác. Nhưng cả David lẫn những kẻ hèn nhát đều không sở hữu Ý chí Tự do—thứ ý chí có thể làm điều đúng hoặc làm điều sai, tùy theo phán quyết của tâm trí họ.
Không Phải Hai Giá Trị, Mà Chỉ Có Một
T.N. Có một điều làm tôi bối rối: tôi không thể phân biệt được ranh giới mà anh vạch ra giữa lòng tham vật chất và lòng tham tâm linh.
O.G. Tôi chẳng vạch ranh giới nào cả.
T.N. Ý anh là sao?
O.G. Chẳng có cái gọi là lòng tham vật chất. Tất cả lòng tham đều là tâm linh.
T.N. Mọi niềm khao khát, ham muốn, hoài bão đều là tâm linh, không bao giờ là vật chất sao?
O.G. Đúng vậy. Ông Chủ bên trong anh đòi hỏi rằng trong mọi trường hợp, anh phải làm cho tâm hồn của ông ta được thỏa mãn—chỉ thế mà thôi. Ông ấy không bao giờ đòi hỏi bất cứ điều gì khác, ông ấy không bao giờ quan tâm đến bất kỳ vấn đề nào khác.
T.N. Ồ, thôi nào! Khi ông ta thèm thuồng tiền bạc của ai đó—chẳng phải điều đó khá là rõ ràng mang tính vật chất và thô tục hay sao?
O.G. Không. Tiền bạc chỉ là một biểu tượng—nó đại diện dưới hình thức hữu hình và cụ thể cho một khao khát tâm linh. Bất kỳ thứ gọi là vật chất nào mà anh muốn cũng chỉ là một biểu tượng: anh muốn nó không phải vì chính bản thân nó, mà vì nó sẽ làm cho tâm hồn anh được thỏa mãn trong chốc lát.
T.N. Xin hãy nêu cụ thể ra xem nào.
O.G. Thôi được. Có lẽ thứ khao khát là một chiếc mũ mới. Anh có được nó và sự vanity của anh được thỏa mãn, tâm hồn anh thấy bằng lòng. Giả sử bạn bè anh chế nhạo chiếc mũ đó, cười cợt nó: ngay lập tức nó mất đi giá trị; anh cảm thấy xấu hổ vì nó, anh giấu tiệt nó đi, không bao giờ muốn nhìn thấy nó nữa.
T.N. Tôi nghĩ là tôi hiểu rồi. Nói tiếp đi.
O.G. Đó vẫn là chiếc mũ đó thôi, phải không? Nó hoàn toàn không thay đổi gì cả. Nhưng thứ anh muốn đâu phải là cái mũ, mà chỉ là cái mà nó đại diện—một thứ để làm vui lòng và thỏa mãn tâm hồn anh. Khi nó không làm được điều đó, toàn bộ giá trị của nó đã biến mất. Chẳng có giá trị vật chất nào cả; chỉ có giá trị tâm linh mà thôi. Anh sẽ tìm kiếm trong vô vọng một giá trị vật chất thực sự, có thật—chẳng có thứ nào như thế cả. Giá trị duy nhất mà nó sở hữu, dẫu chỉ trong một khoảnh khắc, chính là giá trị tâm linh đằng sau nó: hãy tước bỏ mục đích đó đi và nó ngay lập tức trở nên vô giá trị—giống như chiếc mũ vậy.
T.N. Anh có thể mở rộng điều đó sang tiền bạc không?
O.G. Có chứ. Nó chỉ là một biểu tượng, nó không có giá trị vật chất; anh tưởng rằng mình khao khát nó vì chính bản thân nó, nhưng sự thật không phải vậy. Anh khao khát nó vì sự thỏa mãn tâm linh mà nó mang lại; nếu nó không mang lại điều đó, anh sẽ phát hiện ra rằng giá trị của nó đã bay biến. Có câu chuyện đầy bi thương về người đàn ông làm lụng vất vả như nô lệ, không nghỉ ngơi, không thỏa mãn, cho đến khi tích lũy được một gia tài, và cảm thấy hạnh phúc vì điều đó, hoan hỉ vì điều đó; thế rồi chỉ trong một tuần, cơn dịch bệnh cuốn phăng đi tất cả những người thân yêu nhất của ông ta và bỏ lại ông ta trong cảnh cô đơn lạnh lẽo. Giá trị số tiền của ông ta đã không còn. Ông ta nhận ra rằng niềm vui của ông ta đối với tiền bạc không xuất phát từ chính đồng tiền đó, mà từ sự thỏa mãn tâm linh mà ông ta có được từ việc gia đình mình tận hưởng những niềm vui và sự phè phỡn mà tiền bạc mang lại cho họ. Tiền bạc không có giá trị vật chất; nếu anh tước bỏ giá trị tâm linh của nó thì chẳng còn gì sót lại ngoài cặn bã. Mọi thứ đều như thế, dù nhỏ hay lớn, uy nghi hay tầm thường—không có ngoại lệ nào cả. Vương miện, quyền trượng, đồng xu lẻ, đồ trang sức giả, tiếng tăm làng xã, danh tiếng toàn cầu—tất cả chúng đều giống nhau, chúng chẳng có giá trị vật chất nào sất: chừng nào chúng còn làm thỏa mãn tâm hồn thì chúng còn quý giá, khi điều này thất bại thì chúng trở nên vô giá trị.
Một Vấn Đề Hóc Búa
T.N. Anh cứ làm tôi bối rối và hoang mang mãi bởi thứ thuật ngữ mơ hồ khó nắm bắt của mình. Thỉnh thoảng anh chia một con người thành hai hoặc ba nhân cách riêng biệt, mỗi nhân cách lại có quyền hạn, thẩm quyền và trách nhiệm riêng của mình, và khi con người ở trong trạng thái đó thì tôi chẳng thể tài nào hiểu nổi. Giờ thì khi tôi nói về một con người, anh ta là một thể thống nhất trọn vẹn trong một, và rất dễ nắm bắt cũng như suy ngẫm.
O.G. Điều đó thật dễ chịu và thuận tiện biết bao, nếu nó là sự thật. Khi anh nói về “cơ thể tôi”, ai là “tôi” trong đó?
T.N. Đó chính là “tôi”.
O.G. Vậy cơ thể là một thứ tài sản, và Cái Tôi sở hữu nó. Thế Cái Tôi là ai?
T.N. Cái Tôi là toàn bộ thực thể; đó là một thứ tài sản chung; một quyền sở hữu không phân chia, thuộc về toàn bộ thực thể.
O.G. Nếu Cái Tôi ngưỡng mộ một chiếc cầu vồng, có phải toàn bộ Cái Tôi ngưỡng mộ nó không, bao gồm cả tóc, tay, gót chân và tất cả mọi thứ chứ?
T.N. Chắc chắn là không rồi. Tâm trí tôi ngưỡng mộ nó chứ.
O.G. Thế là chính anh cũng chia nhỏ Cái Tôi ra rồi đấy. Ai cũng thế cả; ai cũng buộc phải làm vậy. Thế thì, rốt cuộc thì Cái Tôi chính xác là gì?
T.N. Tôi nghĩ nó hẳn phải bao gồm đúng hai phần đó—cơ thể và tâm trí.
O.G. Anh nghĩ vậy sao? Nếu anh nói “Tôi tin rằng thế giới hình tròn”, thì ai là “tôi” đang lên tiếng đó?
T.N. Tâm trí.
O.G. Nếu anh nói “Tôi đau buồn vì sự ra đi của cha tôi”, thì ai là “tôi”?
T.N. Tâm trí.
O.G. Có phải tâm trí đang thực thi một chức năng trí tuệ khi nó kiểm tra và chấp nhận bằng chứng cho thấy thế giới hình tròn không?
T.N. Vâng.
O.G. Có phải nó đang thực thi một chức năng trí tuệ khi nó đau buồn vì sự ra đi của cha anh không?
T.N. Đó không phải là hoạt động tư duy, công việc của bộ não, đó là vấn đề cảm xúc.
O.G. Thế thì nguồn gốc của nó không nằm trong tâm trí anh, mà nằm trong lãnh hạt đạo đức của anh sao?
T.N. Tôi buộc phải thừa nhận điều đó.
O.G. Tâm trí anh có phải là một phần trang bị thể xác của anh không?
T.N. Không. Nó độc lập với thể xác; nó mang tính tâm linh.
O.G. Đã là tâm linh, thì nó không thể bị tác động bởi những ảnh hưởng vật chất chứ?
T.N. Không.
O.G. Tâm trí có giữ được sự tỉnh táo khi cơ thể say rượu không?
T.N. Chà—không.
O.G. Vậy là có một hiệu ứng vật chất hiện diện ở đây sao?
T.N. Trông có vẻ là thế.
O.G. Một vết nứt trên hộp sọ đã dẫn đến một tâm trí điên loạn. Tại sao điều đó lại xảy ra nếu tâm trí mang tính tâm linh và độc lập với các ảnh hưởng vật chất?
T.N. Chà—tôi không biết.
O.G. Khi anh bị đau chân, làm thế nào anh biết được điều đó?
T.N. Tôi cảm thấy nó.
O.G. Nhưng anh không cảm thấy nó cho đến khi một dây thần kinh báo cáo cơn đau về cho bộ não. Thế nhưng bộ não lại là trung tâm của tâm trí, phải không?
T.N. Tôi nghĩ vậy.
O.G. Nhưng chẳng lẽ nó không đủ tính tâm linh để biết những gì đang diễn ra ở vùng ngoài vi mà không cần đến sự trợ giúp của sứ giả vật chất hay sao? Anh nhận thấy rằng vấn đề Cái Tôi là ai hoặc cái gì không hề đơn giản chút nào. Anh nói “Tôi ngưỡng mộ cầu vồng”, và “Tôi tin thế giới hình tròn”, và trong những trường hợp này chúng ta thấy rằng Cái Tôi không hề lên tiếng, mà chỉ có phần tinh thần lên tiếng mà thôi. Anh nói “Tôi đau buồn”, và một lần nữa Cái Tôi không hề lên tiếng toàn bộ, mà chỉ có phần đạo đức lên tiếng. Anh nói tâm trí hoàn toàn mang tính tâm linh; rồi anh lại nói “Tôi bị đau” và nhận ra rằng lần này Cái Tôi là sự kết hợp giữa tinh thần và tâm linh. Tất cả chúng ta đều sử dụng từ “tôi” theo cái cách không rõ ràng này, chẳng có cách nào tránh khỏi điều đó cả. Chúng ta tưởng tượng ra một Ông Chủ kiêm Vua chúa ngự trị trên cái mà anh gọi là Toàn Bộ Thực Thể, và chúng ta gọi ông ta là “tôi”, nhưng khi chúng ta cố gắng định nghĩa ông ta thì chúng ta thấy mình không thể làm được. Trí tuệ và cảm xúc có thể hoạt động hoàn toàn độc lập với nhau; chúng ta nhận thức được điều đó, và chúng ta đảo mắt tìm kiếm một Kẻ Cai Trị nắm quyền tối cao đối với cả hai, có thể đóng vai trò như một “tôi” dứt khoát và không thể chối cãi, và cho phép chúng ta biết mình có ý gì và ai hoặc cái gì mà chúng ta đang nói đến khi sử dụng đại từ nhân xưng đó, nhưng rồi chúng ta đành chịu thua và thú nhận rằng chúng ta không thể tìm thấy ngài. Đối với tôi, Con người là một cỗ máy, được cấu thành từ nhiều cơ chế, phần đạo đức và phần tinh thần hoạt động tự động theo các xung động của một Ông Chủ bên trong được tạo nên từ tính khí bẩm sinh và sự tích tụ của vô số ảnh hưởng và sự giáo dưỡng bên ngoài; một cỗ máy mà chức năng duy nhất là đảm bảo sự thỏa mãn tâm linh cho Ông Chủ, dù những ham muốn của ông ta là tốt hay xấu; một cỗ máy mà Ý chí là tuyệt đối và phải được tuân theo, và luôn luôn được tuân theo.
T.N. Có lẽ Cái Tôi chính là Linh hồn chăng?
O.G. Có lẽ thế. Linh hồn là gì?
T.N. Tôi không biết.
O.G. Chẳng ai khác biết cả.
Đam Mê Chủ Đạo
T.N. Ông Chủ là gì?—hay nói theo ngôn ngữ thông thường, Lương tâm là gì? Hãy giải thích đi.
O.G. Đó chính là kẻ độc tài thần bí ngự trị bên trong một con người, buộc con người đó phải làm thỏa mãn những ham muốn của hắn. Nó có thể được gọi là Niềm Đam Mê Chủ Đạo—cơn đói khát Sự Tự Phê Chuẩn.
T.N. Trụ sở của nó nằm ở đâu?
O.G. Nằm trong cấu trúc đạo đức của con người.
T.N. Các mệnh lệnh của nó có vì sự tốt đẹp của con người không?
O.G. Nó dửng dưng trước sự tốt đẹp của con người; nó không bao giờ bận tâm đến bất cứ điều gì ngoài việc thỏa mãn những ham muốn của chính nó. Nó có thể được huấn luyện để ưu tiên những điều tốt đẹp cho con người, nhưng nó sẽ chỉ ưu tiên chúng vì chúng làm cho nó thỏa mãn hơn những thứ khác mà thôi.
T.N. Thế thì ngay cả khi nó được huấn luyện để hướng tới những lý tưởng cao đẹp, nó vẫn đang tìm kiếm sự thỏa mãn cho chính mình, chứ không phải vì sự tốt đẹp của con người.
O.G. Đúng vậy. Dù được huấn luyện hay không, nó chẳng quan tâm chút nào đến sự tốt đẹp của con người, và không bao giờ bận tâm về điều đó.
T.N. Nó có vẻ là một thế lực vô đạo đức ngự trị trong cấu trúc đạo đức của con người.
O.G. Đó là một thế lực trung tính ngự trị trong cấu trúc đạo đức của con người. Hãy gọi nó là một bản năng—một bản năng mù quáng, không có lý trí, không thể và không phân biệt được đạo đức tốt và đạo đức xấu, và chẳng màng gì đến kết quả đối với con người miễn là sự thỏa mãn của chính nó được đảm bảo; và nó sẽ luôn đảm bảo được điều đó.
T.N. Nó tìm kiếm tiền bạc, và có lẽ nó cho rằng đó là một lợi thế cho con người?
O.G. Nó không phải lúc nào cũng tìm kiếm tiền bạc, nó không phải lúc nào cũng tìm kiếm quyền lực, hay chức vị, hay bất kỳ lợi thế vật chất nào khác. Trong mọi trường hợp, nó tìm kiếm sự thỏa mãn tâm linh, dù phương tiện có là gì đi nữa. Những khao khát của nó được quyết định bởi tính khí của con người—và nó là chúa tể của tính khí đó. Tính khí, Lương tâm, Tính dễ cảm thụ, Khẩu vị Tâm linh, thực ra đều là một thứ. Anh đã bao giờ nghe nói về một người chẳng màng gì đến tiền bạc chưa?
T.N. Rồi. Một học giả không chịu rời bỏ gác mái và những cuốn sách của mình để nhận một chân làm việc trong một công ty thương mại với mức lương hậu hĩnh.
O.G. Anh ta phải làm thỏa mãn ông chủ của mình—nghĩa là tính khí của anh ta, Khẩu vị Tâm linh của anh ta—và nó thích sách vở hơn tiền bạc. Còn những trường hợp khác không?
T.N. Có chứ, những tu sĩ ẩn tu.
O.G. Đó là một ví dụ hay. Kẻ ẩn tu chịu đựng sự cô độc, đói khát, lạnh giá và muôn vàn hiểm nguy để làm thỏa mãn vị bạo chúa của mình, kẻ thích những thứ đó, cùng với việc cầu nguyện và chiêm niệm hơn là tiền bạc hay bất kỳ sự xa hoa trưng diện nào mà tiền bạc có thể mua được. Còn những ai khác nữa không?
T.N. Có. Người nghệ sĩ, nhà thơ, nhà khoa học.
O.G. Vị bạo chúa của họ thích những niềm vui sâu sắc từ những công việc này, dù được trả lương cao hay trả lương thấp, hơn bất kỳ thứ nào khác trên thị trường, với bất kỳ cái giá nào. Anh nhận ra rằng Niềm Đam Mê Chủ Đạo—sự thỏa mãn của tâm hồn—quan tâm đến rất nhiều thứ bên cạnh cái gọi là lợi thế vật chất, sự thịnh vượng vật chất, tiền mặt và những thứ đại loại thế chứ?
T.N. Tôi nghĩ là tôi phải thừa nhận điều đó.
O.G. Tôi tin là anh phải thế. Có lẽ có rất nhiều kiểu Tính khí sẵn sàng từ chối những gánh nặng, phiền toái và danh vọng của chức vụ công quyền cũng như số lượng những kẻ khao khát chúng. Nhóm Tính khí này tìm kiếm sự thỏa mãn của tâm hồn, và chỉ điều đó mà thôi; và đây chính xác là trường hợp của nhóm Tính khí kia. Cả hai nhóm chẳng tìm kiếm gì ngoài sự thỏa mãn của tâm hồn. Nếu nhóm này là đồi bại, thì nhóm kia cũng đồi bại; và mức độ tồi tệ là như nhau, vì mục đích hướng tới ở cả hai trường hợp là hoàn toàn giống hệt nhau. Và trong cả hai trường hợp, Tính khí quyết định sự ưu tiên—và Tính khí là do bẩm sinh, chứ không phải do nhào nặn mà thành.
Kết luận
O.G. Anh vừa đi nghỉ mát về đấy phỏng?
T.N. Vâng; một chuyến đi bộ đường dài trên núi kéo dài suốt một tuần. Anh đã sẵn sàng trò chuyện chưa?
O.G. Rất sẵn sàng. Chúng ta sẽ bắt đầu với chuyện gì đây?
T.N. Chà, nằm trên giường nghỉ ngơi suốt hai ngày hai đêm, tôi đã nghiền ngẫm tất cả những cuộc trò chuyện này, và ôn lại chúng một cách cẩn thận. Với kết quả là... rằng... anh có định xuất bản những quan niệm của mình về Con người vào một ngày nào đó không?
O.G. Thỉnh thoảng trong hai mươi năm qua, Ông Chủ bên trong tôi đã có ý định lờ mờ ra lệnh cho tôi viết chúng ra giấy và xuất bản chúng. Tôi có phải nói cho anh biết tại sao mệnh lệnh đó vẫn chưa được ban hành không, hay anh có thể giải thích một điều đơn giản như vậy mà không cần tôi giúp?
T.N. Theo học thuyết của anh, nó đơn giản vô cùng: những ảnh hưởng bên ngoài đã tác động khiến Ông Chủ bên trong của anh ra lệnh; những ảnh hưởng bên ngoài mạnh mẽ hơn đã ngăn cản ông ta. Nếu không có những ảnh hưởng bên ngoài, không một cái xung động nào trong số này có thể ra đời, vì bộ não của một con người vốn không có khả năng tự mình khởi xướng một ý tưởng.
O.G. Chính xác. Nói tiếp đi.
T.N. Vấn đề xuất bản hay giữ lại vẫn đang nằm trong tay Ông Chủ của anh. Nếu một ngày nào đó một ảnh hưởng bên ngoài quyết định bắt ông ta phải xuất bản, ông ta sẽ ra lệnh, và lệnh đó sẽ được tuân theo.
O.G. Điều đó hoàn toàn chính xác. Thế nào nữa?
T.N. Sau khi suy ngẫm, tôi đi đến xác tín rằng việc xuất bản các học thuyết của anh sẽ mang lại tác hại. Anh tha lỗi cho tôi chứ?
O.G. Tha lỗi cho anh ư? Anh có làm gì đâu. Anh chỉ là một công cụ—một chiếc loa phóng thanh. Loa phóng thanh không chịu trách nhiệm cho những gì được phát ra qua chúng. Những ảnh hưởng bên ngoài—dưới hình thức của những bài học, sự huấn luyện, quan niệm, định kiến suốt đời và những thứ nhập khẩu qua tay thứ hai khác—đã thuyết phục Ông Chủ bên trong anh rằng việc xuất bản những học thuyết này sẽ mang lại tác hại. Rất tốt, điều này hoàn toàn tự nhiên, và là điều có thể đoán trước được; trên thực tế, đó là điều tất yếu. Nói tiếp đi; vì sự thoải mái và tiện lợi, hãy cứ bám lấy thói quen đi: hãy nói ở ngôi thứ nhất, và cho tôi biết Ông Chủ của anh nghĩ gì về điều này.
T.N. Vâng, bắt đầu nhé: đây là một học thuyết mang tính tàn phá; nó không truyền cảm hứng, không khích lệ, không nâng đỡ con người. Nó tước đi vinh quang của con người, tước đi lòng tự kiêu của chủ nhân nó, tước đi chủ nghĩa anh hùng của nó, nó chối bỏ mọi công trạng cá nhân, mọi sự hoan hô dành cho nó; nó không chỉ hạ bệ con người xuống thành một cỗ máy mà còn không cho phép nó có bất kỳ quyền kiểm soát nào đối với cỗ máy đó; biến nó thành một chiếc cối xay cà phê thuần tuý và không cho phép nó tự cung cấp cà phê cũng như quay tay cầm, chức năng duy nhất và đáng thương hại một cách khiêm nhường của nó là nghiền thô hay mịn, tùy theo cấu tạo của bản thân, trong khi các xung động bên ngoài làm phần việc còn lại.
O.G. Được diễn đạt rất chính xác. Hãy nói cho tôi nghe—con người ngưỡng mộ điều gì nhất ở nhau?
T.N. Trí tuệ, lòng dũng cảm, sự vóc dáng uy nghi, vẻ đẹp gương mặt, lòng bác ái, lòng nhân ái, sự hào hiệp, lòng tốt, chủ nghĩa anh hùng, và—và—
O.G. Tôi nghĩ không cần đi xa hơn nữa đâu. Đó là những yếu tố nguyên bản. Đức hạnh, sự kiên định, sự thánh thiện, tính chân thật, lòng trung thành, những lý tưởng cao đẹp—những điều này, và tất cả các phẩm chất có liên quan được gọi tên trong từ điển, đều được tạo thành từ các yếu tố nguyên bản, bằng cách pha trộn, kết hợp và tạo sắc thái cho các yếu tố nguyên bản đó, giống như cách người ta tạo ra màu xanh lá cây bằng cách pha trộn màu xanh lam và màu vàng, và tạo ra một số sắc thái và tông màu đỏ bằng cách điều chỉnh màu đỏ nguyên bản. Có một số màu sắc nguyên bản; tất cả chúng đều nằm trong cầu vồng; từ chúng, chúng ta chế tạo và đặt tên cho năm mươi sắc thái của chúng. Anh vừa kể tên các yếu tố nguyên bản của cầu vồng loài người, và cũng kể tên một sự pha trộn—chủ nghĩa anh hùng, được tạo ra từ lòng dũng cảm và sự hào hiệp. Rất tốt; vậy thì, cái yếu tố nào trong số này là do chính người sở hữu tự chế tạo ra cho mình? Có phải là trí tuệ không?
T.N. Không.
O.G. Tại sao?
T.N. Anh ta sinh ra đã có sẵn nó rồi.
O.G. Có phải là lòng dũng cảm không?
T.N. Không. Anh ta sinh ra đã có nó.
O.G. Có phải là vóc dáng uy nghi, vẻ đẹp gương mặt không?
T.N. Không. Đó là những quyền bẩm sinh.
O.G. Lấy những thứ khác đi—những phẩm chất đạo đức nguyên bản—lòng bác ái, lòng nhân ái, sự hào hiệp, lòng tốt; những hạt giống màu mỡ, từ đó nảy nở, thông qua sự vun trồng bởi các ảnh hưởng bên ngoài, tất cả các sự pha trộn và kết hợp phong phú của các đức tính được gọi tên trong từ điển: có phải con người tự tay sản xuất bất kỳ hạt giống nào trong số đó không, hay tất cả chúng đều có sẵn từ khi sinh ra?
T.N. Có sẵn từ khi sinh ra.
O.G. Thế thì ai là kẻ sản xuất ra chúng?
T.N. Chúa trời.
O.G. Vậy công trạng thuộc về ai?
T.N. Thuộc về Chúa trời.
O.G. Và vinh quang mà anh vừa nhắc tới, cùng với sự hoan hô?
T.N. Thuộc về Chúa trời.
O.G. Thế hóa ra chính anh mới là kẻ hạ thấp con người. Anh bắt con người phải nhận vinh quang, lời ca tụng, sự nịnh bợ cho mọi thứ có giá trị mà anh ta sở hữu—toàn là đồ mượn vá víu cả; chẳng có lấy một mảnh rách nào do chính anh ta tự kiếm lấy, chẳng có lấy một chi tiết nào do chính sức lao động của anh ta tạo ra. Anh biến con người thành một kẻ bịp bợm; tôi đã đối xử tệ bạc với nó hơn sao?
T.N. Anh đã biến nó thành một cỗ máy.
O.G. Ai đã thiết kế ra cái cơ chế xảo quyệt và tuyệt đẹp đó, chính là bàn tay của con người?
T.N. Chúa trời.
O.G. Ai đã thiết kế ra thứ quy luật mà nhờ đó nó tự động gõ ra từ một cây đàn piano một bản nhạc công phu, không hề sai sót, trong khi con người đang bận nghĩ về chuyện khác, hoặc đang trò chuyện với một người bạn?
T.N. Chúa trời.
O.G. Ai đã thiết kế ra máu? Ai đã thiết kế ra cỗ máy kỳ diệu tự động thúc đẩy những dòng chảy đổi mới và tươi mát của nó chạy khắp cơ thể, ngày lẫn đêm, không cần sự hỗ trợ hay lời khuyên nào từ con người? Ai đã thiết kế ra tâm trí của con người, cỗ máy hoạt động hoàn toàn tự động, thích quan tâm đến gì thì quan tâm, bất chấp ý chí hay mong muốn của chủ nhân, làm việc suốt đêm khi nó thích, phớt lờ những lời cầu xin thương xót của anh ta? Chúa trời đã thiết kế ra tất cả những thứ đó. Tôi không biến con người thành cỗ máy, Chúa trời mới là Đấng đã tạo ra nó thành cỗ máy. Tôi chỉ đang thu hút sự chú ý đến sự thật đó mà thôi, không có gì hơn thế. Việc thu hút sự chú ý đến sự thật đó có sai trái không? Đó có phải là một tội ác không?
T.N. Tôi nghĩ việc phơi bày một sự thật khi nó có thể mang lại tác hại là sai trái.
O.G. Nói tiếp đi.
T.N. Hãy nhìn vào vấn đề ở thời điểm hiện tại xem. Con người từ trước đến nay vẫn được dạy rằng mình là kỳ quan tối cao của Sáng Thế; anh ta tin điều đó; trong suốt mọi thời đại anh ta chưa từng mờ hồ hoài nghi về điều đó, dù anh ta là một tên thổ dân trần truồng hay khoác lên mình lụa là gấm vóc và văn minh. Điều này đã làm cho trái tim anh ta phấn chấn, cuộc sống của anh ta vui tươi. Niềm tự hào của anh ta về bản thân, sự ngưỡng mộ chân thành của anh ta dành cho chính mình, niềm vui sướng của anh ta trước những thành tựu mà anh ta cho là của riêng mình và không có sự trợ giúp nào, cùng với sự hân hoan trước những lời ca tụng và hoan hô mà chúng gợi lên—những điều này đã nâng cao anh ta, truyền cảm hứng cho anh ta, thôi thúc anh ta vươn tới những tầm cao ngày càng cao hơn; nói một cách ngắn gọn, làm cho cuộc đời anh ta đáng sống. Nhưng theo kế hoạch của anh, tất cả những điều này đều bị xóa sổ; anh ta bị hạ bệ xuống thành một cỗ máy, anh ta chẳng là cái thá gì cả, niềm kiêu hãnh cao cả của anh ta héo mòn thành những thứ phù phiếm trần tục; dù anh ta có gắng sức đến đâu đi nữa, anh ta cũng không bao giờ có thể trở nên tốt đẹp hơn người hàng xóm thấp kém nhất và đần độn nhất của mình; anh ta sẽ không bao giờ có thể vui tươi trở lại, cuộc đời anh ta sẽ chẳng còn đáng sống nữa.
O.G. Anh thực sự nghĩ thế sao?
T.N. Tôi chắc chắn nghĩ thế.
O.G. Anh đã bao giờ thấy tôi buồn rầu, bất hạnh chưa?
T.N. Chưa.
O.G. Chà, tôi tin những điều đó đấy. Tại sao chúng lại không làm tôi trở nên bất hạnh?
T.N. Ồ, chà—tính khí, dĩ nhiên rồi! Anh không bao giờ để điều đó thoát khỏi kế hoạch của mình cả.
O.G. Đúng là thế. Nếu một người sinh ra với một tính khí bất hạnh, không gì có thể làm anh ta hạnh phúc; nếu anh ta sinh ra với một tính khí hạnh phúc, không gì có thể làm anh ta bất hạnh.
T.N. Cái gì—ngay cả một hệ thống tín điều làm thoái hóa và lạnh giá cả tâm hồn sao?
O.G. Tín điều ư? Chỉ là những tín điều thuần tuý thôi sao? Chỉ là những xác tín thuần tuý ư? Chúng hoàn toàn vô lực. Chúng chiến đấu trong vô vọng chống lại tính khí bẩm sinh.
T.N. Tôi không thể tin điều đó, và tôi sẽ không tin.
O.G. Giờ thì anh đang nói một cách vội vàng rồi đấy. Nó cho thấy anh chưa nghiên cứu các sự thật một cách cẩu thả và thấu đáo. Trong số tất cả những người thân cận của anh, ai là kẻ hạnh phúc nhất? Chẳng phải là Burgess đó sao?
T.N. Quá rõ ràng rồi.
O.G. Và ai là kẻ bất hạnh nhất? Henry Adams phải không?
T.N. Không còn nghi ngờ gì nữa!
O.G. Tôi biết rõ họ đấy. Họ là những thái cực, những trường hợp bất thường; tính khí của họ đối lập nhau như hai đầu nam châm. Lịch sử cuộc đời họ xấp xỉ nhau—nhưng hãy nhìn vào kết quả xem! Tuổi tác của họ xấp xỉ nhau—khoảng tầm ngũ tuần. Burgess từ trước đến nay vẫn luôn phơi phới, tràn đầy hy vọng, hạnh phúc; Adams từ trước đến nay vẫn luôn ảm đạm, tuyệt vọng, chán nản. Khi còn trẻ, cả hai đều thử sức với nghề báo chí nông thôn—và thất bại. Burgess dường như chẳng màng đến điều đó; Adams không thể mờ hồ nở nụ cười, anh ta chỉ có thể than khóc và rên rỉ về những chuyện đã qua đồng thời tự tra tấn bản thân bằng những sự hối tiếc vô ích vì đã không làm thế này thế nọ thay vì thế nọ thế kia—để rồi khi đó anh ta đã có thể thành công. Họ thử sức với ngành luật—và thất bại. Burgess vẫn giữ được sự hạnh phúc—bởi vì anh ta không thể cưỡng lại điều đó. Adams thì khốn khổ—bởi vì anh ta cũng chẳng thể cưỡng lại được. Kể từ ngày đó cho đến nay, hai con người ấy cứ liên tục thử sức với mọi thứ và liên tục thất bại: Burgess lần nào cũng vượt qua trong trạng thái vui vẻ và hớn hở; còn Adams thì ngược lại. Và chúng ta thực sự biết chắc chắn rằng tính khí bẩm sinh của những con người này vẫn không hề thay đổi xuyên suốt qua mọi thăng trầm trong các vấn đề vật chất của họ. Hãy xem tình hình diễn ra như thế nào với các vấn đề phi vật chất của họ nhé. Cả hai đều từng là những tín đồ Dân chủ nhiệt thành; cả hai từng là những tín đồ Cộng hòa nhiệt thành; cả hai từng là những tín đồ Mugwump nhiệt thành. Burgess luôn tìm thấy hạnh phúc còn Adams luôn tìm thấy sự bất hạnh trong những tín điều chính trị khác nhau này và trong những cuộc di cư của họ khỏi chúng. Cả hai con người này từng là tín đồ Presbyterian, Universalist, Methodists, Công giáo—rồi lại Presbyterian một lần nữa, rồi lại Methodists một lần nữa. Burgess luôn tìm thấy sự bình yên trong những chuyến phiêu lưu này, còn Adams thì luôn bất an. Giờ thì họ đang thử nghiệm Khoa học Cơ Đốc giáo, với kết quả thông thường, kết quả tất yếu. Không một tín điều chính trị hay tôn giáo nào có thể làm Burgess bất hạnh hay làm kẻ kia hạnh phúc cả. Tôi cam đoan với anh đó hoàn toàn là vấn đề về tính khí. Tín điều là những thứ tích thu được, tính khí là thứ bẩm sinh; tín điều thì có thể thay đổi, không một thứ gì trên đời có thể thay đổi được tính khí.
T.N. Anh vừa đưa ra những ví dụ về các thái cực tính khí.
O.G. Đúng vậy, nửa tá người kia là những biến thể của các thái cực đó. Nhưng quy luật vẫn là một. Khi tính khí đạt mức hai phần ba hạnh phúc, hoặc hai phần ba bất hạnh, không một tín điều chính trị hay tôn giáo nào có thể thay đổi được tỷ lệ đó. Đại đa số tính khí đều cân bằng khá đều đặn; những cường độ mạnh mẽ đều vắng mặt, và điều này cho phép một quốc gia học cách tự thích nghi với các hoàn cảnh chính trị và tôn giáo của mình và yêu mến chúng, thỏa mãn với chúng, và cuối cùng là ưu tiên chúng. Các quốc gia không tư duy, chúng chỉ cảm nhận mà thôi. Chúng tiếp nhận cảm xúc của mình qua trung gian là tính khí chứ không phải qua bộ não của mình. Một quốc gia có thể được dẫn dắt—bởi sức ép của hoàn cảnh, chứ không phải lập luận—để tự hòa giải với bất kỳ loại chính quyền hoặc tôn giáo nào có thể được nghĩ ra; theo thời gian nó sẽ tự uốn nắn mình cho phù hợp với các điều kiện được yêu cầu; muộn hơn nữa, nó sẽ ưu tiên chúng và sẽ chiến đấu đến cùng vì chúng. Lấy ví dụ thì anh có toàn bộ lịch sử: người Hy Lạp, người La Mã, người Ba Tư, người Ai Cập, người Nga, người Đức, người Pháp, người Anh, người Tây Ban Nha, người Mỹ, người Nam Mỹ, người Nhật Bản, người Trung Quốc, người Ấn Độ giáo, người Thổ Nhĩ Kỳ—hàng ngàn tôn giáo hoang dã và thuần hóa, đủ mọi loại chính quyền có thể tưởng tượng nổi, từ mãnh hổ cho đến mèo nhà, mỗi quốc gia đều đinh ninh rằng mình sở hữu tôn giáo chân chính duy nhất và hệ thống chính quyền hợp lý duy nhất, mỗi quốc gia đều khinh miệt tất cả những quốc gia còn lại, mỗi quốc gia đều là một kẻ ngốc mà không hề hay biết, mỗi quốc gia đều kiêu hãnh về sự thống trị tưởng tượng của mình, mỗi quốc gia đều chắc mẩm mình là đứa con cưng của Chúa, mỗi quốc gia đều không chút nghi ngờ tự tin triệu tập Ngài ra nắm quyền chỉ huy mỗi khi chiến tranh nổ ra, mỗi quốc gia đều ngạc nhiên khi Ngài ngả theo phe kẻ địch, nhưng do thói quen lại có thể tha thứ cho điều đó và tiếp tục những lời tán dương—nói một cách ngắn gọn, toàn bộ nhân loại đều mãn nguyện, luôn luôn mãn nguyện, kiên trì mãn nguyện, mãn nguyện không thể phá vỡ, hạnh phúc, biết ơn, tự hào, bất kể tôn giáo của nó là gì, hay chủ nhân của nó là mãnh hổ hay mèo nhà. Tôi đang trình bày sự thật phải không? Anh biết thừa là tôi đang nói thật mà. Loài người có vui tươi không? Anh biết là có chứ. Cân nhắc xem nó có thể chịu đựng những gì, và vẫn hạnh phúc, anh đã quá đề cao tôi khi nghĩ rằng tôi có thể đặt trước mặt nó một hệ thống gồm toàn những sự thật lạnh lùng trần trụi có thể lấy đi niềm vui tươi của nó. Không thứ gì có thể làm được điều đó cả. Mọi thứ đã được thử nghiệm rồi. Mà chẳng mang lại thành công nào. Xin anh đừng bận tâm làm gì.