Julian Brave NoiseCat, thành viên của Canim Lake Bad - chính quyền tự trị của người bản địa Tsq’escen ở British Columbia, Canada - cũng là nhà hoạt động đấu tranh cho quyền lợi của người dân tộc châu Mỹ, thấy rằng “Chúng ta đang sống trong một thế giới bị nguyên tắc tư hữu chi phối. Hàng tỷ mẫu đất của người bản địa bị tước đoạt và chia cắt trên khắp châu Mỹ, châu Phi, châu Á, Ireland và Úc đã cho phép hai đế quốc nói tiếng Anh - trước tiên là Anh và sau đó là Mỹ - vươn lên thống trị toàn cầu”. Một số quốc gia châu Âu khác - từ Đan Mạch đến Bỉ và Ý, từ Hà Lan đến Bồ Đào Nha và Tây Ban Nha - cũng được hưởng phần. Sau khi các đế quốc rời đi, con cháu họ ở địa phương tiếp tục sở hữu những vùng đất rộng lớn và thống trị hệ thống chính trị.
Như hầu hết mọi người trên thế giới, qua nhiều năm người Mỹ ngày càng chú trọng đến quyền sở hữu. Ông NoiseCat nhận định: “Tài sản đã sản sinh ra một ước vọng không tưởng gọi là Giấc mơ Mỹ, trong đó làm việc chăm chỉ, có đất đai và nhà cửa là nền tảng để có vô số cơ hội - hay ít nhất là thoát khỏi - sự thống trị của tư bản”. Như chúng ta đã thấy trong Chương 3, sở hữu nhà và xe là những tiêu chuẩn để xác định tầng lớp trung lưu Mỹ. Các cuộc bầu cử và chính sách của chính phủ thường bị chi phối theo lợi ích của những người sở hữu (hoặc mong muốn sở hữu) tài sản.
Sự trì trệ của tầng lớp trung lưu cũ ở châu Âu và Mỹ, cùng với sự gia tăng tình trạng bất bình đẳng về tài sản - 1% những người giàu nhất sở hữu nhiều tài sản hơn tất cả 99% còn lại - đang đặt ra mối nghi ngờ về mức độ mà quyền sở hữu tài sản, nhất là trong lĩnh vực thuế, được bảo vệ. Ông NoiseCat cho rằng: “Các thế hệ trước đối phó với những cuộc khủng hoảng tương tự bằng cách chuyển sang chủ nghĩa cộng sản. Nhưng ngày nay, lý tưởng của Marx, Lenin và Mao không còn đủ sắc bén để quật ngã chủ nghĩa tư bản”. Thế là mọi người đang đối phó với những căng thẳng đó bằng cách tham gia vào nền kinh tế chia sẻ vì thực tế không đủ nguồn lực để đảm bảo tài sản và vì sự thôi thúc của phương thức cộng tác sử dụng tài sản chung như nhà và xe.
Việc sở hữu nhà và các tài sản đắt tiền khác từ lâu đã ảnh hưởng đến hành vi chính trị của người dân. Tuy nhiên, không thể xác định được chúng có chi phối xu hướng ủng hộ các chính sách kinh tế hoặc xã hội bảo thủ hay không. Nghiên cứu cho thấy những người có nhà sẽ thường bỏ phiếu và tham gia chính trị nhiều hơn. Nếu đến năm 2030, đa số các tài sản đều được chia sẻ sử dụng thay vì sở hữu, thì có thể dự đoán nhiều người dân sẽ thờ ơ hơn và không muốn tham gia vào chính trị hoặc bầu cử. Vì hầu hết đối tượng có nhu cầu trong nền kinh tế chia sẻ thường là người trẻ, do đó những người trong nhóm tuổi này sẽ có xu hướng giảm tham gia chính trị nhiều hơn.
Nhưng còn có một tác động nghiêm trọng khác của nền kinh tế hợp đồng tự do đến giới chính trị. Nhà khoa học chính trị Trường Yale Jacob Hacker đưa ra luận điểm trong cuốn The Great Risk Shift (Tạm dịch: Biến động rủi ro lớn) rằng trong nhiều thập niên qua, các chính phủ và tập đoàn đã không còn tận tâm với người dân và người lao động nữa, thay vào đó họ đòi hỏi mỗi cá nhân phải tự chịu trách nhiệm. Khái niệm trách nhiệm cá nhân dựa trên các giá trị bảo thủ và đi ngược lại một số lý tưởng ủng hộ mạng lưới an toàn xã hội ở cả châu Âu và Mỹ kể từ thời kỳ Suy thoái. Như Bo Fishback, người sáng lập kiêm CEO Zaarly, một ứng dụng dịch vụ gia đình, từng nói, nền kinh tế hợp đồng tự do đã tạo ra một “thị trường việc làm tự chọn tốt nhất, ở đó không có lý do gì để biện hộ cho những người nói: ‘Tôi không biết làm sao để tìm việc, tôi không biết phải bắt đầu như thế nào’”.
Sự gia tăng của tầng lớp chia sẻ làm dấy lên tranh luận về vấn đề phân biệt đối xử. Ông Sundararajan lưu ý không như khách sạn truyền thống, “một người cho thuê nhà trên Airbnb có thể nói ‘Vâng, đây là nhà tôi. Tôi sẽ chọn một số loại khách nhất định để cho thuê’”. Nền kinh tế hợp đồng tự do sẽ không đi theo những quan niệm thông thường về phân biệt đối xử, một cách khác để loại bỏ các quy tắc truyền thống từ trước.
Nếu các ứng dụng việc làm đang thay đổi thị trường lao động thì hình thức huy động vốn và nhân lực từ cộng đồng đang cách mạng hóa các chiến dịch chính trị. Chiến dịch tranh cử tổng thống của cựu Thượng nghị sĩ Barack Obama năm 2008 là chiến dịch đầu tiên sử dụng hiệu quả những công cụ mới này. Thành công lớn nhất của ông là chiêu mộ và quản lý hàng triệu tình nguyện viên thông qua tin nhắn và Internet, ngay cả trước khi mạng xã hội kỹ thuật số phát triển tràn lan. Theo một nguồn tin, ông Obama có khoảng 850.000 bạn trên MySpace, so với đối thủ John McCain chỉ có 220.000 người, và có 120.000 người theo dõi trên Twitter, so với 5.000 người của ông McCain. Một nghiên cứu cho thấy “với John F. Kennedy, đó là truyền hình. Còn với Barack Obama, đó là mạng xã hội”. Quan trọng nhất, chiến dịch của ông đã huy động được số tiền kỷ lục 800 triệu USD từ 4 triệu nhà tài trợ, chủ yếu nhờ hình thức huy động vốn cộng đồng. Nghiên cứu kết luận rằng “Chiến dịch năm 2008 của Obama đã tạo ra một tổ chức ảo trên toàn quốc nhằm thúc đẩy 3,1 triệu cá nhân đóng góp và huy động một lực lượng cơ sở gồm hơn 5 triệu tình nguyện viên”. Chiến dịch này đi tiên phong trong việc sử dụng toàn diện các kỹ thuật mới để đạt được nhiều mục tiêu. “Rõ ràng, chiến dịch tranh cử của Obama đã sử dụng những công cụ này để phục vụ cho mục đích thuyết phục công chúng, gây quỹ để tiếp nhiên liệu cho cuộc vận động, thúc đẩy mọi người tham gia chính trị và tăng lượng phiếu bầu”. Nhưng sau đó cuộc bầu cử năm 2016 mang đến nhiều “tin tức giả” vì các mạng xã hội bị thao túng tràn lan.
Tuy nhiên, sự gia tăng của tầng lớp chia sẻ có thể dẫn đến một sự thay đổi mang tính thời đại khác, đó là nhiều người lao động sẽ không nghỉ hưu, hay ít nhất là nghỉ không hoàn toàn. Hãy suy nghĩ về mối liên hệ đa chiều giữa công việc tự do và việc nghỉ hưu. Người về hưu là một nhóm khác biệt khi nói đến hành vi chính trị, đặc biệt là bỏ phiếu; như chúng ta đã thấy, họ có nhiều khả năng bỏ phiếu hơn các nhóm tuổi khác. Trong khi nhiều người lo ngại sự gia tăng của người lao động tự do sẽ làm trầm trọng thêm vấn đề không đủ lương hưu, thì họ thường quên rằng nhiều người vẫn tiếp tục làm việc dù đã đến tuổi nghỉ hưu, nhất là trong những ngành nghề linh hoạt, vì họ cảm thấy thích điều đó. Do đó, tầng lớp chia sẻ gồm những người lao động tự do có thể nghỉ hưu muộn hoặc chỉ nghỉ hưu bán phần, với tỷ lệ cao hơn so với những người làm công việc toàn thời gian. Nhiều người cao tuổi cho thuê nhà trên Airbnb vì họ thích gặp gỡ những người mới.
Một thực tế là khi tuổi thọ tiếp tục gia tăng thì hệ thống lương hưu của nhà nước và chủ lao động chưa chắc có thể đáp ứng, khi đó nền kinh tế hợp đồng tự do có thể là giải pháp hỗ trợ. Các nhà phân tích đã xem “nền kinh tế hợp đồng tự do như là một kế hoạch nghỉ hưu dự phòng”. Một khả năng khác nữa là “người lao động trong các công việc công sở truyền thống có thể kiếm thêm thu nhập để bù đắp cho khoản tiết kiệm hưu trí còn thiếu”.
Tầng lớp chia sẻ gồm người tiêu dùng và người lao động thường có quan điểm khác nhau về các vấn đề lớn trong chính trị, như: phân biệt đối xử, trả lương công bằng, lương hưu, mạng lưới an toàn xã hội. Với công việc linh hoạt, họ có thể dễ tham gia bầu cử hơn so với nhân viên toàn thời gian. Tư duy tự lực và không phụ thuộc của họ có thể cộng hưởng với cả những giá trị tự do về nền kinh tế lẫn những giá trị bảo thủ hơn về các vấn đề xã hội. Bối cảnh chính trị thực sự sẽ rất khác nếu đến năm 2030, hơn một nửa lực lượng lao động ở châu Âu, Mỹ và các khu vực khác trên thế giới sẽ là người lao động hợp đồng tự do. Tuy nhiên, nếu nắm vị thế độc quyền thống lĩnh thị trường, liệu các ứng dụng kỹ thuật số có bóc lột người lao động và người tiêu dùng không?