Năm 2014, Facebook trả 19 tỷ USD để mua WhatsApp, ứng dụng nhắn tin của một công ty hầu như không có tài sản hữu hình gì với chưa tới 60 nhân viên. Nhưng yếu tố khiến công ty này trở thành mục tiêu mua lại hấp dẫn là cơ sở dữ liệu người dùng vô cùng lớn lên tới 1,5 tỷ người. WhatsApp được hai cựu kỹ sư của Yahoo, Brian Acton và Jan Koum, thành lập năm 2009. Koum chuyển đến Mỹ từ Ukraine (một “người nhập cư khác” để thêm vào danh sách mà chúng ta đã thấy trong Chương 1), trong khi Acton sinh ra ở Michigan. Acton từng nhấn mạnh: “Chúng tôi không muốn xây dựng một ứng dụng kết nối mà người không quen cũng có thể nhảy vào trò chuyện. Thay vào đó chúng tôi hướng đến các mối quan hệ gần gũi”. Còn Koum thể hiện thái độ tham vọng hơn: “Chúng tôi sẽ không dừng lại cho đến khi tất cả mọi người ai cũng có thể yên tâm giao tiếp với bạn bè và người thân với mức phí hợp lý”. Về phần mình, Mark Zuckerberg từng đưa ra lời giải thích gây tranh cãi rằng “mọi người thích được kết nối vì cảm thấy vui hơn, khiến cuộc sống phong phú hơn”.
Nhiều loại hình kinh doanh được hưởng lợi từ hiệu ứng mạng lưới. Trong thực tế, toàn bộ nền kinh tế chia sẻ phụ thuộc vào đó.
Hiệu ứng mạng lưới đóng vai trò tích cực khi giá trị mang lại cho người tham gia tỷ lệ thuận với số người tham gia. Điện thoại là một ví dụ điển hình. Càng nhiều người dùng điện thoại thì điện thoại của tôi càng hữu ích vì tôi có thể gọi được nhiều người hơn. Điện thoại là mạng lưới một chiều theo nghĩa là tất cả người dùng có thể thực hiện và nhận cuộc gọi. Ngược lại, hiệu ứng mạng lưới hai chiều là khi sự gia tăng số lượng của nhóm này sẽ làm tăng giá trị cho sự tham gia của nhóm khác. Nền kinh tế cộng tác chính là dựa trên hiệu ứng mạng lưới hai chiều. Càng nhiều người đăng tin cho thuê phòng, căn hộ hay nhà trên Airbnb thì càng có nhiều khách vào trang này để tìm và ngược lại. Như lời bài hát Imagine của John Lennon, “Và thế giới sẽ là một”.
Đến năm 2030, vấn đề quan trọng sẽ không còn là sự thống trị của hiệu ứng mạng lưới trong nền kinh tế, mà là loại hiệu ứng nào sẽ được ưu tiên hơn. Một khía cạnh quan trọng nữa sẽ là phạm vi hoạt động của hiệu ứng mạng lưới: địa phương, quốc gia, khu vực hay toàn cầu? Đa số mọi người đều cho rằng hiệu ứng mạng lưới mang tính chất toàn cầu, nhưng thực tế là rất ít. Chẳng hạn đối với dịch vụ gọi xe thì hiệu ứng mạng lưới địa phương đóng vai trò quan trọng. Là người gọi xe, tôi quan tâm có bao nhiêu tài xế ở gần khi tôi cần đi. Tương tự, đa số các ứng dụng hẹn hò đều dựa vào hiệu ứng mạng lưới trong khu vực lân cận. Nhưng các ứng dụng mai mối hầu hết lại phủ sóng trên toàn quốc. Một số ứng dụng khác chủ yếu dựa vào hiệu ứng mạng lưới khu vực. Airbnb từ lâu đã biết rằng phần lớn hoạt động du lịch quốc tế đều mang tính khu vực (như châu Âu, châu Mỹ Latinh, châu Phi hoặc châu Á) chứ không phải toàn cầu. Ở một số quốc gia lớn - như Mỹ và Trung Quốc - hầu hết hoạt động du lịch là nội địa. Do đó, trong khi Uber cần xây dựng một lực lượng gồm nhiều tài xế và người gọi xe ở mỗi địa phương, thì Airbnb cần đạt đến ngưỡng tối thiểu ở mỗi khu vực. Rất ít giao diện kinh doanh hai chiều có phạm vi trên toàn cầu.
Người Mỹ chúng tôi hay có thành kiến với các công ty như Airbnb, Uber, Lyft, We-Work và eBay vì họ thống trị thị trường Mỹ. Các công ty Mỹ nên bắt đầu mở rộng phạm vi hơn. Ở Trung Quốc chẳng hạn, các công ty trong nước chiếm ưu thế tối thượng, họ lớn mạnh hơn các công ty Mỹ cùng ngành và mở rộng ra các quốc gia khá nhanh chóng. Đó là những công ty khổng lồ như Didi (dịch vụ gọi xe và cho thuê xe đạp), WeChat (mạng truyền thông xã hội), Tujia (cho thuê chỗ ở) và UCommune (không gian làm việc chung). Tính đến năm 2017, ở châu Á xuất hiện nhiều “kỳ lân” (các công ty có giá trị từ 1 tỷ USD trở lên) của nền kinh tế chia sẻ hơn ở Mỹ. Như chúng ta đã thấy trong Chương 3, đến năm 2030, lợi thế có thể còn nghiêng nhiều hơn về châu Á chủ yếu là do có tầng lớp trung lưu đang phát triển nhanh chóng trong khu vực này. Tuy nhiên, nền kinh tế chia sẻ và cộng tác đang tạo ra những màu sắc khác nhau trong giới tiêu dùng cũng như người lao động.