“Thật là kỳ lạ,” Dorothea trầm ngâm nói, “những người sắp sửa làm một việc tốt đẹp nào đó thì luôn được tặng quà, còn những ai sắp phải làm một việc tồi tệ chẳng lấy gì làm vui vẻ thì chẳng bao giờ nhận được thứ gì, trong khi họ lại cần đến nó gấp đôi người khác.”
“Chẳng hạn như thế nào?” bố con bé hỏi, đặt tờ báo xuống và kéo con lên đùi, trong khi những thành viên còn lại chuẩn bị thể hiện sự hào hứng quen thuộc trước những lời nhận xét của cô út nhà mình.
“‘Cả nhà biết đấy, tuần sau là đi học rồi,’ Dorothea nói.”
“Thì đấy, hồi chị họ Edith đi châu Âu, tất cả chúng ta đều tặng quà để chị ấy mang theo, rồi lúc chị ấy trở về, khối người gửi hoa đến chúc mừng. Anita thì nhận được nào cốc chén các thứ kể từ lúc đính hôn, còn mùa xuân năm ngoái, khi Florence tốt nghiệp, hầu như cả nhà ai cũng tặng con bé một món quà; rồi lúc Mary Bowman làm lễ xưng tội rước lễ lần đầu, con bé được tặng một cuốn sách cầu nguyện bọc da trắng xinh xắn cùng một chiếc thánh giá và dây chuyền vàng. Thế mà khi người ta sắp phải làm cái việc mà họ ghét cay ghét đắng, họ lại bị bỏ mặc cho lạnh lẽo một mình.”

“Có việc gì mà con ghét thế hả Cục Cưng?” Florence hỏi.
“Thì đấy, mọi người biết đấy, tuần sau là trường học mở cửa trở lại rồi,” Dorothea nói. “Nó làm con thấy buồn sầu làm sao ấy, và con chẳng thấy có gì để vực dậy tinh thần hay làm cho nó trở nên thú vị đối với con cả.” Một nụ cười nhỏ thoắt ẩn thoắt hiện nơi khóe môi con bé, dẫu giọng điệu của nó thì thảm thiết hết mức có thể.
“Nếu em chuẩn bị vào trường nội trú—” Anita bắt đầu nói, vốn là người hay xem trọng mọi chuyện.
“Thì em đã có khối thứ,” Dorothea ngắt lời. “Quần áo mới, một cái hòm đựng đồ và một chiếc túi xách, rồi tất cả mọi người sẽ ra tiễn em, thế thì mới thú vị chứ. Đằng này em vẫn phải đầu tắt mặt tối làm việc chăm chỉ hệt như thế ở ngôi trường bán trú này, vậy mà em lại phải chịu đựng tất cả, hoàn toàn đơn độc một mình.”
Bố con bé véo tai nó, còn người anh trai cao lớn Jim thì ngỏ ý sẽ đặt một bó hồng lên bàn học ở trường của con bé nếu điều đó làm nó thấy khá hơn, trong khi hai người chị nhìn nhau như thể cả hai vừa cùng nảy ra một ý tưởng giống hệt.
Vào buổi sáng ngày đầu tiên đến trường, Dorothea bỗng giật mình tỉnh giấc bởi một tiếng reo leng keng thật lớn. Con bé ngồi bật dậy trên giường và dụi mắt. Căn phòng ngập tràn ánh nắng ban mai, những núm đồng trên chiếc giường chiếu sáng lấp lánh như đang tươi cười với nó và dường như muốn nói: “Dậy đi, dậy đi thôi!” Số là Dorothea vốn là một cô nàng “sâu ngủ” và hiếm khi chịu thức dậy ngay từ tiếng gọi đầu tiên. Thường thì phải mất ít nhất ba lần gọi từ mẹ hoặc các chị, đôi khi anh Jim còn phải lẻn vào và áp dụng chiêu “heo lạnh” — nghĩa là vẩy vài giọt nước lạnh buốt từ miếng bọt biển lên cổ con bé — thì nó mới chịu rời khỏi chiếc giường ấm áp của mình.
“Đó là một chiếc đồng hồ báo thức,” Dorothea nghĩ bụng. “Nhưng nó ở đâu nhỉ?” Đôi mắt ngái ngủ của con bé đảo quanh phòng nhưng chẳng thấy vật gì khác với đêm hôm trước cả. Tiếng leng keng lại vang lên một lần nữa. “Nó ở đâu đó trong căn phòng này!” con bé thốt lên, tung chăn nhảy biến xuống giường. Con bé tìm trên bàn trang điểm, bàn rửa mặt, tủ sách và bệ cửa sổ, rồi giật nảy mình khi tiếng leng keng đinh tai phát ra gần như từ ngay dưới chân nó. Con bé vội vã lật tấm vải rủ của chiếc bàn nhỏ kê gần cửa sổ lên, và kìa, ngay trên mép chiếc kệ phía dưới là một chiếc đồng hồ báo thức kiểu dáng thông thường nhưng trông khá kỳ cục nhờ một chiếc cổ áo bằng giấy màu vàng lớn vi quanh mặt đồng hồ.
“Nó chui vào đây bằng cách nào thế nhỉ?” Dorothea kinh ngạc thốt lên; và khi con bé còn đang ngẩn ngơ ngắm nghía, chiếc đồng hồ lại bỗng bùng lên một hồi leng keng inh ỏi nữa.
“Bộ nó không định ngừng cái trò đó lại sao?” con bé vừa nói vừa nhấc chiếc đồng hồ lên. Cái cổ áo màu vàng trông như có viết gì trên đó, thế là con bé tháo ra, trải phẳng phiu và đọc:
Dolly thân mến: Chúc ngày tựu trường vui vẻ! Sau khi cân nhắc rất kỹ lưỡng, anh đã chọn món này làm vật nhắc nhở thích đáng cho ngày kỷ niệm vui vẻ (?) này. Nó sẽ tiếp tục nhắc nhở em năm buổi sáng mỗi tuần, nhờ đó tiết kiệm cho gia đình mình biết bao sức lực và phiền toái, bởi vì nó sẽ luôn được lên dây cót và chỉnh giờ cẩn thận vào mỗi tối bởi
Người anh thương yêu của em,
Jim.
T.S. Khi em đã tỉnh ngủ hẳn, hãy gạt chiếc cần gạt và chuông báo thức sẽ tắt.
“Đúng là một trong những cái đồng hồ khủng khiếp cứ réo lên từng phút!” Dorothea vừa nói vừa cẩn thận quan sát để tìm cần gạt. Con bé suýt đánh rơi chiếc đồng hồ khi nó lại bắt đầu một hồi chuông dài và lớn nữa, nhưng rồi nó cũng mau chóng tìm thấy, gạt cần xuống và từ lúc đó chiếc đồng hồ trở nên im lặng ngoại trừ tiếng tí tách quen thuộc.
“Chắc là tôi chẳng thèm đòi ai tặng quà nữa đâu,” con bé vừa nói vừa liếc nhìn “vật nhắc nhở” của Jim với vẻ không mấy bằng lòng. Nhưng con bé lại đổi ý ngay sau đó khi tìm một chiếc khăn tay sạch và phát hiện ra một chiếc hộp dẹt hình vuông buộc ruy băng xanh. Mở hộp ra, con bé nhìn thấy nửa tá khăn tay viền xanh hẹp và thêu một chữ D nhỏ màu xanh ở góc. Phía trên cùng là tấm danh thiếp của chị họ Edith, mặt sau in những chữ kiểu cách:
Dolly thân mến: Hãy dùng khăn tay
Mỗi khi em chực sụt sùi cay mũi.
Nhưng với dải băng xanh này, chị nghĩ
Chúng chẳng cần thêm chấm mực lấm lem đâu.
Cả nhà luôn lấy làm khó hiểu không biết Dorothea đã làm gì với những chiếc khăn tay của mình khi đi học. Mặc cho con bé hết lần này đến lần khác thanh minh rằng nó không hề dùng khăn để lau bút, không dùng làm giấy thấm hay để rửa lọ mực; thế mà những vết mực đen hầu như vẫn luôn xuất hiện trên khăn, và Florence khăng khăng rằng gia đình phải mua thêm một pi-nt sữa mỗi ngày chỉ để giặt sạch đám vết mực ấy. Chị họ Edith ghé chơi thường xuyên đến mức nắm rõ mọi kế hoạch và trò đùa trong nhà, và Dolly, vừa cười vừa giũ tung một trong những chiếc khăn viền xanh ấy ra, tự nhủ rằng những “chấm mực lấm lem” tốt nhất nên vắng mặt, vì chị Edith thế nào cũng nhận ra ngay.

Con bé bước vào phòng ăn vừa lúc mọi người đang ngồi vào bàn.
“Hãy chiêm ngưỡng thành quả của sự hào phóng và chu đáo nơi ta đi!” Jim vừa hô lên vừa xua tay về phía con bé. “Cô út nhà chúng ta đã xuống kịp bữa sáng!”
“Chúc mừng ngày đặc biệt này nhé, cô em gái nhỏ,” Anita nói hệt như hôm nay là sinh nhật của con bé, đặt một nụ hôn chào buổi sáng lên má nó và nhét vội một gói quà nhỏ cứng cáp vào tay nó. “Bob gửi tặng em món này kèm theo tất cả tình cảm đấy.”
“Em chẳng phiền mấy với những ngày kỷ niệm nếu nó thế này,” Dorothea nói, vừa mở gói quà vừa lẹ làng liếc thấy mấy bọc giấy lụa đặt cạnh đĩa ăn của mình. Bên trong là một chiếc túi da sơn dương nhỏ, trượt ra một con dao dọc giấy nhỏ có cán bằng xà cừ. Tấm thiếp đi kèm ghi tên của vị anh rể tương lai, kèm theo những dòng thơ sau:
Anh ngần ngại chẳng dám trao
Con dao nhỏ bé này nào có hay
Chỉ e nếu đứt tay mày
Thì mày sẽ rạch cả tay anh liền.
“Bob mất bao lâu để nhặn ra kiệt tác ấy thế?” Jim hỏi khi Dorothea đọc to lên.
“Anh ghen tị chứ gì,” con bé đáp. “Quà của anh chẳng đáng một nửa so với của chị Edith và anh Bob. Chẳng có tí thơ thẩn nào cả.”
“Anh đã dồn hết sự hùng biện vào chính món quà của mình rồi còn gì,” Jim đáp lời, tự lấy cho mình một quả cam.
Dorothea chẳng thèm để ý đến anh nữa, vì con bé đang bóc một gói quà nhỏ được cố định bằng dây chun. Đó là một chiếc tẩy gắn bạc với một chiếc chổi nhỏ xíu ở một đầu. Mẩu giấy nhắn kèm theo viết:
Lời khuyên này phải nhắc hoài:
Tiếc gì nét tẩy hỏng hoài trang thơ.
Tốc độ mà chẳng kịp kìm, giơ,
Món này đúng bạn những giờ nguy nan.
Dolly hơi ngượng ngùng hòa vào nụ cười chung, gửi lời cảm ơn đến Florence — người mà nét chữ đã bị con bé nhận ra ngay. Con bé có tật hay trì hoãn việc nhà cho đến phút chót rồi mới làm cho thật nhanh hết mức có thể; những bài tập làm văn của nó thường gánh chịu biết bao lỗi bất cẩn mà nó luôn quá vội vàng không buồn sửa, trong khi các bức vẽ của nó thì thuộc về cái gọi là “phường chớp nhoáng” theo cách gọi của Jim.
“Nhìn lượng tẩy còn lại vào cuối kỳ là ta biết em có tiếp thu lời khuyên vàng ngọc của chị hay không đấy,” Florence nói. “Trong gói quà kia là gì thế Cục Cưng? Chị biết chắc đó là của Anita bởi vẻ ngoài vô cùng lịch thiệp của nó.”
“‘Chúc mừng ngày đặc biệt này nhé, cô em gái nhỏ,’ Anita nói.”
Dorothea mở một gói quà hình chữ nhật buộc ruy băng xanh lá và tìm thấy một bộ giấy thấm được gắn vào một bìa da lộn màu xanh sẫm, trang trí bằng họa tiết cắt thủ công hình cỏ bốn lá, kèm theo một miếng lau ngòi bút đồng bộ. Phía trên cùng là một mẩu giấy nhỏ viết bằng nét chữ nắn nót đẹp đẽ của Anita:
Chúc “Cô út” gặp nhiều may mắn và có một năm học thật vui vẻ.
“Chị không có năng khiếu làm thơ, thế nên em đành bằng lòng với văn xuôi bình thường vậy nhé,” Anita nói, và Dorothea trấn an rằng mình hoàn toàn mãn nguyện.
“Tám giờ rưỡi rồi đấy Dolly,” mẹ con bé nói khi bữa sáng kết thúc. “Con mau chuẩn bị xuất phát đi thôi.”
“Ôi, chưa đâu mẹ ơi,” Dorothea, chuyên gia lê la, nài nỉ. “Con chỉ mất có mười lăm phút thôi mà.”
“Này, nghe đây,” Jim lên tiếng; “cô tưởng mấy gã doanh nhân trẻ tuổi nhiệt huyết như bố và anh đây lại rảnh rỗi ngồi lố đến chuyến tàu lúc chín giờ để làm gì, nếu không phải để tiễn cô đi học? Bọn anh muốn tổ chức một lễ tiễn đưa thật hoành tráng cho cô hết mức có thể, vì cô sắp vắng bóng tận bốn tiếng đồng hồ cơ mà, nhưng bọn anh chịu thôi,—trừ phi cô chịu hợp tác và bắt đầu di chuyển sớm lên một chút. Anh đố cô gom đủ sách vở đấy.”
“‘Cho em mượn bút chì nhé, anh Jim?’ Dorothea nói.”
“Rồi chứ ạ,” Dorothea đắc thắng đáp. “Con để hết trên bàn ở sảnh rồi, tối qua con đặt ở đấy cơ mà. Ôi trời ơi!” con bé thảng thốt kêu lên với vẻ mặt ngơ ngác: “Con quên kiểm tra xem mình có bút chì nào không mất rồi! Chắc con chẳng có lấy một cái nào quá! Jim, cho em mượn bút của anh nhé? Chỉ hôm nay thôi.”
“Cho mượn tài sản quý giá nhất của anh á? Còn lâu nhé!” Jim nói, làm bộ đặt tay kịch tính lên túi áo ngực.
“Thế thì bố ơi, bố cho con mượn bút của bố nhé?”
“Đi mau lên, đi mau lên!” bố con bé giục; và Dorothea, chẳng hiểu sao mọi yêu cầu của mình lại cứ bị phớt lờ như thế, đành đội chiếc mũ thủy thủ rộng vành lên và bắt đầu gom sách vở. Nằm trên cùng chồng sách là một chiếc hộp nhỏ khảm gỗ đặt dưới tấm danh thiếp ghi dòng chữ: “Tặng Dolly, từ Bố”. Đẩy chiếc nắp trượt ra, Dorothea nhìn thấy bên trong hộp là một hàng bút chì được gọt giũa sắc bén đẹp đẽ, một tá ngòi bút và một chiếc quản bút bằng kim loại tối màu thanh mảnh.
“Ô!” con bé reo lên thích thú. “Thảo nào mà bố nhất quyết không cho con mượn bút chì!” rồi ôm chầm lấy bố.
“Mau lên nào,” Jim giục. “Đừng quên là chúng ta còn phải tự tiễn mình sau khi đã tiễn cô đi đấy nhé.”

“Sao con không mang túi xách?” Anita hỏi.
“Nó nhỏ quá không vừa cuốn Địa lý mới của em,” Dorothea đáp, đặt minh chứng to lớn rõ rệt cho bước tiến trong học tập ấy làm nền tảng cho số sách vở còn lại. “Hơn nữa, nó cũ quá rồi.”
“Tốt nhất hôm nay con vẫn nên mang nó đi, dù sao con cũng phải vác nhiều đồ thế cơ mà,” mẹ gợi ý. “Mẹ mang nó xuống dưới nhà rồi đấy, nó đang treo ở giá treo mũ kìa.”
“Con ghét cái túi đó lắm!” Dorothea bĩu môi quay người đi; rồi bỗng khựng lại vì ngạc nhiên, bởi thay vì chiếc cặp xách cũ rích nhỏ nhắn thường ngày, một chiếc cặp mới toanh cỡ lớn làm bằng da mềm màu nâu sẫm đang được treo lủng lẳng trên giá. Một mặt của chiếc cặp được trang trí bằng chữ lồng tên viết tắt của con bé nổi lên với màu vàng nâu, và nó đủ rộng để chứa cả cuốn sách Địa lý lớn nhất mà đời này con bé có khả năng phải học.
“‘Đến cổng, con bé quay lại vẫy tay.’”
“Ai tặng con cái này thế?” con bé kêu lên. “Ôi, con biết rồi — Mẹ! Đúng y sì cái con đang ao ước luôn. Con thấy đi học thế này tuyệt vời ông mặt trời ấy chứ!” con bé nói thêm trong lúc nhét những món đồ còn lại vào cặp.
“Tám giờ bốn mươi lăm phút rồi đấy!” Jim gọi cảnh báo.

“Được rồi, em đi đây,” Dorothea vui vẻ đáp rồi rướn người hôn tạm biệt tất cả mọi người.
“Thế ngày đầu đi học hóa ra cũng đâu đến nỗi ảm đạm lắm phải không nào?” bố cười hỏi.
“Ôi, tuyệt lắm bố ạ, tuyệt vời hết chỗ chê!” con bé hào hứng đáp. Đến cổng, con bé quay người lại vẫy tay chào đại gia đình đang đứng tụ tập, và mọi người cũng hăng hái vẫy tay chào lại; rồi vừa vung vẩy chiếc cặp, con bé vừa rảo bước chạy đi dọc con phố hướng về phía trường học.
Bố của Doris cho con bé một tờ năm đô-la, đúng là một khoản tiền lớn! Doris liền đến một ngân hàng lớn và hỏi xem họ có thể đổi tiền lẻ hộ cô bé được không. Viên nhân viên ngân hàng bảo anh nghĩ là được. Thế là anh đưa cho con bé hai tờ hai đô-la và một đồng đô-la bạc lớn. Tính ra là bao nhiêu nhỉ? Doris lại muốn đổi tiếp đồng đô-la bạc; thế là nhân viên ngân hàng hỏi liệu con bé muốn đổi lấy hai đồng năm mươi xu, hay một đồng năm mươi xu và hai đồng hăm lăm xu — hoặc có lẽ bốn đồng hăm lăm xu, hoặc mười đồng mười xu — hoặc hai mươi đồng năm xu — hay một trăm đồng xu lẻ.
Doris nghĩ một trăm đồng xu lẻ thì đếm với mang theo chắc mệt lắm, thế nên con bé bảo lấy hai đồng hăm lăm xu, ba đồng mười xu và bốn đồng năm xu vậy.
Con bé cất bốn đô-la vào ngân hàng, đó là hai tờ tiền giấy, và bỏ số tiền lẻ vào ví. Lúc đến cửa hàng, có trong tay ngận ấy tiền khiến con bé cứ nghĩ mình chẳng bao giờ tiêu hết nổi. Thế là con bé mua một hộp màu vẽ có hai chiếc đĩa pha màu nhỏ xíu giá 10 xu; trừ đi, con bé còn lại 90 xu; rồi mua tiếp một quả bóng bay cao su lớn giá 25 xu; còn lại 65 xu; mua thêm một quả nhỏ giá 10 xu; và rồi Doris húp trọn một bảng kẹo ngọt giá ba mươi xu. Trong số 25 xu còn lại, con bé mất 10 xu tiền đi xe điện.
Lúc về đến nhà, Doris mở hộp màu vẽ của mình ra. Đố bạn biết thế nào? Tất nhiên đó chỉ là một hộp màu rẻ tiền và màu thì cứng ngắc đến mức chẳng tài nào tô nổi. Doris cắt ra mấy con búp bê giấy, nhưng chúng chẳng khá hơn mấy tờ phụ san in màu của mấy tờ báo là mấy. Mẹ Doris bảo chỗ kẹo đó dở tệ chẳng ăn nổi, còn mấy quả bóng bay cao su thì nhăn nheo và mềm nhũn ra trong đêm vì khí ga đã thoát hết ra ngoài. Doris oà khóc khi nhìn thấy cảnh đó. “Bây giờ,” con bé nức nở, “con chẳng còn lại gì từ tờ đô-la xinh đẹp của mình ngoài 15 xu lẻ.”
“Mẹ rất tiếc, con yêu ạ,” mẹ Doris dịu dàng nói, “nhưng việc lãng phí mất một đô-la đã đủ tệ rồi, đừng khóc lóc vì nó nữa. Lần sau hai mẹ con mình đi mua sắm, chúng ta sẽ cố gắng chọn những món đồ thật tốt với tờ đô-la tiếp theo, để bù đắp cho sai lầm lần này nhé.” Vào một ngày nắng đẹp sau đó, hai mẹ con ra ngân hàng và đổi một tờ đô-la khác.
Hóa ra mẹ Doris là một người cực kỳ khôn ngoan (các bà mẹ thường là thế mà). Thế là họ ghé vào một cửa hàng bán những cuốn sách từng bị lính cứu hỏa phun nước làm ướt chút ít trong một vụ hỏa hoạn. Ở đó, họ tìm thấy một cuốn sách truyện loài vật dày dặn, đẹp đẽ có minh họa tranh vẽ vốn có giá 50 xu, nhưng ông chủ tiệm sách đã bán rẻ lại với giá 10 xu, bởi phần bìa sau và một chút mép sách đã bị vết nước và khói làm hoen ố.
Tính ra còn lại — bao nhiêu nhỉ? Chín mươi xu. Anh trai của Doris từng bảo sẽ dạy con bé chơi bi, thế nên con bé mua sáu viên bi thủy tinh giá 5 xu và một chiếc vòng lăn có gậy đẩy giá thêm 5 xu nữa. Tính ra còn lại 80 xu.
Sau đó, Doris hỏi không biết mẹ có nghĩ là con bé đủ tiền mua một đôi giày trượt patanh không. Mẹ bảo hai mẹ con có thể hỏi thử giá giày trượt, nhưng ông chủ cửa hàng bảo chúng có giá tận một đô-la một đôi cơ! Thế là Doris bảo con bé sẽ để dành 80 xu còn lại của tờ đô-la và chờ cho đến khi tích đủ tiền mua giày.

Thế nhưng, có một cậu bé đang đứng tần ngần nhìn vào ô cửa sổ của tiệm đồ chơi với ánh mắt buồn bã và thèm thuồng đến tội nghiệp, Doris liền đến bắt chuyện, và khi cậu bé thổ lộ rằng mình rất muốn có một quả bóng màu đỏ, con bé liền mua ngay cho cậu giá 5 xu và tặng lại. Tính ra còn lại 75 xu.
Khi về đến nhà, hai mẹ con kể cho bố nghe chuyện đôi giày trượt và bố bảo ông có thể mua chúng ở trung tâm thành phố với giá 75 xu, và quả nhiên bố đã mua được thật.
Thế là thông qua bài học mất đi tờ đô-la đầu tiên, Doris đã học được cách tậu về vô số món đồ hữu ích và bền bỉ hơn bằng tờ đô-la thứ hai của mình.



