Năm 2017, một độc giả tờ Financial Times viết thư cho ban biên tập nói rằng “Uber là một ví dụ điển hình” về bi kịch cộng đồng. Anh ta nhắc đến San Francisco, một thành phố nơi khách du lịch và doanh nhân cần các lựa chọn giao thông thuận tiện nhưng hệ thống giao thông thành phố lại khá hạn chế. Tuy nhiên, độc giả quan sát thấy “năng lực giao thông hạn chế cả trên những con phố nội đô lẫn những cây cầu dẫn tới chúng”. Kết quả là những con đường bát nháo với kết cục bi thảm có thể thấy trước: tiền lương thấp cho tài xế, dịch vụ kém do tài xế thiếu kinh nghiệm, tắc nghẽn giao thông và ô nhiễm không khí. Trong một bài đăng trên tờ Guardian, nhà báo Arwa Mahdawi chia sẻ ý kiến rằng “Nếu bạn nghe theo Airbnb thì thị trường cho thuê nhà ngắn hạn là phương thức tuyệt vời để hỗ trợ cộng đồng, hồi sinh các khu dân cư, giúp người dân bình thường kiếm sống và mang lại hòa bình thế giới”. Nhưng đồng thời, Airbnb cũng góp phần làm cho giá nhà đắt hơn, vượt quá khả năng của những người định mua hay định thuê nhà. Những người xung quanh phàn nàn không chỉ về giá thuê tăng cao mà còn về tiếng ồn và những xáo trộn trong sinh hoạt hàng ngày của họ. Mahdawi kết luận “cái gọi là nền kinh tế chia sẻ chính xác hơn là nền kinh tế kiếm-tiền-từ-mọi-thứ-có-thể”. Sở hữu nhà không còn là biểu hiện của vị thế trung lưu nữa, mà đã trở thành cơ hội “kiếm tiền”.
Tính chất hai mặt này diễn ra ở khắp nơi, từ khu dân cư Barcelona cho đến đường phố New York, vì thế chúng ta phải thừa nhận biến động này đang gây ra những mặt trái tiêu cực một cách hệ thống và trong toàn hệ thống.
Tôi xin giải thích như sau.
Nhiều năm trước, Adam Smith, cha đẻ kinh tế học hiện đại người Scotland, đã lý luận rằng: “Chúng ta có bữa tối không phải nhờ lòng nhân từ của người bán thịt, người nấu bia hay thợ làm bánh mà họ đang làm vì lợi ích của bản thân”. Nghĩa là “bàn tay vô hình” của thị trường tự do sẽ sắp xếp những thỏa thuận tốt nhất có thể giữa người tiêu dùng và người sản xuất, trong đó người tiêu dùng thoải mái chọn cái mình cần với giá tốt nhất và người sản xuất thu được lợi nhuận từ việc phục vụ những nhu cầu đó. Hành vi trực giác này diễn ra trong nhiều trường hợp nhưng có ít nhất hai ngoại lệ (nổi tiếng) đáng chú ý.
Ngoại lệ thứ nhất, theo nhà toán học nổi tiếng từ bộ phim A Beautiful Mind (Một tâm hồn đẹp) John Nash thì không thể dự đoán quyết định chọn lựa của nhiều người nếu chỉ phân tích những quyết định đó một cách riêng lẻ. Trong phim, ý tưởng nền tảng này đã giải thích cho hiện tượng xảy ra tại quán bar, khởi nguồn cho mọi tư duy đa chiều của Nash. Ông quan sát thấy vài nam sinh tán tỉnh cùng một phụ nữ nhưng cô này không chọn ai trong số họ; và điều này đã khiến những người phụ nữ khác trong quán bar cũng hành động tương tự vì không ai muốn bị xem là đối tượng dự phòng. Kết quả này chẳng hay ho gì đối với những người phụ nữ và đàn ông trong câu chuyện, Nash giải thích. Sự việc này giúp ông phát hiện ra lỗ hổng trong lý thuyết đã được chấp nhận rộng rãi của Smith cho rằng hành vi cạnh tranh trong thị trường tự do mang lại lợi ích cho tất cả mọi người.
Ngoại lệ đáng chú ý thứ hai cho thấy thị trường vận hành trên cơ sở tư lợi không phải lúc nào cũng tuyệt vời, đó là khi một số cá nhân có thể lợi dụng hệ thống tài nguyên chung và làm cạn kiệt tài nguyên cho mọi người khác. Vấn đề này được phát hiện bởi nhà kinh tế học người Anh thế kỷ 19 William Forster Lloyd, người đã viết về hiểm họa môi trường của việc thả rông gia súc trên đất công. Các nhà triết học, sinh thái học, nhân chủng học và khoa học chính trị đã sớm vận dụng quan điểm của ông để nghiên cứu mọi thứ từ ô nhiễm không khí và lưu vực cho đến nguồn cá cạn kiệt hay băng tan ở Greenland. Nhà sinh thái học Garrett Hardin là người đưa ra thuật ngữ “bi kịch cộng đồng” trong một bài luận nổi tiếng xuất bản trên tạp chí Science năm 1968, với nội dung tóm tắt là: “Không thể giải quyết vấn đề dân số bằng các giải pháp kỹ thuật; mà cần phải xây dựng nền tảng đạo đức cao hơn”. Hardin chủ yếu quan ngại về vấn đề gia tăng dân số, cũng như hậu quả của nó đối với tương lai các nguồn tài nguyên có giới hạn của Trái đất. Đừng quên mọi người đã từng nghĩ rằng tỷ lệ sinh quá cao sẽ làm thế giới suy thoái, như đã đề cập trong Chương 1. Đối với ông, vấn đề đáng lo là thiếu các tư tưởng và thể chế tốt đẹp.
Một số người phản ứng quyết liệt, thậm chí là bạo lực, để chống lại Uber và Airbnb vì nhìn thấy bi kịch cộng đồng đang dần hình thành. Họ sợ rằng tình trạng kinh doanh dịch vụ gọi xe mất trật tự có thể làm trầm trọng hơn nạn ùn tắc giao thông. Hoặc tài xế Uber hay gây ra tai nạn hơn tài xế taxi. Hoặc một số tài xế không chuyên nghiệp có thể lợi dụng người đi xe. Họ còn chỉ ra những hiểm họa khi hệ thống giao thông công cộng bị bỏ quên và trở nên hư hỏng nặng hơn vì cạnh tranh không nổi với các ứng dụng và dịch vụ gọi xe. Chẳng hạn như ở New York, Uber đã lấy đi một lượng khách taxi ở khu trung tâm Manhattan, nhưng lại khiến lượng khách ở những nơi khác trong thành phố tăng 40% so với thời trước khi có Uber, dẫn đến tình trạng giao thông căng thẳng hơn và làm giảm số nhà đầu tư vào giao thông công cộng. Tương tự, dịch vụ Airbnb mang lại nhiều lợi ích nhưng công ty cũng bị cho là đã thu hút quá nhiều du khách, dẫn đến tình trạng xuống cấp của các khu dân cư và giá thuế tăng cao vượt khả năng dân thành phố. Vậy chúng ta nên nhìn nhận như thế nào về lợi ích lẫn nguy cơ phát sinh từ những vấn đề này?
Tôi xin chia sẻ ba luận điểm ủng hộ cho các ứng dụng kỹ thuật số. Thứ nhất, hệ thống cộng tác chia sẻ có thể góp phần giảm bớt áp lực về tài nguyên thiên nhiên, như giúp giảm nhu cầu sử dụng phương tiện cá nhân chẳng hạn. Trung bình người Mỹ chỉ sử dụng ô tô của mình 6 hoặc 7% thời gian trong tuần. Vì vậy, chia sẻ việc sử dụng xe với người khác thực chất có thể là cách sử dụng tốt hơn các nguồn lực hiện có.
Thứ hai, mọi người có vẻ sẵn sàng trả tiền cho các hàng hóa và dịch vụ chia sẻ vì chúng làm tăng giá trị cuộc sống cho họ. Sử dụng dữ liệu về 48 triệu chuyến xe UberX ở bốn thành phố lớn nhất nước Mỹ, Steve Levitt, đồng tác giả cuốn Freakonomics (Kinh tế học hài hước) và các đồng nghiệp của ông ước tính nhờ Uber người tiêu dùng đã may mắn hưởng được giá trị lớn hơn khoảng 1,6 lần so với chi phí tự lái xe, tương đương khoảng 18 triệu USD mỗi ngày chỉ riêng ở bốn thành phố đó: “Nếu Uber bất ngờ biến mất trong một ngày, thì đó là số tiền mà người tiêu dùng sẽ mất”.
Có lẽ luận điểm thứ ba ủng hộ cho nền kinh tế chia sẻ là quan trọng nhất. Chưa chắc bi kịch cộng đồng sẽ xảy ra khi có người được hưởng lợi từ nền tảng chia sẻ tài nguyên. Nhà khoa học chính trị xuất sắc Elinor Ostrom - người phụ nữ đầu tiên đoạt giải Nobel Khoa học Kinh tế - cũng là một trong số nhiều người Mỹ trồng “khu vườn chiến thắng” (một loại hình nông nghiệp đô thị khác) cùng với mẹ bà trong Thế chiến thứ II. Trải nghiệm này làm nảy sinh trong tâm trí bà suy nghĩ: Trong những điều kiện nhất định, mọi người sẽ hợp tác vì lợi ích chung. Bà dành cả cuộc đời để nghiên cứu mọi trường hợp sử dụng tài nguyên chung, như trật tự cộng đồng, nuôi tôm hùm, rừng, hệ thống tưới tiêu và, vâng, chắc chắn là chăn thả trên đất chung. Bà cho rằng có thể tránh các bi kịch cộng đồng nếu biết tổ chức từ dưới lên nhằm tránh cạn kiệt tài nguyên và sụp đổ hệ sinh thái. Lời khuyên của bà là nên xác định quy tắc rõ ràng trong việc chia sẻ tài nguyên, thiết lập cơ chế giải quyết xung đột cũng như cơ chế trừng trị đích đáng những người vi phạm, và thúc đẩy tinh thần tự nguyện cam kết của cộng đồng trên cơ sở tin tưởng lẫn nhau.
Ở một khía cạnh nào đó, Ostrom kêu gọi những người sử dụng tự tổ chức và quản lý nguồn tài nguyên chung mà không cần đợi sự can thiệp của chính phủ. Quy luật nổi tiếng của bà Ostrom nói rằng “nếu hệ thống nguồn lực được sắp xếp hiệu quả trong thực tiễn, nghĩa là cũng đúng trong lý thuyết”, cho thấy sáng kiến của người dân cũng có thể hữu ích trong việc phục vụ cho lợi ích chung. Có lẽ đó là cách tốt nhất để đảm bảo nền kinh tế chia sẻ mang lại lợi ích cho tất cả mọi người, cụ thể là những người tham gia và những người chịu tác động từ nó.