Chính tại Nuremberg, chúng tôi đã bắt gặp dòng người đông đúc cuồn cuộn đổ về Bayreuth, những kẻ đang phát cuồng vì âm nhạc. Đã lâu lắm rồi chúng tôi mới chứng kiến cảnh tượng đông đảo và chật vật đến thế. Phải mất trọn nửa giờ đồng hồ để nhồi nhét và sắp xếp họ lên tàu — và đây là chuyến tàu dài nhất mà chúng tôi từng thấy ở châu Âu. Nuremberg vốn đã quen với cảnh tượng náo nhiệt này khoảng vài lần một ngày trong suốt hai tuần qua. Điều đó mang lại cho người ta một cảm giác sâu sắc về quy mô của cuộc hành hương hai năm diễn ra một lần này. Quả thực, đây chính là một cuộc hành hương. Các tín đồ lặn lội từ tận cùng thế giới đến đây để tôn sùng vị ngôn sứ của họ ngay trong điện Kaaba và thánh địa Mecca của riêng vị ấy.
Nếu bạn đang sống ở New York, San Francisco, Chicago hay bất kỳ nơi nào khác ở Mỹ, và vào giữa tháng Năm, bạn chợt quyết định rằng mình muốn tham dự buổi biểu diễn opera tại Bayreuth vào hai tháng rưỡi sau đó, bạn bắt buộc phải dùng đến dịch vụ điện tín và lo ngay lập tức, nếu không bạn sẽ chẳng còn chỗ ngồi nào, và bạn cũng phải điện tín để đặt chỗ trọ nữa. Khi đó, nếu may mắn, bạn sẽ có được chỗ ngồi ở hàng ghế cuối cùng và một góc trọ ở vùngì rìa thị trấn. Nếu bạn chần chừ viết thư, bạn sẽ chẳng thu được gì ngoài tay trắng. Khi chúng tôi đi qua Nuremberg, có rất nhiều người đã đến hành hương mà trước đó chưa hề chắc chắn về chỗ ngồi hay nơi lưu trú. Họ chẳng tìm được gì ở Bayreuth; họ lang thang trên những con phố ở Bayreuth một hồi trong nỗi buồn tủi, rồi kéo nhau về Nuremberg nhưng cũng chẳng tìm nổi một chiếc giường hay dăm ba tấc đất để đứng. Thế là họ cứ lang thang suốt đêm trên những con phố cổ kính ấy, ngóng chờ các khách sạn mở cửa để tống khách ra ga, nhờ đó mới may mắn có chút chỗ trống cho những người anh em chị em cùng chung đức tin nhưng đang chịu cảnh bại trận này. Họ đã phải chịu đựng từ ba mươi đến bốn tiếng đồng hồ ngồi tàu hỏa băng qua lục địa châu Âu — với tất cả những nỗi lo âu, sự mệt kiệt sức và cả sự khánh kiệt về tài chính mà điều đó kéo theo — thế nhưng tất cả những gì họ nhận được, và tất cả những gì họ sắp sửa nhận được, chỉ là sự thành thạo và chuẩn xác trong việc tự đá vào mông chính mình, thứ kỹ năng mà họ đã luyện tập thành tài ở các con hẻm phía sau của hai thị trấn trong lúc thiên hạ đang say giấc nồng. Bởi vì họ sẽ phải quay về trên chuyến hành trình không thể thốt nên lời ấy mà sứ mệnh tôn nghiêm vẫn chưa thành. Những kẻ lưu vong đầy nhục nhã ấy mang một vẻ ngoài nhếch nhác, bù xù và tội nghiệp như những con mèo ướt mưa, đôi mắt họ lờ đờ vì ngây ngất buồn ngủ, thân hình rũ rượi từ đầu đến chân, và mọi người tử tế đều kìm lòng không hỏi xem họ đã đến Bayreuth hay chưa mà lại lỡ hẹn, bởi ai cũng thừa biết họ sẽ nói dối.
Chúng tôi đến đây (Bayreuth) vào khoảng giữa buổi chiều của một ngày thứ Bảy mưa gió. Chúng tôi vốn là những kẻ khôn ngoan, đã kịp đặt trước chỗ ở và vé xem opera từ nhiều tháng trước.
Tôi không phải là nhà phê bình âm nhạc, và tôi đến đây không phải để viết những bài tiểu luận về các vở opera hay đưa ra phán xét về giá trị của chúng. Mấy đứa trẻ con ở Bayreuth còn làm điều đó rành mạch với sự đồng cảm tinh tế và trí tuệ bao quát hơn tôi nhiều. Tôi chỉ muốn đưa bốn hoặc năm người hành hương đến với các vở opera, những người thực sự biết trân trọng và thưởng thức chúng. Những gì tôi viết về buổi biểu diễn để lấp đầy thời gian rảnh rỗi của mình thì chỉ xin được dâng lên công chúng như cái nhìn của một con mèo đối với nhà vua mà thôi, hoàn toàn không mang giá trị giáo huấn nào cả.
Ngày hôm sau, tức Chủ nhật, chúng tôi lên đường đến nhà hát opera — hay nói cách khác là đền thờ Wagner — vào lúc hơn giữa buổi chiều một chút. Tòa nhà lớn sừng sững đứng một mình, bề thế và cô độc, trên một vùng đất cao ở ngoại ô thị trấn. Chúng tôi đã được cảnh báo rằng nếu đến sau bốn giờ, chúng tôi sẽ bị phạt thêm hai đô la rưỡi mỗi người như một hình thức nộp phạt. Chúng tôi đã tránh được khoản tiền đó; và cũng xin được lưu ý ở đây rằng đây là cơ hội duy nhất mà châu Âu ban ơn để giúp người ta tiết kiệm tiền bạc. Khuôn viên xung quanh tòa nhà đông nghịt người, và những chiếc váy của các quý cô lấp lánh dưới ánh mặt trời tạo nên hiệu ứng vô cùng đẹp mắt. Tôi không có ý ám chỉ rằng các quý cô đang mặc lễ phục dạ hội rườm rà, bởi sự thật không phải vậy. Trang phục rất xinh xắn, nhưng không ai diện y phục buổi tối cả.
Nội thất bên trong tòa nhà khá giản dị — phải nói là vô cùng giản dị; nhưng chẳng có lý do gì để cần đến màu sắc và trang trí, bởi khán giả ngồi trong bóng tối. Khán phòng có hình dáng của một viên đá khóa ở vòm cửa, với sân khấu nằm ở đầu nhỏ hơn. Có một lối đi ở mỗi bên, nhưng hoàn toàn không có lối đi ở giữa khán phòng. Mỗi hàng ghế kéo dài thành một đường cong liền mạch từ bên này sang bên kia nhà hát. Có bảy cửa ra vào ở mỗi bên nhà hát và bốn cửa ở phía hậu, tổng cộng mười tám cửa để đón 1.650 con người vào và ra. Số hiệu của cánh cửa cụ thể mà bạn phải dùng để bước vào hoặc rời khỏi nhà hát được in rõ trên vé của bạn, và bạn không được phép sử dụng bất kỳ cánh cửa nào khác ngoài cửa đó. Nhờ vậy, sự chen lấn và hỗn loạn là điều không thể xảy ra. Thậm chí chưa đến một trăm người sử dụng chung một cửa. Cách bố trí này vượt trội hơn hẳn so với những giải pháp phòng cháy chữa chỏi rườm rà (và vô dụng) thông thường. Đây chính là mô hình nhà hát kiểu mẫu của thế giới. Người ta có thể sơ tán toàn bộ nhà hát chỉ trong thời gian kim giây của chiếc đồng hồ chạy hết một vòng. Nơi này hoàn toàn an toàn, ngay cả khi nó được xây bằng những que diêm.
Nếu ghế của bạn nằm ở gần giữa một hàng và bạn đến muộn, bạn sẽ phải luồn lách qua khoảng hai mươi lăm quý ông và quý bà để đến được chỗ ngồi của mình. Thế nhưng điều này chẳng gây ra chút phiền phức nào, bởi tất cả mọi người đều đứng dậy cho đến khi mọi chiếc ghế đều được lấp đầy, và quá trình ổn định chỗ ngồi ấy được hoàn tất chỉ trong vỏn vẹn vài phút. Sau đó tất cả cùng ngồi xuống, và trước mắt bạn là một khối đồng nhất gồm một nghìn rưỡi cái đầu, tạo nên một độ dốc đứng giống như cửa hầm rượu kéo dài từ tận cuối nhà hát xuống sát sân khấu.
Tất cả hệ thống đèn đều được vặn nhỏ, mờ đến mức toàn bộ cộng đoàn ngồi chìm đắm trong một không gian u tịch sâu thẳm và trang nghiêm. Tiếng sột soạt tang tóc của những bộ váy áo và tiếng thì thầm trò chuyện nhỏ dần rồi tắt hẳn, và chẳng mấy chốc chẳng còn lấy một âm thanh ma quái nào sót lại. Sự tĩnh lặng sâu thẳm và ngày càng trĩu nặng ấy kéo dài một khoảng thời gian — đó là sự chuẩn bị hoàn hảo nhất cho âm nhạc, cảnh trí hay lời thoại mà người ta có thể tưởng tượng nổi. Tôi cứ nghĩ rằng những người làm nghệ thuật biểu diễn nước nhà hẳn đã phải phát minh hoặc nhập về cái máonh khóe đơn giản mà ấn tượng ấy để thu hút và cô đọng sự chú ý của khán giả từ lâu lắm rồi; thế nhưng ngặt nỗi họ vẫn cứ tiếp tục mở màn các buổi biểu diễn cho đến tận ngày nay giữa một cuộc cạnh tranh khốc liệt đầy tiếng ồn ào, hỗn độn và sự phân tâm tột độ.
Cuối cùng, từ trong bóng tối, khoảng không xa xăm và vẻ huyền bí, những nốt nhạc trầm bổng dịu dàng ngân lên giữa không gian tĩnh lặng, và từ nấm mồ của mình, vị pháp sư đã khuất bắt đầu dệt nên những bùa phép bao trùm lấy các môn đồ, nhúng chìm tâm hồn họ vào cõi u mê huyền ảo. Có một điều gì đó kỳ lạ đầy ấn tượng trong trí tưởng tượng cứ mãi len lỏi vào tâm trí rằng nhà soạn nhạc vẫn đang ý thức rõ ràng từ dưới mồ sâu về những gì đang diễn ra nơi đây, và rằng những âm thanh thần thánh này chính là hiện thân của những ý nghĩ đang trôi qua trong bộ não ông vào khoảnh khắc này, chứ không phải là những giai điệu quen thuộc đã từng cất lên từ đó ở một thời điểm nào đó trong quá khứ.
Toàn bộ bản khúc dạo đầu, dẫu dài đến đâu đi nữa, đều được tấu lên trong một khán phòng tối om với tấm màn nhung hạ xuống. Thật là tinh tế; thật là tuyệt vời. Nhưng ngay sau đó, dĩ nhiên, là phần hát, và đối với một kẻ ngoại đạo như tôi thì hình như chẳng có gì có thể khiến một vở opera của Wagner trở nên hoàn hảo và thỏa mãn tuyệt đối ngoài việc lược bỏ hoàn toàn phần thanh nhạc. Ước gì tôi có thể được xem một vở opera của Wagner được thể hiện hoàn toàn bằng kịch câm dù chỉ một lần. Khi đó người ta sẽ được lắng nghe phần hòa tấu đáng yêu không chút vướng bận để gột rửa tâm hồn, và được đắm chìm đôi mắt vào khung cảnh đẹp đến nao lòng, và những màn diễn xuất vụng về sẽ chẳng thể làm hoen ố những niềm vui ấy, bởi vì trong opera của Wagner hiếm khi có điều gì đáng để người ta gọi bằng một cái tên dữ dội như là diễn xuất; thông thường tất cả những gì bạn thấy chỉ là một vài con người im lặng, người này đứng yên một chỗ, kẻ kia thì đưa tay bắt ruồi. Dĩ nhiên tôi không có ý thực sự bảo rằng anh ta đang bắt ruồi; tôi chỉ muốn nói rằng những cử động tay chân thông thường trong opera — vốn bao gồm việc vươn một tay ra không trung rồi đến tay kia — có thể gợi lên môn thể thao mà tôi vừa nhắc đến nếu như diễn viên chỉ tập trung chuyên môn tuyệt đối mà không thốt ra một âm thanh nào.
Vở opera lần này là “Parsifal.” Madame Wagner không cho phép trình diễn nó ở bất cứ đâu ngoài Bayreuth. Hồi thứ nhất trong tổng số ba hồi kéo dài trọn hai tiếng đồng hồ, và tôi đã thưởng thức trọn vẹn phần đó dẫu cho có tiếng hát đi kèm.
Tôi tin rằng mình cũng hiểu rõ như bất kỳ ai khác rằng ca hát là một trong những phương tiện lôi cuốn, mê hoặc, cảm động và hùng hồn nhất do con người phát minh ra để truyền tải cảm xúc; nhưng dường như với tôi, giá trị cốt lõi của ca khúc nằm ở giai điệu, khúc thức, âm điệu, tiết tấu, hay bất cứ cái tên nào bạn muốn gọi, và khi yếu tố này vắng bóng thì thứ còn lại chỉ là một bức tranh bị rút ruột mất đi màu sắc. Tôi không thể tìm thấy trong phần thanh nhạc của “Parsifal” bất cứ thứ gì có thể tự tin gọi là tiết tấu, âm điệu hay giai điệu; từng người cất giọng lần lượt từng người một — mà kéo dài cũng rất lâu — thường thì bằng một chất giọng cao quý, và luôn luôn bằng một âm vực đài các; nhưng anh ta chỉ kéo dài những nốt dài, rồi đến vài nốt ngắn, rồi lại một nốt dài nữa, rồi thỉnh thoảng sủa lên một hoặc hai tiếng sắc lẹm, chát chúa, dứt khoát — cứ thế, cứ thế mãi; và khi anh ta hát xong, bạn chợt nhận ra rằng thứ thông tin mà anh ta vừa truyền tải chẳng bõ công cho những phiền toái mà người nghe phải gánh chịu. Không phải lúc nào cũng vậy, nhưng khá thường xuyên là thế. Ước gì có hai người thỉnh thoảng cùng hòa giọng trong một khúc hát đôi và quyện lẫn giọng ca vào nhau; nhưng không, họ chẳng bao giờ làm thế. Vị đại sư, người vốn thừa khả năng khiến hàng trăm nhạc cụ hòa vang đồng điệu và tuôn trào linh hồn trong những dòng âm thanh tuyệt diệu quyện hòa, lại chỉ độc quyền sử dụng những khúc đơn ca khô khan khi cất lời ca khúc. Có lẽ ông thâm trầm lắm, và chỉ cố tình thêm tiếng hát vào các vở opera của mình cốt để tạo ra sự tương phản với phần âm nhạc. Ca hát ư! Nghe có vẻ sai lầm khi áp dụng cái tên ấy vào đó. Miêu tả một cách chính xác nhất, đó chủ yếu là một buổi luyện tập những quãng giọng khó nhằn và khó chịu. Một kẻ ngoại đạo rốt cuộc rồi cũng sẽ thấy mệt mỏi khi phải lắng nghe những quãng giọng mang tính thể dục ấy, dẫu cho chúng có dễ chịu đến đâu đi chăng nữa. Trong “Parsifal” có một vị ẩn sĩ tên là Gurnemanz, kẻ đứng chết chân một chỗ trên sân khấu và luyện giọng suốt hàng giờ đồng hồ, trong khi lần lượt từng nhân vật này đến nhân vật khác trong dàn diễn viên phải cố gắng chịu đựng hết mức có thể rồi lui vào trong để mà chết.
Trong suốt buổi tối, có một khoảng nghỉ dài ba phần tư giờ sau hồi thứ nhất và một khoảng nghỉ dài trọn một tiếng sau hồi thứ hai. Trong cả hai lần, nhà hát đều được sơ tán hoàn toàn. Những ai đã đặt trước bàn ăn ở quán ăn độc nhất vô nhị kia có thể tận dụng thời gian rất ư mãn nguyện; ngàn người còn lại đành chịu đói. Vở opera kết thúc vào lúc mười giờ tối hoặc muộn hơn một chút. Khi chúng tôi về đến nhà, chúng tôi đã rời đi hơn bảy tiếng đồng hồ. Bảy tiếng đồng hồ với giá năm đô la một chiếc vé quả là hơi đắt đỏ so với số tiền bỏ ra.
Trong lúc la cà quanh khu vườn phía trước giữa đám đông vào giờ giải lao, tôi đã gặp mười hai hoặc mười lăm người bạn đến từ khắp nơi trên nước Mỹ, và những người am hiểu về Wagner nhất trong số họ cho biết rằng “Parsifal” hiếm khi làm hài lòng người xem ngay từ lần đầu tiên, nhưng sau khi nghe nó vài lần, bạn gần như chắc chắn sẽ đâm ra mê mẩn nó. Nghe có vẻ bất khả thi, nhưng đó lại là sự thật, bởi tuyên bố ấy xuất phát từ những người có lời nói hoàn toàn đáng tin cậy.
Và tôi đã thu lượm thêm được vài thông tin thú vị. Dưới mặt đất, tôi nhặt được một phần của tạp chí âm nhạc Đức, trong đó có một bức thư do Uhlic viết từ ba mươi ba năm trước, trong đó ông bênh vực cho Wagner — kẻ từng bị khinh miệt và lăng nhục — trước những kẻ như tôi, những người thường chê bai sự vắng bóng toàn tập của thứ mà loại người như chúng tôi coi là ca hát. Uhlic nói rằng Wagner khinh miệt “jene plapperude music” (thứ âm nhạc lải nhải), và do đó “các đoạn chạy nốt, luyến láy và các khúc Schnorkel đều bị ông loại bỏ.” Tôi chẳng biết Schnorkel là cái quái gì, nhưng giờ thì tôi biết rằng nó đã bị lược bỏ khỏi các vở opera này, và quả thực chưa bao giờ trong đời tôi lại thấy tiếc nuối đến thế. Và Uhlic còn nói thêm rằng khúc hát của Wagner là thứ âm nhạc chân chính: rằng nó “đơn giản chỉ là lời nói được nhấn mạnh và ngâm nga.” Điều đó quả thực miêu tả rất chính xác — trong “Parsifal” và một vài vở opera khác; và nếu tôi hiểu được thứ tiếng Đức phức tạp của Uhlic, thì dường như ông đang ngầm xin lỗi vì những giai điệu quá đỗi tuyệt vời trong “Tannhauser.” Thôi được rồi; giờ thì Wagner và tôi đã thấu hiểu lẫn nhau, có lẽ chúng ta sẽ hòa hợp tốt hơn, và tôi sẽ ngừng gọi ông là Waggner theo kiểu Mỹ, mà từ nay sẽ gọi là Waggner theo đúng phong tục Đức, bởi vì giờ đây tôi cảm thấy hoàn toàn thân thiết với ông rồi. Một khi chúng ta đã hòa giải với một ai đó, con người ta mới sẵn sàng vứt bỏ biết bao tiểu tiết phiền toái để phát âm đúng tên của họ làm sao!
Dĩ nhiên tôi trở về nhà và tự hỏi tại sao người ta lại phải lặn lội từ mọió ngóc ngách của nước Mỹ đến đây chỉ để thưởng thức những vở opera này, trong khi thời gian gần đây chúng ta đã có cả một mùa hoặc hai mùa trình diễn chúng ngay tại New York với chính những ca sĩ ấy đảm nhận các vai diễn, và rất có thể là cả dàn nhạc ấy nữa. Tôi tự nhủ phải nghiền ngẫm cho bằng được điều này bằng mọi giá.
THỨ BA.—Hôm qua họ đã trình diễn vở opera yêu thích duy nhất mà tôi từng có — một vở opera luôn khiến tôi phát điên lên vì sự phấn khích ngây ngô mỗi khi được thưởng thức — “Tannhauser.” Tôi nghe nó lần đầu tiên khi còn là một thanh niên; lần cuối cùng tôi nghe nó là vào mùa diễn cuối cùng của đoàn Đức tại New York. Ngày hôm qua tôi bận rộn và không có ý định đi, vì biết rằng mình vẫn còn cơ hội khác để xem “Tannhauser” trong vài ngày tới; nhưng sau năm giờ chiều, tôi bỗng rảnh rỗi nên đã đi bộ ra nhà hát opera và đến nơi vào khoảng đầu hồi thứ hai. Vé opera của tôi cho phép tôi bước vào khu vực sân trước, vượt qua viên cảnh sát và sợi dây xích, và tôi nghĩ mình sẽ nghỉ ngơi trên một chiếc ghế dài trong một hoặc hai tiếng để chờ hồi thứ ba.
Chỉ một lát sau, những tiếng kèn hiệu đầu tiên vang lên, và đám đông bắt đầu tan rã rồi hòa mình vào nhà hát. Tôi xin giải thích rằng tiếng kèn hiệu này là một trong những nét thú vị ở nơi đây. Bạn thấy đấy, nhà hát lúc đó đang trống không, và hàng trăm khán giả đang tản mát ở khá xa trong khu vực nhà ăn; tiếng kèn hiệu đầu tiên được thổi khoảng một phần tư giờ trước giờ màn kéo lên. Đội kèn hiệu trong bộ đồng phục bước ra với bước đi nhà binh và thả vào không gian vài ô nhịp của chủ đề vở diễn sắp tới, âm thanh vang vọng xuyên qua khoảng cách với những nốt nhạc duyên dáng; sau đó họ di chuyển đến lối vào khác và lặp lại. Chẳng mấy chốc họ lại làm điều đó một lần nữa. Ngày hôm qua, chỉ còn khoảng hai trăm người tụ tập trước cửa nhà hát khi tiếng kèn thứ hai vang lên; chỉ nửa phút nữa thôi là họ đã bước vào trong, nhưng rồi một sự việc xảy ra đã trì hoãn họ lại — có lẽ là điều duy nhất trên thế giới này có thể khiến người ta tin chắc sẽ đạt được kết quả đó — một vị công nương hoàng gia xuất hiện ở ban công phía trên họ. Họ khựng lại chết sững tại chỗ và bắt đầu ngước nhìn với vẻ ngơ ngác đầy biết ơn và mãn nguyện. Vị phu nhân chốc lát sau nhận ra rằng mình phải biến khuất đi nếu không các cửa sẽ bị khép lại trước những tín đồ này, thế là bà lui về lô ghế của mình. Nàng dâu hoàng đế này trông rất xinh xắn; nàng có một khuôn mặt phúc hậu; nàng không hề có vẻ kiêu kỳ cách điệu; và người ta đều biết nàng là người tràn đầy sự đồng cảm với phận người bình dị. Có rất nhiều loại công nương, nhưng loại này là nguy hiểm nhất trong tất cả, bởi vì bất cứ nơi đâu họ đặt chân tới, họ đều khiến con người ta hòa giải với chế độ quân chủ và quay ngược bánh xe thời gian của sự tiến. Những vị hoàng tử có giá trị, những vị hoàng tử đáng khao khát, chính là các sa hoàng và những kẻ thuộc loại đó. Chỉ bằng sự hiện diện câm lặng của mình trên cõi đời này, họ đã biến mọi lập luận có thể được ngụy tạo nhằm ủng hộ vương quyền bởi những nhà biện lý tài tình nhất trở thành trò cười lố bịch. Vào thời của mình, người chồng của vị công nương này từng là một kẻ có giá trị. Y đã sống một cuộc đời đồi trụy, kết liễu nó bằng chính tay mình trong những hoàn cảnh và khung cảnh vô cùng gớm ghiếc, để rồi được chôn cất như một vị thần.
Bên trong nhà hát có một gác xép dài nằm phía sau khán giả, một dạng hành lang mở, nơi các hoàng tử được bày biện cho thiên hạ chiêm ngưỡng. Nơi đó là chốn linh thiêng dành riêng cho họ; đó là nơi chí thánh. Ngay khi nhà hát vừa được lấp đầy khoảng chừng, đám đông đang đứng liền quay phắt lại và dán chặt mắt vào dàn nhân vật vương giả ấy, ngước nhìn trong im lặng, với nỗi khát khao, sự ngưỡng mộ và niềm nuối tiếc ngập tràn tựa như những kẻ tội nhân đang nhòm ngó cõi thiên thai. Họ rơi vào trạng thái xuất thần, vô thức, ngập chìm trong sự tôn sùng. Chẳng có cảnh tượng nào trên cõi đời này thê lương và đáng thương hơn thế. Nó đáng để người ta vượt qua bao đại dương chỉ để tận mắt chứng kiến. Không hiểu sao, ánh mắt đó hoàn toàn không giống với cách mà người ta đăm đăm nhìn vào một Victor Hugo, hay thác Niagara, hay bộ xương của loài voi ma mút, hay cỗ máy chém của thời kỳ Cách mạng, hay đại kim tự, hay ngọn Vesuvius xa xôi đang nhả khói trên bầu trời, hay bất kỳ vĩ nhân nào từng nổi danh qua thiên tài và thành tựu của họ, hay bất kỳ kỳ quan nào từng được ca tụng qua những trang sách và bức tranh — không, ánh mắt đó chỉ thuần túy là sự tò mò dữ dội, sự quan tâm, kinh ngạc, bận rộn hớp lấy những ngụm sâu ngon ngọt lan tỏa khắp lồng ngực và xoa dịu, thỏa mãn cơn khát cả đời người. Thỏa mãn nó — đó chính là từ chính xác nhất. Hugo và loài voi ma mút sau đó vẫn sẽ giữ một mức độ hấp dẫn mãnh liệt khi người ta vô tình chạm trán, nhưng sẽ chẳng bao giờ có thể sánh được với sự ngây ngất của cái nhìn đầu tiên ấy. Sự quan tâm dành cho một vị hoàng tử thì khác. Đó có thể là sự đố kỵ, có thể là lòng tôn sùng, và chắc chắn đó là sự pha trộn của cả hai — và cơn khát ấy chẳng thể được thỏa mãn chỉ bằng một cái nhìn, thậm chí chẳng hề suy giảm đi chút nào. Có lẽ bản chất của vấn đề nằm ở giá trị mà con người gán cho một thứ quý giá có được nhờ vận may chứ không phải do đổ mồ hôi sôi nước mắt. Một đồng đô la nhặt được ngoài đường mang lại cho bạn nhiều sự thỏa mãn hơn chín mươi chín đồng mà bạn phải lao động vất vả mới kiếm được, và số tiền thắng được từ sòng bạc hay chứng khoán cũng luồn lách vào tim bạn theo cách tương tự. Một vị hoàng tử nhặt được sự vĩ đại, quyền lực, một kỳ nghỉ vĩnh viễn và sự trợ cấp miễn phí chỉ bằng một tai nạn thuần túy, tai nạn của sự chào đời, và y luôn đứng trước đôi mắt đầy đau xót của đói nghèo và vô danh như một biểu tượng hoành tráng của sự may mắn. Và rồi — giá trị tột cùng hơn cả — địa vị của y là vận may cao quý duy nhất trên trái đất này được đảm bảo kiên cố. Triệu phú thương mại có thể phá sản thành kẻ ăn mày; nhà chính trị lừng lẫy có thể mắc một sai lầm chí mạng để rồi bị bỏ rơi và lãng quên; vị tướng lừng lẫy có thể thua một trận chiến quyết định và đánh mất luôn cả sự kính trọng của người đời; nhưng một khi đã là hoàng tử thì mãi mãi là hoàng tử — nghĩa là một vị thần nhân tạo, và không một vận rủi khắc nghiệt nào, không một nhân cách đồi bại nào, không một bộ não lú lẫn nào hay lời nói của một con lừa nào có thể phế truất được thần tính của y. Theo sự đồng thuận chung của tất cả các quốc gia và mọi thời đại, thứ quý giá nhất trên thế giới này chính là sự tôn kính của con người, dù cho nó xứng đáng hay không xứng đáng. Do đó, không còn nghi ngờ hay bàn cãi gì nữa, vị trí đáng khao khát nhất có lẽ chính là ngôi vị hoàng tử. Và tôi nghĩ điều đó cũng suy ra rằng những kẻ gọi là tiếm quyền rải rác khắp các trang sử chính là những tội ác có thể tha thứ nhất mà con người từng phạm phải. Tiếm ngôi của một kẻ tiếm quyền — tất cả chỉ có thế thôi, phải không nào?
Dĩ nhiên đối với chúng ta, một vị hoàng tử không mang ý nghĩa giống như đối với người châu Âu. Chúng ta chưa từng được giáo dục để xem y như một vị thần, và vì vậy, chỉ cần ngắm nhìn kỹ y một lần là đủ để thỏa mãn sự tò mò đến mức khiến y chẳng còn chút sức hút nào trong lần gặp tiếp theo. Chúng ta muốn một kẻ mới mẻ hơn. Nhưng người châu Âu thì không như vậy. Tôi hoàn toàn chắc chắn điều đó. Vẫn là gương mặt cũ rích ấy là đủ; y chẳng bao giờ nhàm chán cả. Mười tám năm trước, tôi ở London và đã đến thăm nhà của một người Anh vào một buổi chiều tháng Mười Hai lạnh lẽo, sương mù và ảm đạm theo lịch hẹn với vợ và cô con gái đã lập gia đình của ông ta. Tôi đợi nửa tiếng đồng hồ và cuối cùng họ cũng đến nơi trong tình trạng lạnh cóng. Họ giải thích rằng họ bị trễ do một tình huống bất ngờ: khi đi ngang qua khu vực Marlborough House, họ thấy đám đông đang tụ tập và được cho biết rằng Thân vương xứ Wales sắp lái xe ra ngoài, thế nên họ đã dừng lại để ngắm ông ta. Họ đã đứng đợi nửa tiếng đồng hồ trên vỉa hè, chết cóng giữa đám đông, nhưng cuối cùng lại thất vọng — Thân vương đã đổi ý. Tôi ngạc nhiên hỏi rằng: “Chẳng lẽ hai người đã sống ở London cả đời mà chưa từng nhìn thấy Thân vương xứ Wales sao?”
Dường như đến lượt họ ngạc nhiên, bởi họ thốt lên rằng: “Ý anh lạ thật đấy! Chớ chúng tôi đã thấy ông ấy hàng trăm lần rồi chứ bộ.”
Họ đã nhìn thấy ông ta hàng trăm lần, thế mà họ vẫn đứng đợi nửa tiếng đồng hồ trong bóng tối và cái lạnh cắt da cắt thịt, giữa một đám đông những kẻ bệnh hoạn đến từ cùng một “tâm thần viện,” chỉ vì cơ hội được nhìn thấy ông ta một lần nữa. Đó là một tuyên bố ngớ ngẩn đến mức đần độn, nhưng người ta buộc phải tin người Anh, ngay cả khi họ thốt ra những điều như thế. Tôi lúng túng tìm kiếm một câu trả lời, và rồi thốt lên câu này:
“Tôi hoàn toàn không thể hiểu nổi. Nếu tôi chưa từng gặp Tướng Grant, tôi nghi ngờ liệu mình có làm thế chỉ để được thoáng nhìn thấy ông ấy hay không.” Với một chút nhấn mạnh ở từ cuối cùng.
Khuôn mặt đần thon của họ cho thấy họ đang tự hỏi điểm tương đồng nằm ở đâu. Rồi họ ngây ngô đáp: “Đương nhiên là không rồi. Ông ấy chỉ là một Tổng thống thôi mà.”
Quả thực là một sự thật hiển nhiên rằng một vị hoàng tử là một niềm đam mê vĩnh cửu, một thứ tình cảm không bao giờ bị mai một theo thời gian. Vị tướng chưa từng bại trận, vị tướng chưa từng triệu tập hội đồng chiến tranh, vị tướng duy nhất từng chỉ huy một chiến tuyến liên tục dài một nghìn hai trăm dặm, người thợ rèn đã hàn gắn lại các mảnh vỡ của một nền cộng hòa vĩ đại và tái thiết lập nó tại một nơi mà rất có thể sẽ tồn tại lâu hơn tất cả các chế độ quân chủ hiện tại và tương lai, thực chất lại là một nhân vật chẳng có mấy trọng lượng trong mắt những con người này. Đối với họ, với sự giáo dục mà họ được thụ hưởng, Vị tướng của tôi rốt cuộc cũng chỉ là một con người bằng xương bằng thịt, trong khi Hoàng tử của họ rõ ràng vượt trội hơn thế rất nhiều — một sinh thể được cấu tạo và tạo dựng hoàn toàn khác biệt, và chẳng có chút máu mủ hay họ hàng nào với loài người giống như những ngọn đèn vĩnh cửu thanh thịnh trên vòm trời so với những ngọn nến mỡ bò thảm hại của chốn thương trường, cứ xèo xèo rồi tắt lịm để lại chẳng gì ngoài một dúm tro tàn và thứ mùi hôi hám.
Tôi đã xem hồi cuối của “Tannhauser.” Tôi ngồi trong bóng tối và sự tĩnh lặng sâu thẳm, chờ đợi — một phút, hai phút, tôi không biết chính xác là bao lâu — rồi giai điệu dịu dàng của dàn nhạc ẩn giấu bắt đầu cất lên những tiếng thở dài phong phú, kéo dài từ dưới sân khấu xa xôi, và chẳng mấy chốc bức màn nhung chia đôi ở giữa và được kéo sang một bên một cách nhẹ nhàng, hé lộ khung cảnh khu rừng chập choạng hoàng hôn bên cạnh một ngôi đền ven đường, nơi có một thiếu nữ mặc áo trắng đang cầu nguyện và một người đàn ông đứng gần đó. Ngay sau đó, hợp xướng nam cao quý vang lên báo hiệu sự xuất hiện, và từ khoảnh khắc đó cho đến khi màn hạ xuống, đó chỉ là âm nhạc, thuần túy là âm nhạc — âm nhạc khiến người ta say đắm trong niềm vui, âm nhạc khiến người ta muốn đeo bị gậy lên đường, đi bộ khất thực khắp hoàn cầu chỉ để được lắng nghe nó.
Đối với những ai có ý định đến đây tham dự mùa lễ hội Wagner vào năm tới, tôi xin nhắn nhủ một điều: hãy mang theo cặp lồng cơm của mình. Nếu làm thế, bạn sẽ không bao giờ thôi cảm thấy biết ơn. Nếu không, bạn sẽ thấy đó là một cuộc chiến khốc liệt để tự cứu mình khỏi chết đói ở Bayreuth. Bayreuth chỉ là một ngôi làng lớn, không có những khách sạn hay quán ăn quá lớn. Các quán trọ chính là Mỏ Neo Vàng và Mặt Trời. Tại bất kỳ địa điểm nào trong số này, bạn đều có thể mua được một bữa ăn tuyệt vời — không, ý tôi là bạn có thể đến đó và nhìn người khác ăn. Việc này hoàn toàn miễn phí. Thị trấn chi chít các nhà hàng, nhưng chúng đều nhỏ và tồi tàn, lại quá tải khách hàng. Bạn phải đặt trước bàn từ nhiều giờ đồng hồ, và thường thì khi đến nơi, bạn sẽ thấy có ai đó đang chiếm chỗ của mình. Chúng tôi đã trải qua kinh nghiệm này. Chúng tôi đã có một cuộc tranh giành sự sống hằng ngày; và khi tôi nói chúng tôi, ý tôi là cả một đàn người. Tôi có cảm giác rằng những người duy nhất không phải tranh giành chính là những cựu binh — những môn đồ từng đến đây trước đó và nắm rõ đường đi nước bước. Tôi nghĩ họ đến khoảng một tuần trước vở opera đầu tiên và đặt trước tất cả các bàn trong suốt mùa diễn. Nhóm của chúng tôi đã thử đủ mọi loại địa điểm — một số nằm ở ngoại ô thị trấn, cách đó một hoặc hai dặm — và chỉ vớ được những mẩu vụn lặt vặt, chưa bao giờ có được một bữa ăn trọn vẹn và thỏa mãn trong bất kỳ trường hợp nào. Dễ tiêu hóa ư? Không, hoàn toàn ngược lại. Những mẩu vụn lặt vặt này sẽ đóng vai trò như những món quà lưu niệm của Bayreuth, và về mặt đó, giá trị của chúng là không thể đánh giá thấp. Ảnh chụp thì phai màu, đồ trang trí thì thất lạc, tượng bán thân của Wagner thì bị vỡ, nhưng một khi bạn đã hấp thụ xong một bữa ăn ở nhà hàng Bayreuth, nó sẽ thuộc về sở hữu và tài sản của bạn cho đến khi thời điểm ướp xác phần còn lại của bạn tới. Một số người hành hương ở đây trên thực tế đã biến thành những chiếc tủ kính; những chiếc tủ kính chứa đầy quà lưu niệm của Bayreuth. Giới khoa học tin rằng bạn có thể kiểm tra dạ dày của một người hành hương Bayreuth đã chết ở bất kỳ nơi nào trên trái đất và đoán ra ngay anh ta đến từ đâu. Nhưng tôi thích thứ dằn bụng này. Tôi nghĩ rằng một bữa ăn ched đắp đổi bằng đồ thừa ở “Hermitage” vào lúc tám giờ tối, khi tất cả những kẻ gây nạn đói đã đến đó vơ vét kỷ vật rồi rời đi, chính là thứ yên bình nhất mà bạn có thể đặt vào đáy thuyền của mình, ngoại trừ sỏi đá.
THỨ NĂM.—Họ duy trì sẵn hai đội ngũ ca sĩ cho các vai chính, và một trong số đó bao gồm những nghệ sĩ lừng danh nhất thế giới, với Materna và Alvary dẫn đầu. Tôi cho rằng một đội kép là cần thiết; chắc chắn một đội đơn sẽ chết vì kiệt sức chỉ trong vòng một tuần, bởi vì tất cả các vở kịch đều kéo dài từ bốn giờ chiều cho đến mười giờ đêm. Hầu như toàn bộ gánh nặng đều đổ dồn lên nửa tá ca sĩ chính, và rõ ràng họ được yêu cầu phải phát ra càng nhiều tiếng động càng tốt so với số tiền được trả. Nếu họ cảm thấy một cảm xúc nhẹ nhàng, thì thầm, huyền bí, họ vẫn phải bộc lộ thật to để công chúng được biết. Các vở opera chỉ được biểu diễn vào các ngày Chủ nhật, Thứ hai, Thứ tư và Thứ sáu, với ba ngày nghỉ ngơi trên danh nghĩa mỗi tuần, và hai đội ca sĩ đảm nhiệm bốn vở opera; nhưng khoảng thời gian nghỉ ngơi trên danh nghĩa đó phần lớn được dành cho việc tổng duyệt. Người ta nói rằng những ngày nghỉ được tận dụng để tập luyện từ sáng cho đến mười giờ đêm. Liệu có hai dàn nhạc không? Rất có thể là có, vì có tới một trăm mười cái tên trong danh sách dàn nhạc.
Hôm qua vở opera được biểu diễn là “Tristan and Isolde.” Tôi đã chứng kiến đủ mọi loại khán giả — tại các nhà hát, vở opera, buổi hòa nhạc, bài giảng, buổi lễ tôn giáo, đám tang — nhưng chưa có khán giả nào sánh được với khán giả Wagner ở Bayreuth về sự tập trung cao độ và thành kính. Sự tập trung tuyệt đối và tư thế hóa đá được duy trì cho đến tận cuối hồi so với thời điểm bắt đầu. Bạn hoàn toàn không phát hiện ra bất kỳ chuyển động nào trong khối lượng đầu và vai đặc kín ấy. Bạn có cảm giác như mình đang ngồi cùng những người đã khuất trong bóng tối của một ngôi mộ. Bạn biết rằng họ đang bị khuấy động đến tận tâm can; rằng có những lúc họ muốn đứng dậy vẫy khăn và hò reo tán thưởng, và có những lúc nước mắt lăn dài trên má, và sẽ thật là một sự giải thoát nếu họ có thể trút bỏ cảm xúc dồn nén bằng những tiếng nấc hay tiếng thét; thế nhưng bạn chẳng hề nghe thấy dù chỉ một âm thanh cho đến khi tấm màn nhung khép lại và những khúc nhạc cuối cùng phai dần rồi tắt lịm; lúc đó những con người bất động ấy mới đồng loạt đứng dậy và làm rung chuyển cả tòa nhà bằng tiếng vỗ tay của họ. Mọi chiếc ghế đều chật cứng ở hồi thứ nhất; không còn một chỗ trống nào ở hồi cuối. Nếu ai đó muốn nổi bật, hãy đến đây và rời khỏi nhà hát giữa lúc vở diễn đang diễn ra. Điều đó sẽ khiến anh ta nổi tiếng.
Khán giả nơi đây chẳng gợi cho tôi nhớ đến bất cứ thứ gì tôi từng thấy hay từng đọc, ngoại trừ thành phố trong câu chuyện Ả Rập, nơi tất cả cư dân đều bị hóa thành đồng thau và lữ khách tìm thấy họ sau nhiều thế kỷ trong trạng thái câm lặng, bất động và vẫn giữ nguyên tư thế cuối cùng của sự sống. Ở đây, khán giả của Wagner ăn mặc theo ý thích, ngồi trong bóng tối và tôn sùng trong im lặng. Tại Metropolitan ở New York, họ ngồi dưới ánh đèn chói lọi, diện những bộ cánh lộng lẫy nhất; họ ngân nga theo giai điệu, quạt giấy kêu cót két, cười khúc khích và chin chít trò chuyện suốt buổi. Trong một số lô ghế, tiếng trò chuyện và cười đùa lớn đến mức chia sẻ sự chú ý của khán giả với sân khấu. Phần lớn Metropolitan chỉ là một tủ kính trưng bày cho giới thượng lưu giàu có, những kẻ không được đào tạo về âm nhạc Wagnerian và chẳng có chút tôn kính nào với nó, nhưng lại thích quảng bá nghệ thuật và khoe quần áo.
Liệu đó có thể là một bầu không khí dễ chịu đối với những người mà thứ âm nhạc này tạo ra một loại ngây ngất thần thánh, và đối với họ, người sáng tạo ra nó chính là một vị thần thực sự, sân khấu của ông là đền thờ, các tác phẩm do bộ óc và bàn tay ông tạo ra là những vật thiêng liêng, và việc hòa mình vào chúng qua đôi mắt và đôi tai là một nghi lễ trang nghiêm? Rõ ràng là không. Thế thì, có lẽ việc tạm thời rời bỏ quê hương, cuộc vượt biển và băng qua lục địa đầy mệt nhọc, cuộc hành hương đến Bayreuth đã được giải thích thỏa đáng. Những tín đồ này muốn được tôn sùng trong một bầu không khí sùng đạo. Chỉ ở nơi này họ mới có thể tìm thấy điều đó mà không một vết nhơ hay sự ô uế trần tục nào xâm chiếm. Ở ngôi làng hẻo lánh này, không có cảnh trí nào để ngắm nghía, không có tờ báo nào làm phiền toái bởi những lo âu của thế giới xa xôi, chẳng có gì diễn ra cả, nơi đây luôn là ngày Chủ nhật. Người hành hương tiến bước đến đền thờ của mình ở ngoại ô, ngồi trọn vẹn qua buổi lễ đầy cảm xúc, trở về giường với trái tim, tâm hồn và thể xác kiệt quệ sau những giờ phút xúc động mãnh liệt tột độ, và họ chẳng còn đủ sức khỏe để làm gì khác ngoài việc nằm lì lợm thu nhặt lại sự sống và sức mạnh cho buổi lễ tiếp theo. Vở opera “Tristan and Isolde” đêm qua đã làm tan nát trái tim của tất cả những chứng nhân thuộc giáo phái này, và tôi biết có một số người đã nghe kể về nhiều người khác không thể chợp mắt nổi sau đó, mà cứ khóc ròng suốt đêm. Tôi cảm thấy vô cùng lạc lõng ở nơi này. Thỉnh thoảng tôi cảm thấy mình giống như một kẻ tỉnh táo duy nhất giữa một cộng đồng toàn người điên; đôi khi tôi cảm thấy mình giống như kẻ mù duy nhất trong khi những người khác đều sáng mắt; gã người rừng ngơ ngác trong viện hàn lâm của giới bác học, và luôn luôn, trong suốt buổi lễ, tôi cảm thấy mình giống như một kẻ dị giáo ở trên thiên đường.
Nhưng tôi chưa bao giờ phớt lờ hay xem nhẹ thực tế rằng đây là một trong những trải nghiệm phi thường nhất trong cuộc đời tôi. Tôi chưa bao giờ thấy bất cứ điều gì giống thế này trước đây. Tôi chưa bao giờ thấy điều gì vĩ đại, tốt đẹp và chân thực đến thế như lòng sùng kính này.
THỨ SÁU.—Vở opera ngày hôm qua lại là “Parsifal.” Những người khác đã đi và họ cho thấy sự tiến bộ rõ rệt trong sự cảm thụ; nhưng tôi lại đi lùng sục các di vật và kỷ vật của Nữ bá tước Wilhelmina, người nổi tiếng với tác phẩm “Hồi ký” trường tồn cùng năm tháng. Tôi vô cùng biết ơn bà vì châm ngôn (vô thức) châm biếm chế độ quân chủ và quý tộc của bà, và do đó bất cứ thứ gì mà tay bà chạm vào hay mắt bà ngắm nhìn đều không hề tầm thường đối với tôi. Tôi là người hành hương của bà; phần còn lại của đám đông ở đây là của Wagner.
THỨ BA.—Tôi đã xem xong hai vở opera cuối cùng của mình; mùa diễn của tôi đã khép lại, và chúng tôi sẽ vượt biên sang Bohemia vào chiều nay. Tôi từng cho rằng quá trình tái sinh âm nhạc của mình đã hoàn tất và hoàn mỹ, bởi vì tôi đã thưởng thức cả hai vở opera này, từ tiếng hát cho đến mọi thứ, và hơn nữa, một trong số đó lại là “Parsifal,” nhưng các chuyên gia đã làm tôi vỡ mộng. Họ nói rằng:
“Hồng ân ca hát gì chứ! Đó chẳng phải là ca hát; đó là những tiếng than van, ré lên của những kẻ vô danh tiểu tốt hạng ba, được tống cổ cho chúng ta chỉ vì mục đích tiết kiệm.”
Chà, đáng lẽ tôi phải nhận ra dấu hiệu đó — dấu hiệu cũ kỹ, chắc chắn chưa từng phản bội tôi trong các vấn đề nghệ thuật. Bất cứ khi nào tôi thích một thứ gì đó trong nghệ thuật, điều đó đồng nghĩa với việc nó cực kỳ tồi tệ. Kiến thức thầm kín về thực tế này đã cứu tôi khỏi việc phát cuồng vì phấn khích trước rất rất nhiều bức tranh in màu rẻ tiền. Tuy nhiên, bản năng thấp kém của tôi đôi khi cũng mang lại lợi ích; tôi là người duy nhất trong số ba nghìn hai trăm người lấy lại được tiền vé cho hai vở opera đó.