Đã lâu lắm rồi tôi mới đặt chân trở lại Thụy Sĩ. Vào cái thời xa vắng ấy, cả nước chỉ có đúng một tuyến đường sắt bánh răng. Giờ đây, mọi chuyện đã đổi khác hoàn toàn. Chẳng còn ngọn núi nào ở Thụy Sĩ mà không có lấy một hoặc hai đường ray leo núi vắt vẻo sau lưng trông như chiếc quần yếm; thậm chí, có những ngọn núi chằng chịt vết tích của chúng, và chỉ hai năm nữa thôi, toàn bộ các đỉnh núi đều sẽ như vậy. Đến thời đó, những người nông dân sống trên các vùng cao nguyên sẽ phải mang theo đèn lồng mỗi khi đi thăm hỏi vào ban đêm để tránh vấp phải những đường ray vừa được xây lên kể từ lần dạo chơi gần nhất của họ. Và cũng vào thời đó, nếu vẫn còn sót lại một nông dân miền cao nào mà mảnh vườn trồng khoai tây chưa có đường ray chạy qua, thì điều đó sẽ khiến anh ta trở nên nổi bật chẳng kém gì William Tell.
Tuy nhiên, du ngoạn Thụy Sĩ tuyệt nhất vẫn chỉ có hai cách. Cách tuyệt nhất thứ nhất là đi bộ. Cách tuyệt nhất thứ hai là ngồi xe ngựa mui trần kéo hai con ngựa. Ngày nay, người ta có thể đi từ Lucerne đến Interlaken qua đèo Brunig bằng đường sắt bánh răng chỉ trong khoảng một tiếng đồng hồ, nhưng nếu đi xe ngựa, bạn có thể thong thả lướt đi trong mười tiếng, và có hẳn hai tiếng để ăn trưa vào giữa ngày — ăn trưa nhé, chứ không phải để nghỉ ngơi. Chuyến đi hoàn toàn không có chút mệt mỏi nào. Người ta đến nơi vào buổi chiều tối với tinh thần và thân thể hoàn toàn tươi tỉnh — lòng không vướng bận âu lo, mặt không vương chút bụi trần, tóc không dính hạt cát, và mắt không một hạt bụi than. Đây mới chính là trạng thái tâm hồn và thể xác đúng đắn, là sự chuẩn bị trọn vẹn và xứng đáng cho khoảnh khắc trang nghiêm khép lại một ngày — bước đến với chiếc mũ ngầm bỏ kính cẩn trước khối núi vĩ đại và ấn tượng nhất mà quả địa cầu này có thể bày tỏ: đỉnh Jungfrau. Cảm xúc đầu tiên của kẻ lữ hành khi bất chợt đối mặt với hiện thân sừng sững, uy nghiêm ấy trong tấm khăn tang bằng tuyết chính là sự kinh ngạc đến nghẹt thở. Tựa hồ như cổng thiên đường vừa mở tung để lộ ra ngai vàng vậy.
Nơi đây, Interlaken thật yên bình và dễ chịu. Chẳng có gì diễn ra cả — ít nhất là chẳng có gì ngoài những tia nắng rực rỡ ban sự sống. Ánh nắng tràn ngập, vô tận. Ta hoàn toàn có thể gọi đó là “đang diễn ra”, bởi nó mang đậm nhịp điệu của sự sống động; ánh sáng tuôn trào đầy năng lượng, với một sự nhiệt tình hữu hình. Đây là một bầu không khí tuyệt vời để sống, cả về mặt đạo đức lẫn thể chất. Sau khi trải qua bầu không khí chính trị của các chế độ quân chủ láng giềng, thật là chữa lành và sảng khoái biết bao khi được hít thở bầu không khí chưa từng bị vấy bẩn bởi ách nô lệ suốt sáu trăm năm, và được hòa mình vào một dân tộc có lịch sử chính trị vĩ đại, cao đẹp, rất đáng được giảng dạy ở mọi trường học và nghiên cứu bởi mọi chủng tộc, mọi dân tộc. Bởi vì cuộc đấu tranh ở đây qua bao thế kỷ chưa bao giờ vì lợi ích của bất kỳ gia đình tư nhân nào, hay của bất kỳ giáo hội nào, mà là vì lợi ích của toàn thể quốc dân, và để che chở, bảo vệ cho mọi hình thức tín ngưỡng. Thực tế ấy quả là vĩ đại vô song. Nếu muốn nhận thức được sự vĩ đại vô song ấy, cùng với phẩm giá và sự uy nghiêm của nó, hãy thử đặt lên bàn cân so sánh với các mục đích và ý đồ của các cuộc Thập tự chinh, cuộc vây hãm York, Cuộc chiến Hoa hồng, cùng những vở hài kịch lịch sử mang tầm vóc và loại hình tương tự.
Tuần trước, tôi đã đi vòng quanh Hồ Bốn Bang và tận mắt nhìn thấy Rutli cùng Altorf. Rutli chỉ là một khoảng đồng cỏ nhỏ bé hẻo lánh, nhưng tôi không hiểu sao có mảnh đất nào lại có thể thiêng liêng hơn hoặc đáng công vượt đại dương, băng qua các lục địa để đến xem hơn thế, bởi chính nơi đây, bộ ba vĩ đại của Thụy Sĩ đã nắm chặt tay nhau sáu thế kỷ trước để thề nguyền đem lại sự tự do vĩnh viễn cho đất nước bị xiềng xích và lăng mục của họ; còn Altorf cũng là một vùng đất đáng kính và tôn nghiêm, bởi chính nơi đây, William, mang biệt danh là Tell (dịch ra có nghĩa là “Kẻ ba hoa” — ý nói kẻ ăn nói quá gan lỳ), đã từ chối cúi đầu trước chiếc mũ của Gessler. Những năm gần đây, những học giả lịch sử hay soi mói đã vô cùng thích thú trước một phát hiện kỳ diệu mà họ tìm ra — đó là việc Tell không hề bắn quả táo trên đầu con trai mình. Nghe bọn học giả reo hò mừng rỡ, người ta cứ ngỡ chuyện Tell bắn hay không bắn quả táo là một vấn đề vô cùng trọng đại; trong khi thực tế, tầm quan trọng của nó chẳng khác gì câu hỏi liệu Washington có chặt cây anh đào hay không. Những chiến công của Washington, người anh hùng ái quốc, mới là điều cốt lõi; còn sự kiện cây anh đào hoàn toàn chẳng có chút hệ trọng nào. Việc chứng minh rằng Tell thực sự đã bắn quả táo trên đầu con trai ông cũng chỉ chứng minh được rằng ông có thần kinh thép hơn người hầu hết mọi người và bắn cung giỏi chẳng kém một triệu kẻ đi trước và theo sau ông, chứ chẳng hơn mảy may nào. Nhưng Tell vĩ đại hơn và tuyệt vời hơn một tay thiện xạ đơn thuần, vĩ đại hơn và tuyệt vời hơn một cái đầu lạnh bình thường; ông là một biểu tượng; ông đại diện cho lòng yêu nước của người Thụy Sĩ; nhân cách của ông chính là đại diện cho cả một dân tộc; tinh thần của ông chính là tinh thần của họ — tinh thần không chịu cúi đầu trước bất kỳ ai ngoài Thượng đế, tinh thần đã cất lên thành lời và khẳng định bằng những hành động cụ thể. Ở Thụy Sĩ từ xưa đến nay vẫn luôn có những con người như Tell — những kẻ không chịu cúi đầu. Đã có rất nhiều người như thế tại Rutli; có rất nhiều tại Murten; rất nhiều tại Grandson; và ngày nay vẫn có rất nhiều. Và người đầu tiên trong số đó — chính vị người tiên phong đầu tiên, người giương cao ngọn cờ tự do nhân loại sớm nhất trên thế giới này — lại không phải là đàn ông, mà là một người phụ nữ: vợ của Stauffacher. Bà hiện lên mờ ảo và vĩ đại qua lớp sương mù của các thế kỷ, truyền vào tai chồng mình thứ phúc âm nổi dậy mà sau này sẽ đơm hoa kết trái trong âm mưu ở Rutli và sự ra đời của chính phủ tự do đầu tiên mà thế giới từng chứng kiến.
Từ khách sạn Victoria này, phóng tầm mắt thẳng qua một dải đất bằng phẳng rộng chẳng đáng là bao là một bức tường núi cao ngất, khoét một khung cửa hình kim cương ngược. Phía bên kia khung cửa ấy, khối đồ sộ của đỉnh Jungfrau vươn mình vào bầu trời như một cõi tuyết trắng tinh khiết lấp lánh. Khung cửa sổ nằm giữa bức tường sẫm màu tạo thành một chiếc khung hoàn hảo cho bức tranh vĩ đại. Khung cảnh tối tăm và đống tuyết rực sáng tạo nên một sự tương phản đến giật mình. Chính chiếc khung này đã gom tụ và tôn vinh vẻ rực rỡ của đỉnh Jungfrau, biến nơi đây thành một cảnh quan lôi cuốn, mê hoặc và quyến rũ bậc nhất trên mặt đất. Có rất nhiều ngọn núi tuyết cao ngất ngưởng chẳng kém Jungfrau và cũng có tỷ lệ kỳ vĩ không kém, nhưng chúng lại thiếu đi chiếc khung ấy. Chúng đứng trơ trọi giữa trời; bị lấn át và chèn ép bởi những mái vòm và đỉnh núi lân cận, khiến vẻ vĩ đại bị lu mờ và không đạt được hiệu quả thị giác trọn vẹn.
Jungfrau — Trinh Nữ, quả là một cái tên hay. Không gì có thể trắng hơn; không gì có thể tinh khiết hơn; không gì có thể mang vẻ thánh thiện hơn thế. Vào lúc sáu giờ chiều ngày hôm qua, bức tường chắn trùng điệp ẩn hiện sau lớp sương mù xanh nhạt trông nhẹ bẫng như mây và chẳng hề có trọng lượng, mềm mại và đẫm đầy nhường nào, lấp lánh lung linh ở những điểm ánh sáng vơ vẩn chạm vào và mờ ảo ở những chốn bóng râm ngự trị. Thoạt nhìn, nó giống như một chất liệu của giấc mơ, một sản phẩm của trí tưởng tượng, chẳng có chút gì là thực tế. Tông màu chủ đạo là xanh lục, với những sắc thái đậm nhạt khác nhau đôi chút, nhưng phần lớn là màu rất sậm. Mặt trời đã lặn — ít ra là đối với bức tường chắn ấy, nhưng chưa lặn đối với đỉnh Jungfrau đang vươn cao ngất trời phía bên kia khung cửa. Nàng tựa như một ngọn lửa rực cháy với ánh sáng trắng lóa mắt.
Người ta kể rằng tu sĩ Fridolin (Fridolin già), một vị thánh mới nhưng trước đây từng là nhà truyền giáo, đã đặt cho ngọn núi cái tên đầy ân huệ ấy. Ông là người Ireland, con trai của một vị vua Ireland — vào thời của ông, cách đây một nghìn rưỡi năm, chỉ riêng ở hạt Cork đã có tới ba mươi nghìn vị vua cai trị. Mọi chuyện dần trở nên khó khăn đến mức họ không thể kiếm nổi miếng ăn, sự cạnh tranh quá khốc liệt khiến tiền lương bị hạ thấp. Có những vị vua phải thất nghiệp suốt mấy tháng ròng, vợ con đói kém mà trong nhà chẳng còn nổi một mẩu bánh mì. Cuối cùng, một mùa đông khắc nghiệt bất thường giáng xuống đất nước, hàng trăm người trong số họ rơi vào cảnh ăn mày và người ta có thể bắt gặp họ ngày này qua ngày khác trong cái lạnh cắt da cắt thịt, đứng chân trần trên tuyết, giơ những chiếc vương miện của mình ra để xin bố thí. Quả thực, nếu không có một ý tưởng may mắn của hoàng tử Fridolin — người đã đứng ra thành lập một công đoàn lao động, tổ chức đầu tiên trong lịch sử, và chiêu mộ đại đa số họ gia nhập — thì họ đã buộc phải di cư hoặc chết đói rồi. Nhờ vậy, ông đã giành được lòng biết ơn chung, và họ muốn suy tôn ông làm hoàng đế — hoàng đế của tất cả bọn họ — hoàng đế của hạt Cork, nhưng ông từ chối, bảo rằng làm đại diện công đoàn đi lại là quá đủ đối với ông rồi. Bởi vì ngài vốn dĩ khiêm nhường vượt tuổi tác và vô cùng sắc sảo! Cho đến tận ngày nay ở Đức và Thụy Sĩ, nơi thánh Fridolin được kính trọng và tôn vinh, người dân quê vẫn trìu mến gọi ông là vị đại diện công đoàn đầu tiên.
Chuyến đi bộ đầu tiên của ông là sang Pháp và Đức để đi truyền giáo — vì công cuộc truyền giáo thời đó có vẻ thuận lợi và đem lại phần thưởng lớn hơn thời chúng ta bây giờ. Tất cả những gì bạn phải làm là chữa khỏi bệnh cho cô con gái ốm đau của tù trưởng bộ tộc bằng một “phép lạ” — một phép lạ tựa như phép lạ ở Lourdes thời nay chẳng hạn — và ngay lập tức vị tù trưởng đó trở thành tín đồ của bạn, mắt tràn ngập sự nhiệt thành của một tân tòng. Giờ thì bạn có thể ngồi xuống và thảnh thơi được rồi. Chính hắn ta sẽ cầm rìu đi cải đạo phần còn lại của bộ tộc. Charlemagne cũng chính là kiểu đại diện công đoàn như thế.
Vả lại, thời đó quả có những nhà truyền giáo vĩ đại, bởi phương pháp thì chắc chắn mà phần thưởng lại vô cùng hậu h hĩnh. Thời nay chúng ta chẳng còn những nhà truyền giáo như thế, và cũng chẳng còn phương pháp nào như vậy nữa.