Ông Già. Có những trường hợp như thế chứ—anh nghĩ vậy không?
Thanh Niên. Trường hợp ư? Hàng triệu ấy chứ!
Ô.G. Anh không vội vã đưa ra kết luận đấy chứ? Anh đã xem xét chúng một cách—thận trọng chưa?
T.N. Chúng chẳng cần điều đó: tự bản thân các hành động đã bộc lộ xung lực tốt đẹp ẩn sau chúng rồi.
Ô.G. Chẳng hạn?
T.N. Vâng, thế thì, xin lấy ví dụ. Hãy xét trường hợp trong cuốn sách này. Người đàn ông sống cách trung tâm ba dặm về phía thượng lưu. Trời rét căm căm, tuyết rơi dày đặc, lúc nửa đêm. Anh ta chuẩn bị lên xe ngựa điện thì một bà lão rách rưới, đầu tóc điểm bạc, một hình ảnh đáng thương đến nao lòng, giơ bàn tay gầy guộc ra cầu xin được cứu giúp khỏi cơn đói khát và cái chết. Người đàn ông phát hiện trong túi mình có một đồng tư lệ gộp, nhưng anh ta không ngần ngại gì hết: liền đưa nó cho bà lão rồi lầm lũi đi bộ về nhà giữa trận bão tuyết. Thế đấy—thật cao thượng, thật đẹp đẽ; vẻ đẹp ấy không hề bị vấy bẩn bởi một vết nhơ, một tì vết hay bất kỳ một mảy may vụ lợi nào.
Ô.G. Điều gì khiến anh nghĩ vậy?
T.N. Xin hỏi ngoài ra tôi có thể nghĩ gì được nữa? Anh có tưởng tượng ra được cách nhìn nhận nào khác về chuyện đó không?
Ô.G. Anh có thể đặt mình vào vị trí của người đàn ông đó và cho tôi biết ông ta đã cảm thấy gì và suy nghĩ gì không?
T.N. Quá dễ. Cảnh tượng khuôn mặt già nua khổ sở ấy đã đâm thủng trái tim nhân hậu của anh ta một nỗi đau nhói buốt. Anh ta không thể chịu đựng nổi. Anh ta có thể chịu đựng quãng đường đi bộ ba dặm trong bão tuyết, nhưng không thể chịu đựng nổi những sự tra tấn mà lương tâm sẽ phải gánh chịu nếu anh ta quay lưng bỏ mặc sinh linh khốn khổ ấy ngã gục. Anh ta sẽ chẳng thể tài nào chợp mắt được vì cứ nghĩ mãi về điều đó.
Ô.G. Trạng thái tâm lý của ông ta trên đường về nhà thế nào?
T.N. Đó là một trạng thái hân hoan mà chỉ những người biết hy sinh vì người khác mới hiểu được. Trái tim ông ta hát ca, ông ta hoàn toàn quên mất cả bão tuyết.
Ô.G. Ông ta cảm thấy khỏe khoắn chứ?
T.N. Điều đó thì không phải bàn cãi.
Ô.G. Rất tốt. Giờ thì chúng ta hãy cộng các chi tiết lại xem ông ta nhận được những gì cho hai mươi nhăm xu của mình. Hãy thử tìm ra nguyên nhân đích thực khiến ông ta đầu tư khoản tiền đó. Trước hết, ông ta không thể chịu nổi nỗi đau mà khuôn mặt khốn khổ kia gây ra cho mình. Thế nên ông ta đang nghĩ đến nỗi đau của chính mình—người tốt bụng này. Ông ta phải mua một thứ thuốc xoa dịu cho nó. Nếu ông ta không cứu giúp bà lão, lương tâm sẽ tra tấn ông ta suốt dọc đường về nhà. Lại nghĩ đến nỗi đau của mình đấy thôi. Ông ta phải mua sự giải thoát cho cái đó. Nếu ông ta không cứu giúp bà lão, ông ta sẽ chẳng thể tài nào chợp mắt được. Ông ta phải mua chút giấc ngủ—như vậy anh thấy đấy, vẫn là nghĩ đến bản thân mình. Tóm lại, ông ta đã tự bỏ tiền ra mua sự thanh thản khỏi nỗi đau nhói trong tim, tự mua sự giải thoát khỏi những đày đọa của một lương tâm đang chầu chực, ông ta mua trọn một giấc ngủ ban đêm—tất cả chỉ với hai mươi nhăm xu! Điều này chắc phải làm cho phố Wall phải cảm thấy hổ thẹn với chính mình. Trên đường về nhà, trái tim ông ta hoan hỉ và cất tiếng hát—lợi nhuận chồng chất lợi nhuận! Xung lực thôi thúc người đàn ông cứu giúp bà lão trước hết là—để làm thỏa mãn tâm hồn chính mình; thứ hai là để xoa dịu những nỗi thống khổ của bà. Theo ý anh, các hành động của con người xuất phát từ một xung lực duy nhất, trung tâm, bất biến và không thể đổi thay, hay từ muôn vàn xung lực khác nhau?
T.N. Đương nhiên là từ muôn vàn xung lực rồi—có cái cao cả, tuyệt vời và cao thượng, có cái thì không. Còn ý kiến của ông thế nào?
Ô.G. Thế thì chỉ có một quy luật duy nhất, một nguồn cội duy nhất.
T.N. Rằng cả những xung lực cao cả nhất lẫn những thứ đê hèn nhất đều xuất phát từ một nguồn cội ấy ư?
Ô.G. Đúng vậy.
T.N. Ông có thể diễn tả quy luật đó thành lời được không?
Ô.G. Được chứ. Đây là quy luật, anh hãy ghi nhớ lấy nó. Từ lúc cất tiếng khóc chào đời cho đến khi nhắm mắt xuôi tay, con người chưa từng làm bất cứ một việc đơn lẻ nào mà có mục đích ĐẦU TIÊN VÀ TRÊN HẾT ngoài một điều duy nhất—để đảm bảo sự bình yên trong tâm hồn, sự thoải mái về mặt tinh thần, cho CHÍNH MÌNH.
T.N. Thôi đi nào! Anh ta chưa từng làm bất cứ điều gì vì sự thoải mái của bất kỳ ai khác, dù là về mặt tinh thần hay thể xác ư?
Ô.G. Không. Trừ phi theo những điều kiện rạch ròi đó—rằng trước tiên nó phải đảm bảo được sự thoải mái tinh thần của chính anh ta. Bằng không thì anh ta sẽ chẳng đời nào làm thế.
T.N. Thật dễ dàng để vạch trần sự sai trái của cái mệnh đề đó.
Ô.G. Chẳng hạn?
T.N. Hãy lấy thứ tình cảm cao đẹp ấy ra làm ví dụ, lòng yêu nước, tinh thần ái quốc. Một người vốn yêu chuộng sự bình yên và sợ hãi đau đớn, lại rời bỏ ngôi nhà êm ấm cùng gia đình đang đẫm lệ để ra trận, hiên ngang dấn thân vào đói khát, lạnh giá, thương tích và cái chết. Đó có phải là đang tìm kiếm sự thoải mái tinh thần hay không?
Ô.G. Anh ta yêu chuộng sự bình yên và sợ hãi đau đớn ư?
T.N. Vâng.
Ô.G. Thế thì có lẽ có một thứ mà anh ta còn yêu quý hơn cả sự bình yên—đó là sự công nhận của chòm xóm và công chúng. Và có lẽ còn có thứ mà anh ta sợ hãi hơn cả nỗi đau—đó là sự bất bình của chòm xóm và công chúng. Nếu anh ta là kẻ nhạy cảm trước sự hổ thẹn, anh ta sẽ ra trận—không phải vì tâm hồn anh ta hoàn toàn được thoải mái ở nơi đó, mà vì ở đó tinh thần anh ta sẽ dễ chịu hơn so với khi cứ ì ra ở nhà. Anh ta sẽ luôn làm điều mang lại cho mình nhiều sự thoải mái trong tâm trí nhất—vì đó là quy luật duy nhất trong đời anh ta. Anh ta bỏ lại gia đình đẫm lệ phía sau; anh ta lấy làm tiếc vì khiến họ phiền muộn, nhưng chưa đủ tiếc để hy sinh sự thoải mái của chính mình nhằm đổi lấy sự thoải mái cho họ.
T.N. Ông thực sự tin rằng chỉ một dư luận xã hội thuần túy lại có thể ép buộc một kẻ rụt rè, ưa hòa bình phải—
Ô.G. Ra trận ư? Đúng vậy—dư luận xã hội có thể ép một số kẻ làm bất cứ chuyện gì.
T.N. Bất cứ chuyện gì ư?
Ô.G. Đúng vậy—bất cứ chuyện gì.
T.N. Tôi không đời nào tin điều đó. Nó có thể ép một người có nguyên tắc ngay thẳng làm một chuyện sai trái không?
Ô.G. Có chứ.
T.N. Nó có thể ép một kẻ nhân hậu làm một việc tàn nhẫn không?
Ô.G. Có chứ.
T.N. Hãy cho một ví dụ xem nào.
Ô.G. Alexander Hamilton là một con người vô cùng có nguyên tắc. Ông ta coi việc đấu súng là sai trái, là đi ngược lại với những lời răn của tôn giáo—nhưng vì nể nang dư luận mà ông ta đã bước vào một trận quyết đấu. Ông ta vô cùng yêu thương gia đình mình, nhưng để mua chuộc sự công nhận của công chúng, ông ta đã nhẫn tâm bỏ rơi họ và vứt bỏ cả sinh mạng, phũ phàng đẩy họ vào nỗi đau khổ suốt đời chỉ để được đứng ở vị thế tốt đẹp trước một xã hội ngu ngốc. Trong bối cảnh các tiêu chuẩn danh dự của công chúng lúc bấy giờ, ông ta không tài nào cảm thấy yên ổn nổi với cái tiếng là kẻ đã từ chối đấu súng. Những lời răn dạy của tôn giáo, lòng tận tụy với gia đình, sự nhân hậu trong tim, các nguyên tắc cao đẹp của ông ta—tất cả đều trở thành con số không khi chúng ngáng đường sự thoải mái trong tâm hồn ông ta. Con người ta sẵn sàng làm bất cứ điều gì, dù đó là gì đi nữa, để đảm bảo sự thoải mái tinh thần cho bản thân; và người ta sẽ không thể bị ép buộc hay thuyết phục làm bất kỳ hành động nào mà không có mục tiêu đó làm đích đến. Hành động của Hamilton bị chi phối bởi nhu cầu bẩm sinh phải làm thỏa mãn tâm hồn chính mình; về điểm này, nó cũng giống như mọi hành động khác trong cuộc đời ông, và giống như mọi hành động trong cuộc đời tất cả mọi người. Anh có nhìn ra cốt lõi của vấn đề nằm ở đâu không? Một con người không thể cảm thấy thoải mái nếu thiếu đi sự chấp thuận của chính bản thân mình. Anh ta sẽ bất chấp mọi giá, mọi sự hy sinh để giành lấy phần lớn nhất có thể của sự công nhận ấy.
T.N. Cách đây một phút ông vừa bảo Hamilton đấu súng để đổi lấy sự công nhận của công chúng cơ mà.
Ô.G. Đúng vậy. Nếu từ chối cuộc quyết đấu ấy, ông ta sẽ giành được sự chấp thuận từ gia đình và một phần lớn sự chấp thuận của chính mình; nhưng sự công nhận của công chúng lại có giá trị lớn lao hơn trong mắt ông ta so với tất cả những sự công nhận khác gộp lại—trên cõi đời này hay trên cả thiên đơng; việc đảm bảo được điều đó sẽ mang lại cho ông ta nhiều sự thoải mái trong tâm trí nhất, sự tự mãn nguyện lớn nhất; thế nên ông ta đã hy sinh tất cả những giá trị khác để đạt được nó.
T.N. Vẫn có những tâm hồn cao thượng từng từ chối đấu súng, và họ đã hiên ngang thách thức sự khinh miệt của công chúng đấy thôi.
Ô.G. Họ hành xử theo đúng bản chất của mình. Họ coi trọng các nguyên tắc và sự chấp thuận của gia đình hơn là sự công nhận của xã hội. Họ chọn thứ mà họ trúng ý nhất và bỏ mặc những thứ còn lại. Họ chọn điều mang lại cho họ phần lớn nhất sự mãn nguyện và sự chấp thuận của cá nhân—con người ta lúc nào chẳng thế. Dư luận không tài nào ép những kẻ kiểu đó ra trận được đâu. Khi họ đi, đó là vì những lý do khác. Những lý do làm thỏa mãn tâm hồn khác.
T.N. Lúc nào cũng là những lý do làm thỏa mãn tâm hồn ư?
Ô.G. Chẳng có lý do nào khác cả.
T.N. Khi một người hy sinh mạng sống để cứu một đứa trẻ khỏi tòa nhà đang cháy, ông gọi đó là gì?
Ô.G. Khi anh ta làm thế, đó là quy luật bản chất của anh ta. Anh ta không thể chịu đựng nổi khi nhìn thấy đứa trẻ gặp nguy hiểm đó (trong khi một kẻ có bản chất khác thì có thể), và thế là anh ta cố gắng cứu đứa trẻ, rồi bỏ mạng. Nhưng anh ta đã đạt được thứ mà mình hằng mưu cầu—sự chấp thuận của chính bản thân.
T.N. Thế ông gọi Tình yêu, Ghét bỏ, Lòng bác ái, Sự trả thù, Lòng nhân đạo, Tính hào hiệp, Sự tha thứ là gì?
Ô.G. Những kết quả khác nhau của một Xung Lực Chủ Đạo duy nhất: nhu cầu phải đạt được sự tự công nhận của chính mình. Chúng khoác lên mình những lớp áo khác nhau và chịu sự chi phối của những tâm trạng khác nhau, nhưng dẫu có ngụy trang dưới bất kỳ hình thức nào thì bản chất chúng vẫn chỉ là một mà thôi. Nói theo cách khác, sự thúc ép sai khiến con người ta—và chỉ có duy nhất một thứ đó—chính là nhu cầu phải đạt được sự yên bình cho tâm hồn mình. Khi thứ đó dừng lại, con người ta cũng chết.
T.N. Thật là ngớ ngẩn. Tình yêu—
Ô.G. Chà, tình yêu chính là xung lực đó, là quy luật đó, dưới hình thức kiên quyết nhất của nó. Nó sẵn sàng ném qua cửa sổ sinh mạng và mọi thứ khác vì đối tượng của mình. Không phải cốt vì bản thân đối tượng, mà vì chính nó. Khi đối tượng của nó hạnh phúc thì nó cũng hạnh phúc—và đó mới là thứ mà nó vô thức mưu cầu.
T.N. Ông thậm chí không loại trừ cả thứ tình cảm cao cả và dịu dàng là tình mẫu tử hay sao?
Ô.G. Không, nó chính là kẻ nô lệ tuyệt đối của quy luật đó. Người mẹ sẵn sàng chịu cảnh trần truồng để sắm sửa áo quần cho con; bà sẽ nhịn đói để con có cái ăn; chịu đựng những đòn tra tấn để cứu con khỏi đau đớn; chết để con được sống. Bà tìm thấy niềm vui sống trong việc thực hiện những sự hy sinh ấy. Bà làm điều đó vì phần thưởng ấy—sự tự công nhận đó, sự mãn nguyện đó, sự bình yên đó, sự thoải mái đó. Bà cũng sẽ làm thế với con của anh NẾU BÀ NHẬN ĐƯỢC CÁI GIÁ TƯƠNG TỰ.
T.N. Triết lý của ông đúng là thứ triết lý quái gở.
Ô.G. Nó không phải là triết lý, nó là một sự thật.
T.N. Dĩ nhiên ông phải thừa nhận rằng có những hành động mà—
Ô.G. Không. Chẳng có hành động nào, dù lớn hay nhỏ, dù cao đẹp hay đê hèn, lại bắt nguồn từ bất kỳ động cơ nào khác ngoài một động cơ duy nhất—nhu cầu được xoa dịu và làm thỏa mãn tâm hồn chính mình.
T.N. Những nhà từ thiện trên thế giới này—
Ô.G. Tôi tôn kính họ, tôi ngả mũ trước họ—do thói quen và sự giáo dưỡng; và họ sẽ chẳng thể nào biết đến sự thoải mái, hạnh phúc hay sự tự công nhận nếu họ không làm việc và không cống hiến vì những mảnh đời bất hạnh. Việc nhìn thấy người khác hạnh phúc khiến họ cảm thấy hạnh phúc; và cứ thế, bằng tiền bạc và sức lao động, họ mua lấy thứ mà họ hằng mưu cầu—hạnh phúc, sự tự công nhận. Tại sao những kẻ đào mỏ lại không làm điều tương tự? Bởi vì họ có thể thu về lượng hạnh phúc lớn hơn gấp ngàn lần bằng cách không làm thế. Chẳng có lý do nào khác cả. Họ tuân theo quy luật bản chất của chính họ.
T.N. Thế ông nói sao về bổn phận vì bổn phận?
Ô.G. Rằng thứ đó không hề tồn tại. Những bổn phận không được thực hiện vì bản thân bổn phận, mà vì nếu phớt lờ chúng thì con người ta sẽ cảm thấy bứt rứt không yên. Con người ta chỉ thực hiện một bổn phận duy nhất—bổn phận làm cho tâm hồn mình được thỏa mãn, bổn phận làm cho bản thân cảm thấy dễ chịu với chính mình. Nếu anh ta có thể thực hiện một cách trọn vẹn nhất bổn phận độc tôn duy nhất ấy bằng cách giúp đỡ người láng giềng, anh ta sẽ làm thế; nếu anh ta có thể thực hiện nó một cách thỏa mãn nhất bằng cách lừa gạt người láng giềng, anh ta cũng sẽ làm thế. Nhưng anh ta luôn lo cho Số Một trước đã—trên hết; những tác động lên người khác chỉ là chuyện thứ yếu. Người ta cứ ra vẻ hy sinh vì người khác, nhưng ở đời, theo ý nghĩa thông thường của cụm từ này, thì chuyện đó không hề tồn tại và chưa từng tồn tại. Một con người thường thành thật nghĩ rằng mình đang hy sinh thuần túy và hoàn toàn vì một ai đó, nhưng anh ta đã tự lừa dối mình; xung lực cốt lõi của anh ta là để thỏa mãn một nhu cầu về bản chất và sự giáo dưỡng của bản thân, qua đó thu về sự bình yên cho tâm hồn.
T.N. Rõ ràng là thế, tất cả mọi người, cả kẻ tốt lẫn kẻ xấu, đều cống hiến cả cuộc đời để làm thỏa mãn lương tâm của họ.
Ô.G. Đúng vậy. Đó là một cái tên đủ hay cho nó rồi: Lương tâm—vị Băng quân độc lập ấy, vị Bạo chúa tuyệt đối hống hách ngự trị bên trong một con người, kẻ đóng vai trò là Chủ nhân của người đó. Có đủ mọi loại lương tâm, bởi vì có đủ mọi loại người. Anh làm thỏa mãn lương tâm của một tên sát nhân bằng cách này, của một nhà từ thiện bằng cách khác, của một kẻ keo kiệt bằng một cách khác nữa, và của một tên trộm đêm bằng một cách hoàn toàn khác nữa. Xét như một thứ chỉ nam hay động lực dẫn dắt đến bất kỳ đường lối luân đản hay đạo đức nào được quy chuẩn một cách có thẩm quyền (chưa bàn đến chuyện giáo dưỡng), lương tâm của một con người hoàn toàn chẳng có chút giá trị nào. Tôi biết một người xứ Kentucky tốt bụng nhưng lại đang thiếu đi sự tự công nhận—lương tâm đang dằn vặt ông ta, nói cho chính xác là thế—chỉ vì ông ta đã xao lãng việc tước đoạt mạng sống của một người nào đó—một kẻ mà ông ta chưa từng gặp mặt bao giờ. Kẻ lạ mặt nọ đã sát hại bạn của người đàn ông này trong một trận ẩu đả, và sự giáo dưỡng kiểu Kentucky buộc ông ta phải coi việc giết kẻ lạ mặt kia để trả thù là một bổn phận. Ông ta đã phớt lờ bổn phận đó—cứ né tránh nó, trốn tránh nó, cứ khất lần khất lữa, và cái lương tâm không khoan nhượng cứ thế hành hạ ông ta vì thái độ đó. Cuối cùng, để tìm lại sự thảnh thơi trong tâm trí, sự thoải mái và sự tự công nhận, ông ta đã lùng sục cho bằng được kẻ lạ mặt kia và đoạt lấy mạng sống của hắn ta. Đó là một hành vi hy sinh bản thân vô cùng to lớn (chiếu theo định nghĩa thông thường), bởi vì ông ta hoàn toàn không muốn làm điều đó, và ông ta sẽ chẳng bao giờ làm thế nếu có thể mua được một tâm hồn mãn nguyện cùng một trí óc thảnh thơi với cái giá rẻ hơn. Nhưng tạo hóa cấu tạo chúng ta thế đấy, chúng ta sẵn sàng trả bất kỳ cái giá nào cho sự mãn nguyện ấy—thậm chí là bằng cả mạng sống của người khác.
T.N. Vừa rồi ông có nhắc đến những chiếc lương tâm đã qua giáo dưỡng. Ý ông là chúng ta sinh ra không sẵn mang theo những chiếc lương tâm đủ năng lực để dẫn đường chỉ lối cho đúng đắn ư?
Ô.G. Nếu chúng ta có sẵn, thì trẻ con và những kẻ dã man đã biết phân biệt phải trái đúng sai, và đâu cần phải được dạy dỗ về điều đó.
T.N. Nhưng lương tâm có thể được rèn giũa chứ?
Ô.G. Có chứ.
T.N. Dĩ nhiên là bởi cha mẹ, thầy cô, bục giảng kinh và sách vở rồi.
Ô.G. Phải—họ làm tròn phần việc của mình; họ làm những gì trong khả năng.
T.N. Và phần còn lại được thực hiện bởi—
Ô.G. Ồ, cả triệu những ảnh hưởng vô hình khác—dù tốt hay xấu: những thứ tác động không mệt mỏi trong từng khoảnh khắc thức tỉnh của đời người, từ lúc lọt lòng cho đến khi lâm chung.
T.N. Ông đã lập bảng thống kê những thứ này chưa?
Ô.G. Nhiều thứ trong số đó rồi—chứ.
T.N. Ông có thể đọc cho tôi nghe kết quả không?
Ô.G. Để dịp khác nhé. Sẽ mất toi cả tiếng đồng hồ đấy.
T.N. Lương tâm có thể được rèn giũa để lánh xa điều ác và hướng về điều thiện không?
Ô.G. Có chứ.
T.N. Nhưng nó sẽ làm thế chỉ vì những lý do làm thỏa mãn tâm hồn thôi sao?
Ô.G. Nó không thể được rèn giũa để làm bất cứ việc gì vì một lý do nào khác. Chuyện đó là bất khả thi.
T.N. Chắc chắn phải có một hành động thực sự và hoàn toàn hy sinh vì người khác được ghi lại đâu đó trong lịch sử nhân loại chứ.
Ô.G. Anh còn trẻ lắm. Anh còn khối năm tháng trước mắt. Cứ đi mà tìm đi.
T.N. Tôi thực sự cho rằng khi một người nhìn thấy đồng loại đang quằn quại giãy giụa dưới nước và liều mình nhảy xuống cứu—
Ô.G. Khoan đã. Hãy miêu tả người đàn ông đó xem. Miêu tả cả người đồng loại kia nữa. Cho biết xem có đám đông nào đang đứng chứng kiến không; hay họ chỉ có một mình.
T.N. Những thứ đó thì liên quan gì đến hành động hào hiệp kia chứ?
Ô.G. Liên quan nhiều lắm đấy. Giả sử nhé, trước tiên, hai người bọn họ ở một mình, ở một nơi vắng vẻ, vào lúc nửa đêm thì sao?
T.N. Tùy ông chọn đấy.
Ô.G. Và người đồng loại kia chính là con gái của người đàn ông đó?
T.N. Ồ, k-không—đổi thành người khác đi.
Ô.G. Thế thì, một tên du thủ du thực nhơ nhớp, nát rượu nhé?
T.N. Tôi hiểu rồi. Hoàn cảnh thay đổi cách nhìn vấn đề. Tôi đoán là nếu không có khán giả nào chứng kiến hành vi đó, người đàn ông sẽ chẳng thèm ra tay đâu.
Ô.G. Nhưng đó đây vẫn có những người đàn ông sẽ làm thế. Chẳng hạn như con người đã bỏ mạng khi cố cứu đứa trẻ khỏi đám cháy; và người đàn ông đã dúi đồng tư lệ gộp của mình cho bà lão nghèo túng rồi lầm lũi đi bộ về nhà giữa bão tuyết—đó đây vẫn có những con người như thế sẵn sàng hành động. Và tại sao? Bởi vì họ không tài nào chịu nổi cảnh một người đồng loại đang quằn quại giãy giụa dưới nước mà mình lại không nhảy xuống cứu giúp. Điều đó sẽ gây cho họ nỗi đau đớn. Họ cứu người đồng loại chính vì lý do đó. Bằng không thì họ đã chẳng đời nào làm thế. Họ tuân thủ nghiêm ngặt cái quy luật mà tôi vẫn luôn nhấn mạnh từ nãy đến giờ. Anh phải ghi nhớ và luôn phân biệt rõ ràng giữa những kẻ không thể chịu đựng nổi sự việc với những kẻ chịu được. Nó sẽ rọi ánh sáng vào hàng loạt các trường hợp thoạt nhìn thì có vẻ “hy sinh bản thân” đấy.
T.N. Ôi trời, mọi chuyện nghe mới thật tởm lợm làm sao.
Ô.G. Đúng thế. Và cũng rất thật.
T.N. Thôi nào—hãy lấy ví dụ về một cậu bé ngoan chịu làm những việc mình không hề muốn, chỉ để làm vui lòng mẹ.
Ô.G. Cậu ta thực hiện bảy phần mười của hành động đó bởi vì việc làm mẹ vui lòng mang lại cho chính cậu ta sự mãn nguyện. Hãy xoay chiều lợi ích sang hướng ngược lại xem, cậu bé ngoan đó sẽ chẳng đời nào làm cái trò ấy nữa đâu. Cậu ta bắt buộc phải tuân theo thứ quy luật sắt đá đó. Chẳng ai trốn chạy khỏi nó được đâu.
T.N. Nào, thế còn trường hợp của một đứa trẻ hư mà—
Ô.G. Anh chẳng cần phải nhắc đến đâu, phí thời gian lắm. Chẳng có gì phải bàn về hành động của đứa trẻ hư đó cả. Dù nó là gì đi nữa, cậu ta cũng có một lý do làm thỏa mãn tâm hồn cho việc đó. Bằng không thì anh đã bị thông tin sai lệch rồi, và cậu ta chẳng hề làm thế đâu.
T.N. Thật là bực bội hết chỗ nói. Cách đây một lúc ông từng bảo lương tâm con người không phải là vị quan tòa bẩm sinh về luân lý và đạo đức, mà phải được dạy dỗ và rèn giũa cơ mà. Giờ thì tôi nghĩ lương tâm có thể trở nên u mê và lười biếng, nhưng tôi không cho rằng nó có thể lệch lạc; nếu ông đánh thức nó dậy—
Một Câu Chuyện Nhỏ
Ô.G. Tôi sẽ kể cho anh nghe một câu chuyện nhỏ thế này:
Ngày xửa ngày xưa, có một kẻ Vô thần đến trọ tại nhà của một góa phụ theo đạo Thiên Chúa có đứa con trai nhỏ đang lâm bệnh nặng ngấp ngoái gần chết. Kẻ Vô thần thường ngồi canh bên giường bệnh và trò chuyện để khuây khỏa đứa bé, và hắn đã chớp lấy những cơ hội đó để thỏa mãn một nỗi khao khát cháy bỏng trong bản năng của mình—cái ham muốn vốn có ở tất cả chúng ta là cải thiện hoàn cảnh của người khác bằng cách bắt họ phải suy nghĩ theo cách chúng ta suy nghĩ. Hắn đã thành công. Nhưng đứa trẻ đang hấp hối, trong những giây phút cuối đời, đã quở trách hắn và thốt lên rằng:
“Con từng có niềm tin, và con hạnh phúc vì điều đó; chính ông đã tước đoạt niềm tin ấy cùng sự an ủy của con đi rồi. Giờ thì con chẳng còn lại gì, và con ra đi trong sự khốn cùng; bởi vì những điều ông kể chẳng thể nào thay thế được thứ mà con đã đánh mất.”
Và người mẹ, cũng vậy, đã quở trách kẻ Vô thần, và nói rằng:
“Đứa con của tôi đã mất đi vĩnh viễn, và tim tôi tan nát. Sao ông lại có thể nhẫn tâm làm điều tàn nhẫn này? Chúng tôi đâu làm gì hại ông, mà chỉ toàn đối xử tử tế; chúng tôi coi nhà mình như nhà ông, ông muốn dùng gì trong nhà cũng được, và đây là thứ chúng ta nhận lại đấy phỏng?”
Trái tim kẻ Vô thần ngập tràn sự ân hận vì những gì hắn đã gây ra, và hắn tự nhủ:
“Đó là điều sai trái—giờ thì tôi đã thấy rõ điều đó; nhưng tôi chỉ đang cố gắng làm điều tốt cho nó mà thôi. Theo quan điểm của tôi thì nó đã lầm đường lạc lối; việc dạy nó biết điều chân lý dường như là bổn phận của tôi.”
Bấy giờ người mẹ liền nói:
“Tôi đã dạy nó, trong suốt quãng đời non nớt của nó, những gì tôi tin là chân lý, và trong niềm tin tưởng ấy, cả hai mẹ con đều hạnh phúc. Giờ thì nó đã chết—và mất mát vĩnh viễn; còn tôi thì chìm trong khốn khổ. Niềm tin của chúng tôi được truyền lại qua bao thế hệ tổ tiên có đạo; dựa vào đâu mà ông, hay bất kỳ kẻ nào khác, lại đi phá vỡ nó? Danh dự của ông ở đâu, sự hổ thẹn của ông nằm chỗ nào?”
T.N. Hắn ta là một tên đồi bại, đáng phải xử tử!
Ô.G. Bản thân hắn cũng nghĩ thế, và đã thốt lên như vậy.
T.N. À—anh thấy chưa, lương tâm hắn đã được đánh thức rồi đấy!
Ô.G. Đúng vậy, Sự Tự Kiểm Điểm của hắn đã lên tiếng. Việc nhìn thấy người mẹ đau khổ đã làm hắn đau đớn. Hắn lấy làm tiếc vì đã làm một việc mang lại cho mình nỗi đau. Hắn đã chẳng hề mảy may nghĩ đến người mẹ khi hắn đang nhồi nhét những kiến thức sai lệch cho đứa bé, bởi vì lúc đó hắn đang mải mê tìm kiếm khoái lạc cho chính mình. Tìm kiếm nó bằng cách thỏa mãn điều mà hắn tin là tiếng gọi của bổn phận.
T.N. Ông muốn gọi nó là gì tùy ý, nhưng với tôi đó chính là một trường hợp lương tâm thức tỉnh. Lương tâm đã thức tỉnh đó sẽ không bao giờ tự lặp lại loại rắc rối ấy một lần nào nữa. Một sự chữa trị như thế là sự chữa trị vĩnh viễn.
Ô.G. Xin lỗi—tôi vẫn chưa kể hết câu chuyện. Chúng ta là những sinh vật bị chi phối bởi các thế lực bên ngoài—chúng ta chẳng tự sản sinh ra cái gì từ bên bên trong cả. Bất cứ khi nào chúng ta tiếp nhận một luồng suy nghĩ mới rồi trôi dạt vào một lối tư duy và hành động mới, xung lực đó luôn được gợi mở từ bên ngoài. Sự cắn rứt đã dằn vặt kẻ Vô thần đến mức nó làm tan biến sự cay nghiệt của hắn đối với tôn giáo của đứa trẻ, khiến hắn bắt đầu nhìn nhận nó bằng sự khoan dung, rồi sau đó là sự tử tế, vì tình cảm dành cho đứa bé và người mẹ. Cuối cùng, hắn thấy mình đang nghiên cứu về nó. Kể từ giây phút đó, sự tiến triển của hắn trong xu hướng mới diễn ra đều đặn và nhanh chóng. Hắn trở thành một tín đồ Thiên Chúa giáo sùng đạo. Và giờ đây, sự ân hận vì đã tước đoạt đức tin cùng sự cứu rỗi của đứa trẻ sắp chết lại càng trở nên cay đắng hơn bao giờ hết. Nó không cho hắn một chút chốn dung thân hay sự bình yên nào. Hắn buộc phải tìm lại sự bình yên và thảnh thơi—đó là quy luật của tự nhiên. Dường như chỉ có một cách duy nhất để đạt được điều đó; hắn phải cống hiến đời mình để cứu rỗi những linh hồn đang lầm đường lạc lối. Hắn trở thành một nhà truyền giáo. Hắn đặt chân lên một xứ sở ngoại đạo trong cảnh bệnh tật và vô vọng. Một bà góa bản địa đã đưa hắn về túp lều khiêm nhường của mình và tận tình chăm sóc cho đến khi hắn bình phục. Rồi đứa con trai nhỏ của bà lâm bệnh nặng vô phương cứu chữa, và vị nhà truyền giáo biết ơn đã giúp bà chăm sóc thằng bé. Đây chính là cơ hội đầu tiên để hắn chuộc lại một phần lỗi lầm đã gây ra cho đứa trẻ trước bằng cách làm một việc vô cùng quý giá cho đứa trẻ này, đó là làm lung lay niềm tin ngu ngốc của nó vào các vị thần giả tạo. Hắn đã thành công. Nhưng đứa trẻ đang hấp hối trong những giây phút cuối đời đã quở trách hắn và thốt lên rằng:
“Con từng có niềm tin, và con hạnh phúc vì điều đó; chính ông đã tước đoạt niềm tin ấy cùng sự an ủy của con đi rồi. Giờ thì con chẳng còn lại gì, và con ra đi trong sự khốn cùng; bởi vì những điều ông kể chẳng thể nào thay thế được thứ mà con đã đánh mất.”
Và người mẹ, cũng vậy, đã quở trách nhà truyền giáo, và nói rằng:
“Đứa con của tôi đã mất đi vĩnh viễn, và tim tôi tan nát. Sao ông lại có thể nhẫn tâm làm điều tàn nhẫn này? Chúng tôi đâu làm gì hại ông, mà chỉ toàn đối xử tử tế; chúng tôi coi nhà mình như nhà ông, ông muốn dùng gì trong nhà cũng được, và đây là thứ chúng ta nhận lại đấy phỏng?”
Trái tim nhà truyền giáo ngập tràn sự ân hận vì những gì hắn đã gây ra, và hắn tự nhủ:
“Đó là điều sai trái—giờ thì tôi đã thấy rõ điều đó; nhưng tôi chỉ đang cố gắng làm điều tốt cho nó mà thôi. Theo quan điểm của tôi thì nó đã lầm đường lạc lối; việc dạy nó biết điều chân lý dường như là bổn phận của tôi.”
Bấy giờ người mẹ liền nói:
“Tôi đã dạy nó, trong suốt quãng đời non nớt của nó, những gì tôi tin là chân lý, và trong niềm tin tưởng ấy, cả hai mẹ con đều hạnh phúc. Giờ thì nó đã chết—và mất mát vĩnh viễn; còn tôi thì chìm trong khốn khổ. Niềm tin của chúng tôi được truyền lại qua bao thế hệ tổ tiên có đạo; dựa vào đâu mà ông, hay bất kỳ kẻ nào khác, lại đi phá vỡ nó? Danh dự của ông ở đâu, sự hổ thẹn của ông nằm chỗ nào?”
Nỗi thống khổ vì ân hận và cảm giác phản bội của nhà truyền giáo giờ đây cũng cay đắng, bám riết và không thể nguôi ngoai y như trường hợp trước đó. Câu chuyện đã hết. Anh có bình luận gì không?
T.N. Lương tâm của gã này đúng là một thứ ngu ngốc! Nó thật bệnh hoạn. Nó chẳng phân biệt nổi phải trái đúng sai.
Ô.G. Tôi rất mừng khi nghe anh nói vậy. Nếu anh thừa nhận rằng lương tâm của một người không phân biệt được phải trái đúng sai, thì đó cũng là sự thừa nhận rằng có những kẻ khác cũng giống như thế. Sự thừa nhận đơn lẻ này đánh sập toàn bộ học thuyết về tính đúng đắn không bao giờ sai của lương tâm. Trong lúc này, có một điều tôi muốn anh chú ý.
T.N. Đó là gì vậy?
Ô.G. Rằng trong cả hai trường hợp, hành động của người đàn ông hoàn toàn không mang lại cho ông ta sự khó chịu nào về mặt tinh thần, và ông ta hoàn toàn mãn nguyện với nó cũng như thu vén được niềm tin vui từ đó. Nhưng về sau, khi nó dẫn đến đau đớn cho chính ông ta, thì ông ta lại cảm thấy hối hận. Hối hận vì nó đã giáng họa đau đớn lên những người khác, nhưng chẳng vì lý do quái quỷ nào dưới ánh mặt trời ngoại trừ việc nỗi đau của họ gây ra đau đớn cho chính ông ta. Lương tâm của chúng ta chẳng màng gì đến những nỗi đau giáng lên đầu kẻ khác cho đến khi nó đẩy lên đến mức gây ra đau đớn cho chính chúng ta. Trong mọi trường hợp không ngoại lệ, chúng ta hoàn toàn dửng dưng trước nỗi đau của người khác cho đến khi những thống khổ của họ làm chúng ta thấy bất an. Rất nhiều kẻ vô thần sẽ chẳng mảy may bận tâm trước nỗi thống khổ của người mẹ theo đạo Thiên Chúa kia đâu. Anh không tin thế à?
T.N. Vâng. Tôi nghĩ anh có thể gán điều đó cho phần lớn những kẻ vô thần nói chung.
Ô.G. Và rất nhiều nhà truyền giáo, được gia cố vững chắc bởi ý thức về bổn phận của họ, cũng sẽ chẳng hề mảy may bận tâm trước nỗi thống khổ của người mẹ ngoại đạo kia—chẳng hạn như các nhà truyền giáo Dòng Tên ở Canada trong những thời kỳ đầu của người Pháp; hãy xem những sự kiện được trích dẫn bởi Parkman.
T.N. Thôi, chúng ta dừng ở đây đi. Rốt cuộc chúng ta đã đi đến kết cục nào rồi?
Ô.G. Đến điều này đây. Rằng chúng ta (nhân loại) đã tự dán nhãn cho chính mình bằng hàng loạt những phẩm chất mà chúng ta đã gán cho chúng những cái tên gây hiểu lầm. Tình yêu, Ghét bỏ, Lòng bác ái, Lòng trắc ẩn, Sự tham lam, Lòng nhân ái, vân vân và vân vân. Ý tôi là chúng ta gán những tầng nghĩa đánh lạc hướng vào những cái tên đó. Tất cả chúng đều là những hình thức của sự tự mãn nguyện, tự sướng bản thân, nhưng những cái tên đã ngụy trang chúng khéo đến mức làm chúng ta xao lãng khỏi sự thật đó. Thêm nữa, chúng ta còn lén lút nhét vào từ điển một từ lẽ ra không nên có mặt trên đời này chút nào—Sự Hy Sinh Bản Thân. Nó miêu tả một thứ vốn không hề tồn tại. Nhưng tồi tệ nhất trong tất cả, chúng ta phớt lờ và không bao giờ nhắc đến Xung Lực Duy Nhất chi phối và ép buộc mọi hành động của con người: nhu cầu bức thiết phải bảo đảm sự chuẩn thuận của chính bản thân, trong mọi tình huống khẩn cấp và bằng mọi giá. Chúng ta nợ nó tất cả những gì chúng ta đang có. Nó là hơi thở, là trái tim, là dòng máu của chúng ta. Nó là chiếc cựa duy nhất, là ngọn roi, là chiếc gậy xua đuổi, là nguồn sức mạnh thôi thúc duy nhất của chúng ta; chúng ta chẳng có nguồn nào khác cả. Nếu không có nó, chúng ta chỉ là những bức tượng vô tri vô giác, những thây ma; chẳng ai làm bất cứ điều gì, sẽ chẳng có sự tiến bộ nào, thế giới sẽ đứng ì một chỗ. Chúng ta nên cung kính ngả mũ chào khi cái tên của cỗ máy vĩ đại ấy được cất lên.
T.N. Tôi vẫn chưa bị thuyết phục đâu.
Ô.G. Anh sẽ bị thuyết phục khi anh chịu suy ngẫm.