Các sử gia “cho rằng” Shakespeare từng theo học Trường Ngữ pháp miễn phí ở Stratford từ năm bảy tuổi cho đến khi lên mười ba. Thực tế, không hề có một chút bằng chứng nào cho thấy cậu từng đi học.
Các sử gia “suy luận” rằng cậu đã học tiếng Latinh ở ngôi trường đó—ngôi trường mà họ “cho rằng” cậu từng theo học.
Họ “cho rằng” gia cảnh sa sút của người cha đã buộc cậu phải rời khỏi ngôi trường mà họ tưởng tượng, để ra làm việc phụ giúp cha mẹ cùng mười người anh em. Song, chẳng có lấy một bằng chứng nào cho thấy cậu từng bước chân vào hay bước chân ra khỏi ngôi trường ấy.
Họ “cho rằng” cậu đã phụ giúp cha trong nghề mổ xẻ gia súc; và vì tuổi hãy còn nhỏ, cậu không phải làm những việc mổ xẻ của người lớn, mà chỉ giết bê mà thôi. Hơn nữa, cứ mỗi lần hạ sát một con bê là cậu lại cất lời hùng biện hoa mỹ. Giả thuyết này dựa trên lời kể của một người vốn chẳng có mặt ở đó vào thời điểm ấy; một kẻ nghe lại từ một người lẽ ra có thể có mặt, nhưng lại chẳng thèm nói rõ là mình có ở đó hay không; và chẳng ai trong số họ nghĩ đến việc nhắc lại chuyện này cho đến tận nhiều chục, nhiều chục, rồi lại nhiều chục năm, và thêm hai chục năm nữa sau khi Shakespeare qua đời (tận đến khi tuổi già và sự suy sụp trí tuệ đã làm tươi mới và minh mẫn lại ký ức của họ). Họ chẳng có nổi hai sự thật trong tay về vị danh nhân đã khuất từ lâu ấy, mà chỉ có độc một chuyện: cậu ta giết bê và tuôn ra những lời hùng biện trong lúc làm việc. Lạ lùng thay. Họ chỉ có đúng một sự thật, thế mà vị danh nhân nọ đã trải qua tới hai mươi sáu năm ở cái thị trấn nhỏ bé ấy—đúng bằng một nửa cuộc đời mình. Dẫu vậy, nếu nhìn nhận cho đúng, đó lại là sự thật quan trọng nhất, quả thực gần như là sự thật duy nhất trong cuộc đời Shakespeare ở Stratford. Nhìn nhận cho đúng vậy. Bởi kinh nghiệm chính là tài sản quý giá nhất của một nhà văn; kinh nghiệm là thứ thổi sức mạnh, hơi thở và dòng máu ấm áp vào cuốn sách mà họ viết ra. Nhìn nhận cho đúng, nghề mổ bê chính là lời giải thích cho “Titus Andronicus”, vở kịch duy nhất—phải thế không?—mà Shakespeare người Stratford từng viết; vậy mà đó lại là vở kịch duy nhất mà tất cả mọi người đều tìm cách tước đoạt khỏi tay ông, kể cả những người theo thuyết Baconian.
Các sử gia thấy mình “có căn cứ để tin rằng” chàng thanh niên Shakespeare từng bén mẩn săn trộm hươu trong khu rừng của Ngài Thomas Lucy và bị tống cổ trước vị thẩm phán vì tội danh đó. Nhưng chẳng có lấy một mảnh bằng chứng đáng tin cậy nào cho thấy điều tương tự đã từng xảy ra.
Các sử gia, sau khi ngụy biện sự việc lẽ ra có thể xảy ra thành sự việc thực sự đã xảy ra, liền chẳng gặp chút khó khăn nào trong việc biến Ngài Thomas Lucy thành Quan tòa Shallow. Từ lâu, họ đã thuyết phục được cả thế giới—dựa trên những lời đoán mò và hoàn toàn thiếu vắng bằng chứng xác thực—rằng Shallow chính là Ngài Thomas.
Bước bổ sung tiếp theo cho cuốn tiểu sử thời trẻ của Shakespeare ở Stratford diễn ra thật dễ dàng. Sử gia dựng nên nó từ vụ ăn trộm hươu được phỏng đoán, từ phiên tòa trước vị thẩm phán được phỏng đoán, và từ vở kịch chứa tràng châm biếm nhắm vào vị thẩm phán xuất phát từ sự thù hằn được phỏng đoán: kết quả là, chàng thanh niên Shakespeare là một tay du thủ du thực hoang đàng, hoang đàng, vô cùng hoang đàng, ôi chao là hoang đàng, và sự vu khống vô căn cứ đó đã được mặc nhiên công nhận muôn đời! Đó chính là cách mà Giáo sư Osborn và tôi đã dựng nên bộ xương khổng lồ của con khủng long sấm dài tới năm mươi bảy thước và cao mười sáu thước đang trưng bày tại Bảo tàng Lịch sử Tự nhiên, là nỗi kinh hoàng và niềm thán phục của toàn thế giới, bộ xương oai vệ nhất hiện tồn trên hành tinh này. Chúng tôi chỉ có đúng chín khúc xương, và phần còn lại thì đắp bằng thạch cao Paris. Chúng tôi suýt cạn sạch thạch cao Paris, bằng không thì đã dựng nên một con khủng long sấm có thể ngồi lù lù bên cạnh Shakespeare người Stratford mà chẳng chuyên gia nào có thể phân biệt nổi con nào to hơn hay chứa nhiều thạch cao hơn.
Shakespeare từng tuyên bố “Venus và Adonis” là “đứa con đầu lòng của trí tưởng tượng”, rõ ràng ngụ ý rằng đó là nỗ lực sáng tác văn chương đầu tay của ông. Lẽ ra ông không nên nói thế. Điều đó đã trở thành niềm cay đắng cho các sử gia của ông suốt bao nhiêu, bao nhiêu năm trời. Họ buộc phải ép ông viết bài thơ duyên dáng, trau chuốt, hoàn mỹ và đẹp đẽ ấy trước khi rời khỏi Stratford và gia đình—vào khoảng năm 1586 hoặc 1587—khi ấy tuổi đời vừa tròn đôi mươi, hoặc xấp xỉ thế; bởi vì trong vòng năm năm tiếp theo, ông đã viết liền năm vở kịch lớn, và tuyệt đối không thể tìm đâu ra thời gian để viết thêm dù chỉ một dòng.
Quả là vô cùng ngượng ngùng. Nếu ông bắt đầu mổ bê, săn trộm hươu, ăn chơi lêu lổng và học tiếng Anh ngay từ thời điểm sớm nhất có thể—giả sử là lúc mười ba tuổi, khi ông bị phỏng đoán là đã phải dứt khỏi ngôi trường nơi ông được phỏng đoán là đang tích lũy tiếng Latinh cho việc sáng văn chương sau này—thì đôi tay thời trẻ của ông đã bận rộn ngập đầu, thậm chí là quá tải. Chắc chắn ông đã phải gác lại phương ngữ Warwickshire—thứ tiếng chẳng ai ở London hiểu nổi—để cặm cụi học tiếng Anh. Học một cách cực kỳ chăm chỉ; chăm chỉ đến mức khó tin, hầu như là thế, nếu kết quả của sự nhọc nhằn đó là một thứ tiếng Anh trôi chảy, tròn trịa, uyển chuyển và hoàn hảo đến từng chữ trong “Venus và Adonis” chỉ trong vỏn vẹn mười năm; đồng thời lại lĩnh hội được một hình thức văn chương vĩ đại, cao nhã và không gì sánh bằng.
Dẫu vậy, người ta vẫn “phỏng đoán” rằng ông đã làm được tất cả những điều ấy và hơn thế nữa, thậm chí còn nhiều hơn thế: am hiểu luật pháp cùng những rắc rối phức tạp của nó; thông thạo thủ tục rườm rà tại các tòa án; biết tuốt tuồn tuột về binh nghiệp, nghề thủy thủ, cũng như lề thói, phong tục và cung cách của hoàng gia cùng giới quý tộc; đồng thời thu nạp vào bộ óc duy nhất của mình mọi thứ tri thức mà người có học thời đó từng sở hữu, cùng mọi thứ hiểu biết khiêm nhường của tầng lớp hạ lưu và vô học; chưa hết, ông còn bồi đắp cho mình một vốn hiểu biết sâu rộng và mật thiết hơn bất cứ ai cùng thời về nền văn học vĩ đại cổ kim trên thế giới—bởi vì ngay khi đặt chân đến London, ông sẽ sử dụng những kho tàng rực rỡ đó một cách thật tài tình, dễ dàng và đầy thán phục. Và theo lời những kẻ đoán mò, đó chính là những gì ông đã làm. Vâng, mặc dù chẳng có lấy một ai ở Stratford đủ khả năng dạy cho ông những điều đó, và cũng chẳng có bất kỳ thư viện nào ở cái làng nhỏ bé ấy để ông có thể mài mò tìm kiếm. Cha ông thậm chí còn chẳng biết đọc, và ngay cả những kẻ đoán mò cũng phải phỏng đoán rằng ông cụ chẳng đời nào lập nổi một thư viện.
Các nhà tiểu sử học phỏng đoán rằng chàng thanh niên Shakespeare đã thâu tóm lượng kiến thức khổng lồ về luật pháp cùng sự am hiểu tường tận, chính xác về lề thói, phong tục và tiếng lóng của giới luật sư nhờ từng có thời gian làm chân thư ký cho một tòa án ở Stratford; hệt như một cậu bé thông minh nào đó lớn lên ở một ngôi làng bên bờ sông Mississippi, hoàn toàn có thể trở thành chuyên gia sừng sỏ về nghề săn cá voi ở eo biển Bering và thông thạo tiếng lóng của những cựu binh trong ngành nghề đầy rẫy hiểm nguy ấy chỉ bằng cách câu cá trê bằng “dây câu chăng” vào các ngày Chủ nhật. Nhưng phỏng đoán ấy đã sứt mẻ ít nhiều trước thực tế rằng chẳng có lấy một bằng chứng—thậm chí là một lời đồn thổi—nào cho thấy chàng thanh niên Shakespeare từng làm thư ký tòa án.
Người ta lại còn phỏng đoán rằng chàng thanh niên Shakespeare đã vơ vét những vốn liếng luật học ấy trong những năm đầu tá túc ở London, bằng cách “tự khuây khỏa” bằng việc học luật sách vở trên căn gác mái của mình, rồi lượm lặt tiếng lóng của luật sư cùng đủ thứ khác bằng cách la cà quanh các tòa án và lắng nghe. Nhưng đó cũng chỉ là phỏng đoán; chẳng có bằng chứng nào cho thấy ông từng làm một trong hai việc đó. Chúng chỉ là dăm cục thạch cao Paris mà thôi.
Lại có truyền thuyết kể rằng ông kiếm miếng ăn bằng cách dắt ngựa hộ khách trước các nhà hát ở London vào các buổi sáng và buổi chiều. Có lẽ ông đã làm thế thật. Nếu đúng vậy, điều đó đã bóp nghẹt một cách nghiêm trọng thời gian học luật và giờ phút giải trí của ông tại các tòa án. Chính vào những ngày tháng đó, ông đang viết những vở kịch lớn, và cần quái gì thời gian để làm những việc khác. Cái truyền thuyết dắt ngựa ấy cần phải bị bóp cổ cho chết đi; nó làm tăng thêm một cách đáng sợ những khó khăn của sử gia trong việc giải thích về sự bác học của chàng thanh niên Shakespeare—một sự bác học mà ông đã phải thu nạp, từng mẩu từng cục một, vào mỗi ngày trong suốt thời kỳ gian khổ ấy, rồi trút từng mẻ thu hoạch của ngày hôm đó vào kiệt tác kịch nghệ bất tử của ngày hôm sau.
Đồng thời, ông còn buộc phải trau dồi kiến thức về chiến tranh; cùng sự hiểu biết về binh lính, thủy thủ cùng lề thói và ngôn từ của họ; chưa hết là cả kiến thức về một vài vùng đất xa lạ cùng ngôn ngữ của họ nữa: bởi vì mỗi ngày ông vẫn đều đặn tuôn ra những dòng suối lưu loát chứa đầy đủ các loại tri thức ấy vào trong các vở kịch của mình. Vậy làm cách nào mà ông có được những tài sản phong phú đó?
Bằng con đường thông thường: bằng sự phỏng đoán. Người ta phỏng đoán rằng ông đã đi du lịch khắp Ý, Đức và nhiều nơi khác, tự trang bị cho mình khả năng đưa cảnh trí và xã hội của những chốn ấy lên trang giấy; rằng ông đã tựu thành sự thông thạo tiếng Pháp, tiếng Ý và tiếng Tây Ban Nha ngay trên đường đi; rằng ông đã tham gia vào viễn chinh của Leicester tới vùng Đất Thấp, với tư cách là lính tráng, kẻ cung cấp lương thực hay một chức vụ nào đó, trong vài tháng hoặc vài năm—hoặc bất kỳ khoảng thời gian nào mà một kẻ đoán mò cần cho công việc của mình—và nhờ thế mà trở nên quen thuộc với binh nghiệp, lề thói nhà binh, tiếng lóng quân ngũ, cùng nghệ thuật cầm quân, lề thói của tướng lĩnh, tiếng nói của tướng lĩnh, rồi cả nghề hàng hải, lề thói thủy thủ và tiếng lóng của thủy thủ.
Biết đâu ông đã làm tất cả những điều đó thật, nhưng tôi rất muốn biết trong lúc ấy thì ai là người dắt ngựa; ai là người cặm cụi nghiên cứu sách trên gác mái; và ai là kẻ rong chơi ở các tòa án để giải khuây. Thêm nữa, ai là người làm chân gọi việc và đóng kịch.
Bởi vì ông đã trở thành một chân gọi việc; và từ năm 93, ông đã trở thành một “tên du thủ du thực”—thuật ngữ cay nghiệt của luật pháp dành cho một diễn viên không có tên trong hiệp hội; và tới năm 94 thì trở thành một thành viên “chính thức” được ghi danh đàng hoàng, hợp pháp trong cái nghề nghiệp (vào thời đó) ít được coi trọng và chẳng mấy được kính trọng ấy.
Ngay sau đó không lâu, ông trở thành cổ đông của hai nhà hát, rồi lên làm quản lý của chúng. Kể từ đó, ông trở thành một doanh nhân bận rộn và phất lên như diều gặp gió, vơ vét tiền bạc bằng cả hai tay suốt hai mươi năm trời. Đoạn, trong cơn cuồng nộ cao cả của nguồn cảm hứng thi ca, ông đã viết nên bài thơ duy nhất của mình—bài thơ độc nhất vô nhị, đứa con cưng của ông—rồi nằm xuống và qua đời:
Good friend for Iesus sake forbeare
To digg the dust encloased heare:
Blest be ye man yt spares thes stones
And curst be he yt moves my bones.
Có lẽ ông đã chết rồi khi viết ra những dòng đó. Mặc dù vậy, đây cũng chỉ là phỏng đoán. Chúng ta chỉ có bằng chứng gián tiếp. Bằng chứng nội tại.
Tôi có nên ghi lại nốt những Giả Đoán còn lại cấu thành nên Bộ tiểu sử vĩ đại về William Shakespeare này nữa không? Sức mấy mà cuốn Từ điển Đại toàn thư chứa nổi chúng. Hắn ta chính là một con khủng long sấm: chín khúc xương và sáu trăm thùng thạch cao Paris.