Bọn bé gái sống trên phố Amity đều đeo găng tay hở ngón đi học vào mùa đông. Mẹ của bất kỳ đứa trẻ nào cũng chẳng màng nghĩ đến thứ gì khác để giữ ấm những bàn tay nhỏ bé. Môi mẹ hay bà của các cô bé thường tự tay móc chúng, hoặc đan thêm những đường hoa văn cầu kỳ dọc mu bàn tay, hay điểm xuyết vài dấu hiệu đặc biệt khác; nhưng chúng vẫn luôn là những chiếc găng hở ngón, và luôn được buộc vào một dải ruy băng dài, một đoạn dải bện hoặc dây đan để chúng không bị lạc mất nhau.
Sợi dây nối này thường gây ra không ít rắc rối, bởi khi hai cô bé quàng tay qua cổ nhau trên đường đi học, chúng thỉnh thoảng lại vướng vào sợi dây găng và buộc phải cúi đầu, xoay người, va cả trán vào nhau mới gỡ ra được sợi dây nằm đúng bên bờ vai quen thuộc. Nhưng vì quá trình này mang lại những tràng cười thả ga đến mức hụt hơi, nên nó lại giống một niềm vui hơn là phiền phức, và những đôi bạn thân thiết chắc chắn sẽ tìm cách vướng víu vào nhau ít nhất là cách một ngày một lần.
Clarabel Bradley thường cùng Josephine Brown thực hiện màn vướng víu và gỡ rối ấy, cô bé Josephine sống ở tận cuối phố Amity. Cả hai cùng học một trường và chung một lớp. Chúng đợi nhau vào buổi sáng, cùng đi học về, chia nhau từng viên kẹo hay chiếc bánh gừng nếu có, và luôn kiên quyết đứng về phía nhau mỗi khi sân trường xảy ra xích mích.
Thế nhưng, sự gắn bó ấy suýt chút nữa đã bị phá hỏng bởi một đôi găng tay.
Đôi găng do người dì của Clarabel gửi tặng; dì còn trẻ, rất xinh đẹp và dạy học ở một thành phố lớn. Chúng được bọc trong lớp giấy bản trắng, đặt bên trong một chiếc hộp viền nhũ vàng óng quanh mép và có in hình vẽ ở giữa nắp. Khi được nhấc ra khỏi lớp giấy, chúng lộ diện với tất cả vẻ quyến rũ chết người. Đó là một đôi găng tay bằng da dê màu nâu bóng láng, có lớp lót bằng len mềm mịn cùng viền lông thú thật quanh cổ tay, và được cài bằng những chiếc khuy mạ vàng sáng lấp lánh.
Đi kèm với chúng là một mẩu giấy nhắn:
Tặng Clarabel, với tất cả yêu thương từ Dì Bessie. Đừng để dành Chủ Nhật mới mang, hãy đeo mỗi ngày nhé.
Và câu cuối cùng được gạch chân cẩn thận.
Mẹ Clarabel có vẻ lưỡng lự khi đọc lời nhắn. Những chiếc găng thế này quá ư phung phí, ngay cả để dành cho ngày trọng đại—chưa kể găng hở ngón vẫn ấm hơn. Nhưng khi bắt gặp ánh mắt rạng ngời của Clarabel, bà mỉm cười và nhượng bộ.
Thế là tối hôm đó, Clarabel mang đôi găng về phòng, đặt chúng ngủ ngay trên thành giường phía chân, nơi cô bé có thể nhìn thấy chúng đầu tiên ngay khi thức dậy; và sáng hôm sau, cô bé đeo chúng vào rồi sải bước đến trường.
Một bên tay được giữ thẳng đơ áp sát sườn, trong khi bàn tay kia được phép xòe rộng các ngón trên cuốn sách đang cầm. Cả hai chiếc đều lọt trọn vào tầm mắt nếu cô bé cúi đầu xuống một chút xíu. Người qua đường có thể nhìn thấy; cả phố Amity có thể nhìn thấy; và tuyệt nhất là Josephine có thể nhìn thấy!
Nhưng Josephine, khi đang đứng đợi ở góc phố, trông thấy và ấn tượng đến mức câm nể. Nhân cơ hội đó, Clarabel liền thả rơi cuốn sách, và phải dùng cả hai tay mới nhặt lên được. Nhờ vậy, phần cổ tay bằng lông thú lại có dịp phô bày trọn vẹn.
Josephine lúc này mới tìm lại được tiếng nói.
“Cậu có găng tay mới kìa,” cô bé nói.
“Ừ, dì Bessie của tớ gửi đấy.”
“Đẹp quá chừng!”
“Tớ cũng nghĩ thế, chúng thích hơn găng hở ngón nhiều. Tớ chẳng thèm đeo găng hở ngón nữa đâu.”
Josephine cúi xuống nhìn đôi bàn tay mũm mĩm của chính mình. Mùa đông này găng của cô bé có màu đỏ, với đường viền tua rua đỏ-xanh quanh cổ tay. Mới sáng nay thôi cô bé còn vô cùng thích thú ngắm nghía chúng. Giờ đây, chúng trông thật thô kệch, cục mịch và chẳng có chút hấp dẫn nào; nhưng cô bé đời nào chịu thừa nhận điều đó trước mặt ai khác.
“Tớ thích găng hở ngón hơn,” cô bé quả quyết,—“dù sao thì mang đi học vẫn thích hơn,” cô nói thêm, rồi nhường thêm chút vỉa hè cho Clarabel.
“Dì Bessie của tớ dặn dò kỹ lắm, bảo phải đeo lũ này đi học cơ.” Và Clarabel bước sát về phía hàng rào hơn.

Josephine lâm vào thế khó—thái độ của Clarabel lúc này đã trở nên quá ư bề trên.
“Tớ thấy dì Bessie của cậu chưa chắc đã biết tuốt đâu, dù dì ấy có dạy học ở thành phố lớn đi chăng nữa. Mẹ tớ bảo dì ấy còn quá trẻ để—”
Cô bé không được phép giải thích nốt điều mà dì mình còn quá trẻ để làm; bởi Clarabel, với đôi má đỏ bừng chẳng kém gì găng tay của Josephine, đã quay phắt lại đối đầu.
“Dì Bessie của tớ rất tuyệt, và tớ không thèm nghe thêm nửa lời nào nói xấu về dì ấy đâu, một từ cũng không—thế nhé!”
Nói đoạn, cô bé quay người đi với cảm giác nghẹn đắng kỳ lạ ở cổ họng, rồi cắm cổ chạy dọc con phố để bắt kịp một bé gái khác đang đi trước.
Josephine vung vẩy đống sách vở và bước đi ra điều bất cần.
Clarabel bắt kịp cô bé kia, người đang cười tươi tắn trầm trồ trước đôi găng tay mới, và rồi lại bị những đứa trẻ khác nhập bọn, xúm xít ngợi khen. Nhưng chẳng hiểu sao cuộc hành quân khải hoàn ấy lại mang đến một cảm giác thiếu trọn vẹn kỳ lạ; ánh hào quang bỗng chốc lu mờ.
Đến giờ ra chơi, Josephine nhập nhóm với Milly Smith, người đứng đầu lớp địa lý và cài hai chiếc lông chim uốn lượn trên mũ. Clarabel chia bánh quy của mình cho Minnie Cater, bởi ăn cùng ai cũng được miễn không phải là Josephine. Cả hai chẳng thèm nói với nhau câu nào, và đến trưa thì lủi thủi đi về nhà ở hai bên đường khác nhau.
Có lẽ vì thế mà vào buổi chiều, Clarabel đã đọc nhầm bài trong sách tập đọc và làm sai quá nhiều bài toán đến nỗi cô bé bị giáo viên thông báo là phải ở lại lớp.
Thường thì sẽ có vài đứa ở lại bầu bạn cùng cô, nhưng hôm nay chẳng có bóng người nào—ngay cả Angelina Maybelle Remington cũng đã hoàn thành xuôi xẻo mà ra về—và Clarabel, với ánh mắt ngấn lệ đầy tha thiết, đành ngẩn ngơ nhìn lũ trẻ lục tục kéo ra ngoài.
Vào những lúc khác, thể nào Josephine cũng ở lại; con bé luôn làm thế mỗi khi Clarabel bị phạt, cũng như Clarabel từng làm khi Josephine rơi vào hoàn cảnh tương tự. Thế nhưng tối nay, nó lại dắt díu ra về cùng đám đông, bỏ lại Clarabel với cảm giác bị bỏ rơi, cắm cúi đối mặt với những bài toán về số nhân công và cỏ khô cần cắt, số nhân công và khoai tây cần đào, hay số nhân công và những dặm đường ray cần xây dựng.
Tiếng chân chạy rầm rập thưa dần rồi mất hút, tiếng la hét của bọn trẻ cũng lịm đi. Căn phòng chìm vào tĩnh lặng, ngoại trừ tiếng tích tắc đều đặn của chiếc đồng hồ và tiếng ngòi bút chì sột soạt của Clarabel trên bảng đá. Bài toán có chứa phân số, mà phân số thì lúc nào cũng là nỗi ám ảnh với Clarabel. Ngòi bút của cô bé cứ chững lại liên tục trong lúc cô nhíu mày nhìn những con số xoăn tít như đuôi lợn. Giữa lúc đang khựng lại như thế, cánh cửa bỗng kẽ kẹt hé mở. Nó lại kêu lên một tiếng, rồi có bóng người rón rén lách vào phòng; hóa ra là Josephine.
“Em xin phép về chỗ ngồi được không ạ?” cô bé hỏi.
“Được chứ,” cô giáo đáp, ánh mắt đầy vẻ tò mò dõi theo.
Cô bé nhón chân đi về chiếc bàn ở góc cuối lớp, lục lọi hộc bàn mất vài phút, rồi lách mình sang chiếc bàn cách đó vài hàng; cứ thế qua từng chiếc bàn cho đến khi tới được dãy bàn nơi Clarabel đang ngồi.
Clarabel, dù đang cắm cúi bên tấm bảng, nhưng đã nghe rõ từng bước chân ngập ngừng ấy, và khi đối phương dừng lại ở chiếc bàn cuối cùng, cô bé liền hất mái tóc xoăn ra sau, ngẩng lên và nở nụ cười rạng rỡ đến húp cả mắt.
Cô giáo đang quan sát bèn nín thở chờ xem chuyện gì xảy ra tiếp theo. Chẳng có gì xảy ra cả, ngoại trừ việc hai cô bé cứ ngồi đó cười mãi, cười mãi, cười đến mức tưởng như chẳng bao giờ chịu dừng lại.
Lát sau, chính cô giáo mỉm cười và cất tiếng. Thỉnh thoảng giọng cô mới ngọt ngào làm sao—giọng nói tựa như đang hé lộ những bí mật vui tươi. Bây giờ âm thanh ấy vang lên đúng cảm giác đó.
“Em có muốn giúp Clarabel không, Josephine?” cô hỏi. “Em có thể giúp nếu muốn.”
“Nếu bạn ấy cho phép ạ,” Josephine đáp, ánh mắt dán chặt vào gương mặt Clarabel.
“Tớ rất thích cậu ấy giúp,” Clarabel nói, mắt không rời Josephine. Và ngay lập tức, chiếc ghế dài chật chội bỗng trở nên rộng thênh thang đủ chỗ cho cả hai.
Thêm mười phút nữa trôi qua với âm thanh sột soạt của phấn bảng, những tiếng thì thầm rúc rích và vài tiếng cười khúc khích. Rồi với tiếng lách cách vui tai, chiếc bảng đá được mang lên bục giảng. Cô giáo nhìn hai cô bé kỹ hơn là nhìn vào bài toán. “Cô chắc chắn chúng đều đúng rồi,” cô phán quyết. “Nào, mau về nhà đi thôi—cả hai em!”
“Em chào cô ạ,” Clarabel nói.
“Em chào cô ạ,” Josephine nói.
“Chào các con, những cô bé ngoan,” cô giáo dịu dàng đáp.
Có tiếng váy áo sột soạt khẽ khàng và bọn trẻ đã ra đến phòng thay đồ. Giữa không gian chật hẹp quen thuộc ấy, Josephine ngập ngừng, tay mân mê những chiếc khuy áo choàng.
“Tớ nghĩ dì của cậu—” Josephine nói rất chậm rãi—“rất tuyệt đấy chứ, lại còn biết nhiều điều nữa.”
“Ồ!” Clarabel sung sướng thốt lên, “tớ mê cái màu găng tay của cậu làm sao! Cậu có muốn—cậu có muốn—” cô bé thổ lộ một hơi—“đổi cho tớ mang găng tay của tớ về nhà, còn cậu mang găng hở ngón của tớ không?”
Josephine từ chối lời đề nghị lóa mắt ấy.
“Găng của cậu đẹp hơn cơ mà, cậu phải mang chúng chứ.”
Clarabel ngẫm nghĩ một thoáng, ánh mắt thoáng buồn.
“Tớ biết cách này rồi,” cô bé tuyên bố, vẻ u buồn bay biến. “Cậu mang một chiếc găng tay và một chiếc găng hở ngón, tớ cũng mang một chiếc găng tay và một chiếc găng hở ngón giống cậu!”
“Ồ!” Josephine reo lên và ôm chầm lấy bạn đầy phấn khích, “thế thì tuyệt cú mèo!”
Thế là chúng tung tăng chạy về nhà, hai bàn tay đeo găng hở ngón nắm chặt lấy nhau, trong khi hai bàn tay đeo găng da thì vui vẻ vung cao lên khoảng không mỗi khi những tiếng cười khúc khích lại bùng lên giữa hai người bạn nhỏ.
