Note.—The assassination of the Empress of Austria at Geneva, September 10, 1898, occurred during Mark Twain’s Austrian residence. The news came to him at Kaltenleutgeben, a summer resort a little way out of Vienna. To his friend, the Rev. Jos. H. Twichell, he wrote:
“That good and unoffending lady, the Empress, is killed by a madman, and I am living in the midst of world-history again. The Queen’s Jubilee last year, the invasion of the Reichsrath by the police, and now this murder, which will still be talked of and described and painted a thousand years from now. To have a personal friend of the wearer of two crowns burst in at the gate in the deep dusk of the evening and say, in a voice broken with tears, ‘My God! the Empress is murdered,’ and fly toward her home before we can utter a question—why, it brings the giant event home to you, makes you a part of it and personally interested; it is as if your neighbor, Antony, should come flying and say, ‘Caesar is butchered—the head of the world is fallen!’
“Of course there is no talk but of this. The mourning is universal and genuine, the consternation is stupefying. The Austrian Empire is being draped with black. Vienna will be a spectacle to see by next Saturday, when the funeral cortege marches.”
He was strongly moved by the tragedy, impelled to write concerning it. He prepared the article which here follows, but did not offer it for publication, perhaps feeling that his own close association with the court circles at the moment prohibited this personal utterance. There appears no such reason for withholding its publication now.
A. B. P.
Càng ngẫm về vụ ám sát, sự kiện ấy lại càng trở nên vĩ đại và chấn động hơn. Việc tàn phá một thành phố là một sự kiện lớn, nhưng nó vẫn lặp lại vài lần trong suốt một thiên niên kỷ; sự hủy diệt một phần ba dân tộc bởi dịch bệnh và nạn đói là một sự kiện lớn, nhưng nó cũng từng xảy ra mấy bận trong lịch sử; vụ sát hại một vị vua là một sự kiện lớn, nhưng vốn dĩ vô cùng thường tình.
Cái chết của một vị hoàng hậu mới là sự kiện lớn nhất trong mọi sự kiện lớn. Người ta phải ngược dòng thời gian về khoảng hai ngàn năm trước mới tìm được một trường hợp tương đương. Gia đình lâu đời nhất với dòng dõi không thể chối cãi trong thế giới Cơ Đốc giáo hiện sống ở Rome, với bề dày gia phả kéo dài một ngảy bảy trăm năm, nhưng chưa từng có thành viên nào từng chứng kiến cảnh một vị hoàng hậu bị ám sát cho đến tận bây giờ. Trong suốt mười bảy thế kỷ ấy, nhiều thế hệ của gia tộc đó đã không ít lần bàng hoàng trước những tin tức chấn động — sự sụp đổ của các thành phố, sự diệt vong của các ngai vàng, cái chết của các vị vua, sự sụp đổ của các triều đại, sự cáo chung của các tôn giáo, sự ra đời của những thể chế chính trị mới; và con cháu họ đã từng có mặt để lắng nghe, để bàn tán khi tất cả những điều ấy lặp lại một, hai, hoặc dẫu có hàng tá lần — thế nhưng, tận tai gia tộc lâu đời ấy cuối cùng cũng đón nhận một tin tức chưa từng phai nhạt theo thời gian, một sự kiện không hề có tiền lệ trong suốt chiều dài ký ức của họ.
Đây là một sự kiện ban tặng một nét đặc biệt kỳ lạ cho mọi cá nhân đang sống trên thế giới ngày nay: họ đã đứng, đã thở trước một biến cố mà không một tổ tiên nào trong gia phả của họ — dù có thể truy nguyên hay không — từng trải qua suốt hai mươi thế kỷ qua, và cũng chẳng mấy hy vọng có hậu duệ nào của họ được chứng kiến trong hai mươi thế kỷ tới.
Thời gian đã tạo ra một vài đổi thay to lớn kể từ thời La Mã. Vụ sát hại một vị hoàng hậu khi ấy — thậm chí ngay cả vụ ám sát chính Caesar — cũng không thể làm rung chuyển thế giới dữ dội như vụ ám sát này. Một phần vì khi đó thế giới chưa đủ lớn để mà rung chuyển; đó là một thế giới nhỏ bé nếu tính theo những vùng đất được biết đến, lại thêm dân cư thưa thớt; và một phần vì tin tức lan truyền quá đỗi chậm chạp, khiến sức chấn động ban đầu vơi cạn dần qua từng tuần, từng tháng trên đường di chuyển, để rồi khi đến được những vùng đất hẻo lánh thì chẳng còn lại là bao. Nó không còn là một tin tức mới mẻ, mà đã trở thành chuyện của quá khứ xa xôi; nó chẳng còn đúng là tin tức nữa, mà là lịch sử. Nhưng thế giới ngày nay thật rộng lớn và đông đúc vô cùng — đó là một đổi thay; và đổi thay thứ hai chính là tốc độ nhanh như chớp của tin tức, dẫu hay hay dở. “Hoàng hậu đã bị ám sát!” Khi những lời kinh hoàng ấy dội vào tai tôi tại ngôi làng nước Áo này vào thứ Bảy tuần trước, chỉ ba giờ sau thảm họa, tôi biết rằng đó đã là tin cũ ở Luân Đôn, Paris, Berlin, New York, San Francisco, Nhật Bản, Trung Quốc, Melbourne, Cape Town, Bombay, Madras, Calcutta, và toàn thể quả địa cầu đang đồng thanh nguyền rủa kẻ thủ ác. Kể từ khi mạng lưới điện tín bắt đầu vươn rộng hơn trên khắp mặt địa cầu, những vùng lãnh thổ ngày càng rộng lớn của thế giới đã lần lượt cùng lúc đón nhận cú sốc của một thảm họa lớn; nhưng đây là lần đầu tiên trong lịch sử toàn bộ bề mặt trái đất bị cuốn phăng đi trong một khoảnh khắc duy nhất bởi sức chấn động của một sự kiện khổng lồ đến vậy.
Và ai là kẻ làm nên phép lạ đã dâng hiến cho thế giới màn trình diễn này? Mọi sự trớ trêu đều hội tụ đủ trong câu trả lời. Hắn đứng ở bậc thấp nhất trong thang bậc con người, tính theo những tiêu chuẩn thông thường về địa vị và giá trị: một tên lang thang trẻ tuổi nhớp nhúa và rách rưới, không tài năng, không năng lực, không học thức, không đạo đức, không nhân cách, không một chút duyên ngầm bẩm sinh hay tôi luyện nào có thể lấy lòng, quyến rũ hay thu hút người khác; không một vẻ duyên dáng nào trong tâm hồn, trí tuệ hay đôi tay mà bất kỳ kẻ lang thang hay gĩm điếm nào có thể ganh tị; một tên lính đào ngũ hèn nhát, một thợ đẽo đá bất tài, một kẻ hầu hạ vô tích sự; nói tóm lại, một con chồn hôi mang hình hài con người — ghẻ lở, đáng ghét, rỗng tuếch, nhếch nhác, thô tục, bỉ ổi, hôi hám, nhát gan và lén lút. Thế mà chính sự mỉa mai này của nhân loại lại có đủ đặc quyền và sức mạnh để vươn lên — lên mãi — để đánh gục từ đỉnh cao chót vót trên bầu trời xã hội cái lý tưởng được thế giới thừa nhận về Vinh quang, Quyền lực, Sự lộng lẫy và Tính thiêng liêng! Nó cho chúng ta nhận ra mình chỉ là những trò hề và cái bóng đáng thương đến nhường nào. Nếu không có xiêm y và bệ phóng, chúng ta chẳng qua chỉ là những sinh linh nghèo hèn và đều một thước như nhau; phẩm giá của chúng ta nào có thật, sự kiêu căng của chúng ta chỉ là trò bịp bợm. Ở trạng thái cao cả và rực rỡ nhất, chúng ta vốn chẳng phải là những vòm thái dương như chúng ta vẫn tự huyễn hoặc, rao giảng và tin tưởng, mà chỉ là những ngọn nến mong manh; và bất kỳ tên vô lại nào cũng có thể thổi tắt chúng ta.
Và giờ đây, chúng ta lại một lần nữa nhận thức sâu sắc về một điều khác mà chúng ta thường quên lãng — hoặc cố tình quên: rằng không có con người nào hoàn toàn lành lặn về tâm trí; rằng suy cho cùng, ai nấy ít nhiều đều điên rồ. Nhiều kẻ phát điên vì tiền tài. Khi cơn điên này ở dạng nhẹ, nó vô hại và kẻ đó vẫn được xem là người bình thường; nhưng khi nó phát triển mạnh mẽ và chiếm lĩnh tâm trí, nó có thể biến kẻ đó thành kẻ lừa đảo, trộm cắp và giết người; và khi đã vơ vét được gia tài rồi lại đánh mất nó, hắn có thể thân bại danh liệt trong nhà thương điên hoặc chiếc quan tài của kẻ tự sát. Tình yêu là một thứ điên rồ; nếu bị cản trở, nó phát triển rất nhanh; nó có thể lớn mạnh thành sự cuồng loạn tuyệt vọng và khiến một vị hoàng tử vốn bình thường và vô cùng tài năng như Rudolph vứt bỏ vương miện của cả một đế chế để tự tước đoạt mạng sống của chính mình. Toàn bộ danh sách những ham muốn, sở thích, sự chán ghét, tham vọng, đam mê, nỗi bận tâm, niềm đau thương, sự hối tiếc và nỗi ân hận đều là những mầm mống của sự điên loạn, sẵn sàng lớn lên, lan rộng và thiêu rụi tất cả khi có dịp. Chẳng có tâm trí nào hoàn toàn khỏe mạnh cả, và không gì cứu rỗi con người ngoài sự ngẫu nhiên — sự ngẫu nhiên chưa đẩy cơn bạo bệnh của họ đến thử thách tối thượng.
Một trong những dạng điên rồ phổ biến nhất là khát vọng được chú ý, là niềm vui có được từ việc thu hút sự chú ý. Có lẽ nó không chỉ phổ biến, mà còn là bản chất chung của nhân loại. Ở mức độ nhẹ nhất, chắc chắn nó tồn tại ở mọi người. Đứa trẻ nào cũng vui mừng khi được chú ý; nhiều đứa trẻ ngổ ngáo dành toàn bộ thời gian vào những nỗ lực phiền toái và ngớ ngẩn để thu hút sự chú ý của khách khứa; bọn con trai thì luôn ra vẻ “ta đây”; dường như mọi đàn ông và phụ nữ đều cảm thấy sung sướng và biết ơn khi nhận ra mình vừa làm được một việc giúp họ thoát khỏi sự vô danh trong chốc lát và trở thành tâm điểm của những lời bàn tán kinh ngạc. Cơn điên rồ phổ biến này có thể phát triển, qua sự nuôi dưỡng, thành cơn khát sự nổi tiếng ở người này, khát vọng danh vọng ở người khác. Chính chứng điên cuồng vì muốn được chú ý và bàn tán ấy đã phát minh ra vương quyền cùng hàng ngàn tươm tất phẩm giá khác, rồi trang hoàng chúng bằng những xiêm y xinh xắn, lộng lẫy; nó khiến các vị vua móc túi lẫn nhau, tranh giành vương miện và lãnh địa của nhau, tàn sát thần dân của nhau; nó dựng lên những võ sĩ quyền Anh, những nhà thơ, những vị thị trưởng làng, những chính trị gia lớn nhỏ, những nhà sáng lập từ thiện lớn nhỏ, những tay vô địch xe đạp, những tên tướng cướp, những kẻ bất trị vùng biên giới, và cả những Napoleon. Miễn là được nổi danh; miễn là khiến cả ngôi làng, huyện lỵ, thành phố, tiểu bang, quốc gia hay cả hành tinh này phải gào lên rằng: “Nhìn kìa — hắn đang đi kìa — chính là kẻ đó!” Và chỉ trong vòng năm phút, chẳng tốn chút chất xám, công sức hay thiên tài nào, tên lang thang người Ý rách rưới này đã đánh bại tất cả, vượt qua tất cả, bỏ xa tất cả, bởi vì rồi đây tên tuổi của họ sẽ phai mờ; nhưng nhờ sự hậu thuẫn thân thiện của những tờ báo điên rồ, những tòa án, những vị vua và các sử gia, tên tuổi của hắn chắc chắn sẽ sống mãi và vang dội khắp thế gian qua muôn đời chừng nào tiếng nói con người còn tồn tại!
Ôi, nếu nó không quá bi thảm thì mới nực cười làm sao!
Nàng thật vô tội biết bao, vị Hoàng hậu ấy; và thật xinh đẹp biết bao, trong cả tâm hồn lẫn thể xác, trong nhân phẩm lẫn phong thái; dù có đội vương miện trên đầu hay không, dẫu vô danh tiểu tốt đi chăng nữa, nàng vẫn là niềm kiêu hãnh của nhân loại, và suýt chút nữa đã trở thành lời minh oan cho sự tồn tại của loài người — quả thực là thế, giá như con thú đã hạ sát nàng không tái lập lại nỗi hoài nghi ấy.
Trong tính cách của nàng hội tụ mọi phẩm chất ở người phụ nữ có thể khơi gợi và thu hút sự tôn trọng, lòng kính trọng, tình yêu thương và sự tôn sùng. Sở thích, bản năng và khát vọng của nàng đều cao cả, tinh tế và suốt cuộc đời, trái tim lẫn khối óc của nàng luôn bận rộn với những hoạt động cao quý. Nàng từng trải qua những nỗi đau đớn cay đắng, nhưng chúng không làm tâm hồn nàng cay đắng, và nàng từng đón nhận những vinh dự cao quý nhất mà thế giới có thể ban tặng, nhưng nàng vẫn giữ lối sống giản dị, không bị vẩn đục. Nàng thấu hiểu mọi tầng lớp, chinh phục tất cả và biến họ thành những người bạn của mình. Vợ của một ngư phủ người Anh từng nói: “Khi người ta gặp hoạn nạn, bà không sai người mang sự giúp đỡ tới, mà chính tay bà mang đến.” Vương miện đã tôn vinh những người khác, nhưng chính nàng mới là người tôn vinh chiếc vương miện của mình.
Đó là một sự nổi tiếng vụt sáng mà kẻ sát nhân đạt được. Và nó đi kèm với một vài sự tương phản kỳ lạ. Vào lúc trưa thứ Bảy tuần trước, trên thế giới này chẳng có lấy một ai coi việc quen biết hắn là điều đáng nhận hay đáng nhắc tới; chẳng ai lại đi tự hào vì có mối quen biết ấy; ngay cả người đánh giày chân chính hèn mọn nhất cũng chẳng thèm đếm xỉa đến chuyện từng gặp hay nhìn thấy hắn; hắn chìm nghỉm trong sự vô danh cùng tận, ở tận đáy sâu xa khuất khỏi tầm mắt của tầng lớp quan lại thấp kém nhất. Ba giờ sau, hắn trở thành tâm điểm bàn tán duy nhất trên toàn thế giới, những vị tướng lĩnh, đô đốc và thống đốc huy hoàng đang bàn luận về hắn, tất cả các vị vua, hoàng hậu và hoàng đế đã gác lại mọi bận tâm khác để nói về hắn. Và bất cứ nơi đâu, dù là ở đỉnh cao hay đáy sâu của xã hội, có một kẻ tình cờ từng dạo qua hoặc chạm mặt con người kia vào lúc nào đó, hắn đều nhớ lại với một sự thỏa mãn thầm kín và đem ra kể lể — bởi vì giờ đây, đó là một niềm kiêu hãnh!
Điều đó hạ thấp phẩm giá con người xuống mức thê thảm, và trong giây lát, người ta khó lòng chấp nhận nổi sự thật ấy — nhưng đó lại là điều hoàn toàn có thật. Nếu có vị vua nào lúc này còn nhớ rằng mình từng nhìn thấy sinh linh ấy trong quá khứ, ngài đã vô tình thốt ra điều đó, theo cách có vẻ ngẫu nhiên và dửng dưng được tính toán trước, đến vài chục lần trong tuần qua. Bởi vì một vị vua cũng chỉ là con người; nội tâm của ngài hoàn toàn giống với nội tâm của bất kỳ ai khác; và việc tìm thấy sự thỏa mãn khi được gắn kết theo một cách riêng tư nào đó với những sự kiện kinh ngạc vốn là bản tính con người. Tất cả chúng ta đều thầm tự hào về một điều như thế; ai nấy đều giống nhau cả thôi; một vị vua cũng chỉ là vua do ngẫu nhiên; lý do những người còn lại trong chúng ta không phải là vua đơn giản chỉ vì một sự ngẫu nhiên khác; tất cả chúng ta đều được nhào nặn từ cùng một thứ đất sét, và đó vốn là một thứ chất liệu chẳng lấy gì làm sang trọng.
Dưới hàng ngũ các vị vua, những lời bàn tán ấy đang lan tràn khắp nơi trong những ngày này; tôi thừa biết điều đó chẳng khác nào đang tận tai lắng nghe:
VIÊN CHỈ HUY: “Hắn từng ở trong quân đội của ta.”
VIÊN TƯ LỆNH QUÂN ĐOÀN: “Hắn từng thuộc quân đoàn của ta.”
VIÊN ĐẠI TÁ: “Hắn từng ở trung đoàn của ta. Một tên thú vật. Ta nhớ hắn rất rõ.”
VIÊN ĐẠI ÚY: “Hắn từng ở đại đội của ta. Một tên du thủ du thực phiền phức. Ta nhớ hắn rất rõ.”
VIÊN TRUNG SĨ: “Tôi có biết hắn không ư? Rõ như biết ngài vậy. Chẳng giấu gì ngài, sáng nào tôi cũng...” vân vân và vân vân; một câu chuyện dài đầy hào hứng, được kể cho những đôi tai đang há hức nuốt lấy từng lời.
BÀ CHỦ NHÀ TRỌ: “Không biết bao nhiêu lần hắn từng trọ nhà tôi. Tôi có thể chỉ cho các vị thấy chính căn phòng của hắn, và chiếc giường mà hắn từng ngủ. Cả vết than trên tường kia nữa — chính tay hắn vẽ đấy. Thằng Johnny nhà tôi tận mắt nhìn thấy cơ mà. Phải thế không hả Johnny?”
Dễ dàng nhận thấy qua các trang báo rằng vị thẩm phán, cảnh sát trưởng và tên cai ngục đang nâng niu từng lời nói và việc làm hằng ngày của kẻ sát nhân như những báu vật, và đang đắm mình trong biển cả danh vọng ngập tràn hạnh phúc trong tuần này. Cả phóng viên phỏng vấn nữa; hắn cố tỏ ra mình không hề kiêu ngạo trước đặc quyền được tiếp xúc với con người mà ít ai có cơ hội nhìn ngắm ấy, nhưng hắn cũng chỉ là con người giống như bao kẻ khác, và chẳng thể nào kìm nén được sự kiêu căng trong lòng cũng giống như bạn hay tôi vậy.
Nhiều người cho rằng vụ mưu sát này là một cuộc nổi dậy cuồng loạn chống lại chủ nghĩa quân phiệt tội ác đang khiến châu Âu nghèo đói và đẩy những người nghèo đói khổ đến mức phát điên. Chủ nghĩa đó có rất nhiều tội ác phải đền ơn đáp nghĩa, nhưng theo tôi, không có tội ác này. Người ta không thể quy cho gã này một sự phẫn nộ cao thượng chống lại những bất công giáng xuống người nghèo; người ta không thể tôn vinh hắn bằng bất kỳ xung động cao thượng nào. Khi nhìn thấy bức ảnh của chính mình và thốt lên rằng, “Ta sẽ nổi tiếng đây,” hắn đã phơi bày trần trụi động cơ thúc đẩy bản thân. Đó thuần túy chỉ là cơn khát danh vọng. Có một trường hợp tương tự đã được thừa nhận từ lâu đời trong lịch sử — đó là vụ đốt đền thờ Ephesus.
Trong số những nỗ lực vụ vụng về nhằm giải thích cho vụ ám sát, chúng ta phải dành vị trí cao cho những lời mô tả nó là một “tội ác tàn bạo kỳ lạ” rồi bổ sung thêm rằng nó đã được “định đoạt từ trên cao.” Tôi nghĩ phán quyết đó sẽ chẳng được lòng “trên cao” cho lắm. Nếu hành động này được định đoạt từ trên cao, thì chẳng có cách nào hợp lý để bắt gã tù nhân này phải chịu dù chỉ một phần trách nhiệm về nó, và tòa án Geneva không thể kết án hắn nếu không rõ ràng phạm tội. Lô-gích vẫn là lô-gích, và bằng cách phớt lờ các quy luật của nó, ngay cả nhà thần học sùng đạo và phô trương nhất cũng có thể bị lôi kéo vào việc đưa ra những lời buộc tội mà lẽ ra không nên mạo muanh thốt ra nếu không có sự che chở của thật nhiều cột thu lôi.
Tôi đã chứng kiến đoàn người đưa tang cùng những người bạn của mình từ cửa sổ của Krantz, khách sạn mới xa hoa bậc nhất ở Vienna. Chúng tôi đến thành phố vào giữa buổi sáng, và tôi đi bộ từ nhà ga. Những lá cờ đen rủ xuống từ mọi ngôi nhà; không khí tĩnh mịch như ngày Chủ nhật; đám đông trên vỉa hè lặng lẽ và di chuyển chậm chạp; rất ít người hút thuốc; nhiều phụ nữ mặc tang phục màu sẫm, đàn ông hầu hết mặc đồ đen; xe cộ phóng đi khắp các hướng, với người hầu và đánh xe mặc đồ đen cùng chiếc mũ tam giác cũng màu đen; các cửa hàng đều đóng cửa; bên nhiều ô cửa sổ là di ảnh của Hoàng hậu: thuở thiếu nữ là một cô dâu trẻ mười bảy tuổi xinh đẹp; khi đã luống tuổi là một vị phu nhân điềm tĩnh và uy nghi; và cuối cùng là trong bộ tang phục sẫm màu không chút trang sức — bộ trang phục mà nàng luôn mặc sau cái chết bi thảm của người con trai chín năm về trước, bởi khi ấy trái tim nàng đã vỡ vụn, và cuộc sống gần như mất hết giá trị đối với nàng. Người dân đứng tụm lại trước những bức ảnh ấy, và thỉnh thoảng người ta lại thấy những người phụ nữ và các thiếu nữ quay đi để lau dòng nước mắt.
Phía trước khách sạn Krantz là một quảng trường rộng lớn; đối diện là nhà thờ nơi diễn ra lễ tang. Nó nhỏ bé, cổ kính, mộc mạc đến cùng cực, được trát vữa bên ngoài và quét vôi trắng hoặc sơn, không có vật trang trí nào ngoại trừ bức tượng một vị tu sĩ nằm trong hốc tường phía trên cửa ra vào, và phía trên đó là một lá cờ đen nhỏ. Nhưng trong hầm mộ của nó lại yên nghỉ một số nhân vật vĩ đại của triều đại Habsburg, trong đó có Maria Theresa và con trai của Napoleon, Công tước xứ Reichstadt. Nơi đây từng là một trại lính La Mã thuở trước, và Hoàng đế Marcus Aurelius đã băng hà tại đó một ngàn năm trước khi vị quân vương Habsburg đầu tiên trị vì ở Vienna, tức là từ sáu trăm năm trước hoặc lâu hơn thế.
Ngôi nhà thờ nhỏ bé bị kẹp giữa những cửa hàng và tòa nhà hiện đại cao lớn, và các cửa hàng ấy đều kín chỗ ở các khung cửa sổ. Phía sau những tấm kính lớn của các tầng trên một ngôi nhà ở góc phố, người ta thoáng thấy những tầng lớp nam thanh nữ tú mặc đồ lịch sự, mờ ảo và lung linh như những sinh vật dưới đáy nước. Bên dưới chúng tôi, quảng trường chìm trong tĩnh lặng nhưng đông nghẹt người dân; các quan chức trong bộ quân phục lộng lẫy đang thoăn thoắt đi lại làm nhiệm vụ, và trên bậc thềm cửa có một bóng người tơi tả trong cảnh nghèo đói cùng cực, chân trần, đầu cúi thấp khiêm nhường; đó là một thanh niên chừng mười tám hoặc đôi mươi, và qua ống nhòm, người ta có thể thấy cậu ta đang xé ra và nhai ngấu nghiến những mẩu rác rưởi nhặt được ở xó xỉnh nào đó. Những bộ quân phục rực rỡ lướt qua cậu, tạo nên một sự tương phản lấp lánh với đống rẻ rách mốc meo đang rũ rượi, nhưng cậu chẳng mảy may chú ý; cậu không đến đây để đau buồn cho thảm họa của một quốc gia; cậu có những nỗi bận tâm của riêng mình, còn sâu sắc hơn thế. Từ hai hướng, hai hàng bộ binh dài dằng dặc đang rẽ lối xuyên qua đám đông chen chúc trong yên lặng; một mệnh lệnh nhỏ gọn, dứt khoát vang lên và đám đông biến mất, quảng trường trừ phần vỉa hè trở nên trống trải, người tang chủ riêng lẻ đã đi khuất. Một mệnh lệnh nữa, những người lính tản ra và bao vây quảng trường bằng một hàng rào người kép hai lớp. Tất cả diễn ra thật nhanh chóng, lặng lẽ, chính xác — tựa như một cỗ máy được vận hành hoàn hảo.
Lúc này đã là giờ ngọ. Hai tiếng đồng hồ tĩnh lặng và chờ đợi trôi qua. Sau đó, xe cộ bắt đầu nối đuôi nhau lướt qua để đưa hai, ba trăm nhân vật hoàng gia và giới quý tộc cao cấp được đặc quyền bước vào nhà thờ. Tiếp đến, quảng trường kín chỗ; không phải bởi thường dân, mà bởi các sĩ quan lục quân và hải quân trong bộ quân phục rực rỡ và đẹp mắt. Họ lấp đầy không gian, chỉ để lại một lối đi hẹp dành cho xe cộ phía trước nhà thờ, nhưng tuyệt nhiên không có bóng dáng thường dân nào trong số họ. Và như thế lại hay hơn; những bộ trang phục tẻ nhạt sẽ làm vẩn đục khung cảnh rực rỡ ấy. Trong đám đông chen chúc trước nhà thờ, trên những bậc thềm và vỉa hè là một cụm quân phục tạo thành một vết màu rực cháy — đỏ đậm, vàng và trắng — làm lu mờ đi vẻ chói lọi xung quanh; và đối diện với họ ở bên kia lối đi là một cụm những chiếc lông vũ màu xanh lá sáng rực rỡ thả rủ trên những bờ vai xanh nhạt, tạo nên một điểm nhấn lộng lẫy và nổi bật giữa khung cảnh rực ngời xung quanh. Đó là một biển màu lấp lánh khắp nơi, nhưng hai nhóm này chính là những nốt cao trào. Những chiếc lông vũ màu xanh lá được đeo bởi bốn mươi hoặc năm mươi vị tướng lĩnh Áo, nhóm đối diện họ chủ yếu là các Hiệp sĩ Malta và các hiệp sĩ thuộc một huân chương của Đức. Biển đầu người trong quảng trường được che phủ bởi những chiếc mũ giáp mạ vàng và mũ quân đội có vành nhẵn như gương, và chuyển động của những người đội khiến chúng bắt lấy những tia nắng, tạo nên một hiệu ứng tuyệt đẹp — quảng trường trông giống như một khu vườn hoa rực rỡ màu sắc với vô số mặt trời nhỏ lóa mắt và chói lọi được rải khắp nơi.
Hãy nghĩ mà xem — chính theo mệnh lệnh của tên lưu manh người Ý đang ngồi trên ngai vàng đế quốc trong nhà tù Geneva ấy mà đám đông lộng lẫy này đã tụ họp tại đây; và những vị vua và hoàng đế đang bước vào nhà thờ từ một con phố bên cạnh cũng có mặt ở đó theo ý muốn của hắn. Thật kỳ lạ, thật khó có thể tưởng tượng nổi.
Vào lúc ba giờ, xe cộ vẫn tiếp tục nối đuôi nhau chảy qua. Lúc ba giờ năm phút, một vị hồng y đến cùng các tùy tùng; sau đó là một vài giám mục; rồi đến một số tổng phó tế — tất cả đều khoác lên mình những màu sắc nổi bật làm tăng thêm vẻ hoành tráng. Lúc ba giờ mười phút, một đoàn linh mục đi qua, mang theo cây thánh giá. Lại một đoàn nữa, chẳng mấy chốc; sau một khoảng nghỉ, thêm hai đoàn nữa; lúc ba giờ năm mươi phút lại một đoàn nữa — rất dài, với nhiều thánh giá, áo lễ thêu vàng và rất nhiều ren trắng; cùng những lá cờ lớn có thêu hình ảnh, cách quãng nhau, kéo dài tận vào cõi xa xăm.
Tiếng chuông tang vang lên rì rào, nhưng không quá sắc nhọn. Lúc ba giờ năm mươi tám phút là một khoảng thời gian chờ đợi. Chẳng mấy chốc, một đoàn quý ông mặc đồ dạ hội xuất hiện trong tầm mắt và tiến lại gần cho đến sát quảng trường, rồi lùi lại nép vào bức tường binh lính bên vỉa hè, và những chiếc áo sơ mi trắng hiện rõ như những bông tuyết, vô cùng nổi bật giữa một vùng rực rỡ sắc màu ấm áp.
Một khoảng lặng chờ đợi. Lúc bốn giờ mười hai phút, phần đầu của đoàn đưa tang cuối cùng cũng xuất hiện trong tầm mắt. Đầu tiên là một đội kỵ binh, bốn người một hàng, để mở rộng lối đi. Tiếp theo là một lực lượng lớn kỵ binh lăng-xê, mặc áo xanh, đội mũ giáp mạ vàng. Kế đến là ba chiếc xe tang chở tang chủ loại sáu ngựa kéo; người đánh xe và kẻ tùy tùng mặc đồ đen, đội mũ tam giác và tóc giả màu trắng. Sau đó là cácq quân đội trong những bộ quân phục lộng lẫy, đỏ, vàng và trắng, vô cùng hoa lệ.
Lúc này đám đông đồng loạt bỏ mũ. Binh lính giơ súng chào; tiếng trống trầm đục vang lên; chiếc xe tang lớn xa hoa tiến lại gần, được kéo chậm rãi bởi tám con ngựa đen trên đầu cài những chùm lông đà điểu đen cúi gật; cỗ quan tài được khiêng vào trong nhà thờ, cánh cửa đóng lại.
Đám đông đội mũ lên đầu, và phần còn lại của đoàn đưa tang di chuyển qua; trước tiên là Đội cận vệ Hungary trong bộ quân phục đẹp đẽ, nên thơ và rực rỡ không bút nào tả xiết, được thừa hưởng từ thời đại của sự lộng lẫy dã man, và theo sau họ là các lực lượng kỵ binh khác, một đội ngũ dài và hoành tráng.
Rồi chiếc vương miện tỏa sáng trong quảng trường vỡ vụn ra, như một chiếc cầu vồng đổ nát, và tan chảy thành những dòng chảy rực rỡ, để rồi chỉ trong chớp mắt, ba đứa trẻ lang thang ở khu ổ chuột rách rưới, bẩn thỉu và vui vẻ nhất nước Áo lại đang nhảy múa tung tăng giữa khoảng không gian rộng thênh thang ấy. Đó là một ngày của những sự tương phản.
Đã hai lần Hoàng hậu tiến vào Vienna một cách long trọng. Lần đầu tiên là vào năm 1854, khi nàng là một cô dâu mười bảy tuổi, và khi ấy nàng cưỡi ngựa trong sự xa hoa vô tận cùng tiếng kèn vang dội qua một thế giới phấp phới cờ hoa trang hoàng, dọc theo những con đường với hai bên là những bức tường chen chúc thần dân đang hò reo chào đón; và lần thứ hai là vào thứ Tư tuần trước, khi nàng tiến vào thành phố trong chiếc quan tài và di chuyển qua chính những con đường ấy vào giữa đêm sâu dưới những lá cờ đen phấp phới, lại giữa những bức tường người chen chúc một lần nữa; nhưng khắp nơi giờ đây là một sự tĩnh lặng sâu sắc — một sự tĩnh lặng được nhấn mạnh, chứ không bị phá vỡ, bởi tiếng móng ngựa trầm đục của đoàn kỵ binh dài trên những mặt đường lót cát, và tiếng sụt sùi khe khẽ của những người phụ nữ tóc điểm sương từng chứng kiến lần nhập thành đầu tiên ấy bốn mươi bốn năm trước, khi nàng và họ còn trẻ trung — và vô tư lự!
Một nhân vật trong vở kịch thần tiên gần đây “Habsburg” của Nam tước von Berger đã kể về lần đầu tiên đến của vị Nữ hoàng-Hoàng hậu thiếu nữ ấy, và trong câu chuyện của mình đã phác họa nên một bức tranh tuyệt đẹp: Tôi không thể dịch sát từng chữ được, nhưng sẽ cố gắng truyền tải cái hồn của những vần thơ ấy:
Ta thấy đoàn người uy nghi diễu bước:
Nơi cao sang ấy, ta thấy Nữ hoàng-Hoàng hậu:
Ta chẳng thể dời mắt nổi
Khỏi bóng hình kiều diễm ấy, thanh tao tựa cõi tiên,
Hiện lên thật điềm tĩnh, siêu phàm và hóa thân trong tâm tưởng ta
Như một đỉnh Alp cao vời vợi ngời sáng giữa bầu trời xanh,
Khi dòng suối ban mai xé toạc lớp mây mù
Và sừng sững hiện ra tựa giấc mơ vinh quang trước mắt
Của những kẻ đang lom khom nhọc nhằn chốn Thung lũng.