2030: Những Xu Hướng Lớn Sẽ Định Hình Thế Giới Tương Lai

Lượt đọc: 1917 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Đừng Sợ Vấn Đề Khan Hiếm Tài Nguyên
Đừng Sợ Vấn Đề Khan Hiếm Tài Nguyên

❊ ❊ ❊

Đến năm 2030, chúng ta sẽ vất vả với tình trạng thiếu nước ngọt, không khí sạch và đất ở. Có lẽ chúng ta nên học một vài chiêu của các xã hội trước trong việc vượt qua khủng hoảng môi trường nghiêm trọng. Hãy xem trường hợp của Rapa Nui, hay còn gọi là Đảo Phục sinh, thường được nhắc đến là nơi có người ở hẻo lánh nhất thế giới. Vùng đất núi lửa chỉ hơn 163km² này từng là quê hương của một nền văn minh tuyệt đẹp với các thành tựu nghệ thuật, tôn giáo và chính trị đáng chú ý, nổi bật là hơn một ngàn bức tượng kỳ lạ gọi là moai, bức lớn nhất nặng hơn 80 tấn và cao hơn 9 mét.

Nền văn minh Rapa Nui tàn lụi vì nguồn tài nguyên cạn kiệt trước thời điểm người châu Âu đến năm 1722. “Sự tương đồng giữa Đảo Phục sinh và toàn bộ thế giới hiện đại rõ ràng đến kinh ngạc”, Jared Diamond viết trong cuốn sách bán chạy Collapse (Sụp đổ). “Đảo Phục sinh ở Polynesia nằm cô độc trong Thái Bình Dương như Trái đất ngày nay trong không gian vậy”, không có khả năng thoát đi đâu hay có hỗ trợ gì từ bên ngoài. “Đó là lý do tại sao người ta nhìn nhận sự sụp đổ của xã hội Đảo Phục sinh như một phép ẩn dụ, một tình huống xấu nhất, cho những gì có thể xảy ra trong tương lai của chính chúng ta”.

Diamond và một số người khác đã kể một câu chuyện phổ biến về sự cạnh tranh cuồng tín giữa hàng chục gia tộc trên đảo. “Sự gia tăng kích thước các bức tượng cho thấy sự cạnh tranh giữa các trưởng tộc và họ dùng các bức tượng để ganh đua nhau… Tôi không khỏi nghĩ rằng chúng được dựng lên để tạo thế thượng phong”. Câu chuyện của Diamond bắt đầu bằng sự gia tăng dân số và việc dựng tượng moai để ganh đua, tiếp đó là hoạt động phá rừng để làm nông nghiệp thâm canh và vận chuyển tượng, môi trường đa dạng sinh học bị ảnh hưởng, sản lượng lương thực giảm dần và cuối cùng là “nạn đói, sụp đổ dân số[1] và nạn ăn thịt đồng loại”.

Nhà nhân chủng học Terry Hunt và nhà khảo cổ học Carl Lipo lại kể một câu chuyện khác trong cuốn The Statues That Walked (Tạm dịch: Những bức tượng biết đi). “Không phải sự mê cuồng những bức tượng moai đã làm kiệt quệ rừng trên đảo và biến đổi sinh thái đến mức thảm họa”. Những khu rừng bị phá hủy không phải do con người mà chủ yếu là do lũ chuột ở trên chiếc xuồng của họ khi họ tiến vào hòn đảo nhỏ bé. Những người dân trên đảo không đánh nhau, vì không thấy nhiều vũ khí, cũng như các bộ xương với chứng tích bạo lực. Họ còn có nhiều cải tiến sáng tạo để nuôi sống lượng dân số ngày càng tăng trên một mảnh đất cằn cỗi như vậy. “Dần dần, hòn đảo đã biến thành một thế giới với vô số vườn tược”, gồm khoảng 2.500 khu vườn với các bức tường đá bảo vệ.

Dù bạn thấy câu chuyện nào hấp dẫn hơn, thì điểm mấu chốt vẫn là nền văn minh thời kỳ đồ đá này đã phát triển rực rỡ nhưng chắc chắn không phải vì họ tìm được nguồn tài nguyên dồi dào, không bao giờ có chuyện đó. Hai nhà khảo cổ học viết rằng “câu chuyện Rapa Nui không kể về kết cục của một hệ sinh thái mà là về sự bền bỉ và kiên cường của người dân trên đảo trong việc sử dụng các phương pháp sáng tạo”. Do đó, bí ẩn thực sự không nằm ở nguyên nhân tại sao xã hội Polynesia này sụp đổ, mà làm thế nào nó có thể tồn tại và phát triển trong nhiều năm trên một hòn đảo nhỏ bị cô lập, không có tài nguyên thiên nhiên này.

Năng lực cải tiến của người Rapa Nui thể hiện rõ nhất qua các kỹ thuật thiết kế và vận chuyển những bức tượng moai khổng lồ mà không có bánh xe hay động vật kéo. Nghiên cứu thực địa cho thấy các nhóm khoảng 20 người đã dùng dây thừng để nhịp nhàng xoay khối đá nhiều tấn qua lại hai bên như con lắc, và làm cho những bức tượng “đi bộ” hàng kilomet, từ mỏ đá duy nhất trên đảo đi dọc theo những con đường xây dựng chắc chắn. Rất có thể, họ không sử dụng bất kỳ loại gỗ nào để làm xe trượt, xe lăn hay thanh trượt.

Hiện tượng nóng lên toàn cầu hiện đang là mối đe dọa lớn nhất đối với nền văn hóa Rapa Nui, cũng không có gì đáng ngạc nhiên vì các bức tượng moai ở khu vực gần mặt nước có nguy cơ bị ngập do mực nước biển dâng cao. Ông Camilo Rapu, lãnh đạo tổ chức bản địa điều hành Vườn quốc gia Rapa Nui, chia sẻ: “Cảm thấy thật bất lực trong việc này vì không thể bảo vệ xương máu của tổ tiên. Điều đó đau đớn vô cùng”. Nhưng ông Sebastian Paoa, trưởng phòng kế hoạch, thì tỏ ra lạc quan. “Họ biết môi trường đang tàn lụi, nhưng vẫn nhất định ở lại đây” ông nói. “Đối với biến đổi khí hậu ngày nay cũng vậy.” Trên toàn cầu, cuộc khủng hoảng khí hậu hiện nay sẽ khiến chúng ta không còn nhiều nguồn tài nguyên, và phải giảm lượng khí thải thấp hơn cho dù mức tiêu thụ của tầng lớp trung lưu và các thành phố toàn cầu vẫn tiếp tục tăng cao.

Có lẽ nhà khảo cổ học Paul Bahn và nhà thực vật học John Flenley nói đúng khi cho rằng lịch sử Rapa Nui đã cho chúng ta một thông điệp với hai tầng ý nghĩa. “Đó là bài học cho hành tinh chúng ta, nhưng đồng thời cũng là một ví dụ lạc quan về khả năng đổi mới và vượt qua nghịch cảnh của con người… Những người dân trên đảo đã cố gắng thích nghi khá thành công với hoàn cảnh mới”. Hai ông kết luận bài học độc đáo từ Rapa Nui không nằm ở sự suy tàn mà ở yếu tố “hòa bình có vẻ đã ngự trị tại đây trong một thiên niên kỷ”. Theo nhà nhân chủng học Dale Simpson Jr., các thị tộc dường như không có sự cạnh tranh hay xung đột. Đúng hơn, “mô hình tận dụng tối đa nguồn lực tối thiểu lại cho thấy có thể giữa họ có sự hợp tác”, theo đó các thị tộc cùng chia sẻ tài nguyên khi cần thiết. “Tôi nghĩ điều này trái với giả thuyết cho rằng kết cục sụp đổ là do họ cạnh tranh trong việc xây dựng các bức tượng lớn”, Simpson khẳng định.

Người Rapa Nui đã thay đổi cả nếp văn hóa để sinh tồn - điều mà chúng ta cũng có thể phải làm. Họ chuyển từ “loại tôn giáo tôn sùng tổ tiên (tôn giáo điển hình của người Polynesia) sang tôn sùng một vị thần duy nhất, đấng tạo hóa Make Make, cùng với các nghi thức, lễ hội cầu xin vụ mùa và khả năng sinh sản, kể cả khả năng sinh sản của con người”. Trong nếp văn hóa mới có một cuộc thi hàng năm, còn gọi là “cuộc đua nghi lễ để giành quả trứng đầu tiên” nhằm chọn ra “người chim”, tức người sẽ cai trị cho năm sau, theo một cách khá ôn hòa và hiệu quả để đối phó với tình trạng nguồn tài nguyên ngày càng giảm. Như vậy, người dân trên đảo đã bắt đầu từ bỏ nhiệm vụ to lớn và vất vả là dựng tượng moai rất lâu trước khi người châu Âu đến. “Người ta ước tính không có bức tượng nào, hoặc rất ít được xây dựng sau năm 1500”. Cuộc thi người chim là một cách phân phối nguồn tài nguyên khan hiếm giữa các thị tộc, chứ không phải là thảm kịch cộng đồng như giả thuyết của bà Elinor Ostrom. Theo nhà địa chất học David Bressan, có lẽ chúng ta nên kết luận rằng Rapa Nui thời tiền sử là ví dụ về “một xã hội thiếu thốn tiềm năng tương lai” - giống như của chúng ta.

Tiến đến năm 2030, chúng ta cần có tâm thế tránh tự giới hạn những lựa chọn của bản thân, bằng cách đổi mới và duy trì sự giàu có hữu hạn của mình. Sự thay đổi thích nghi hàng ngày và tư duy đa chiều sẽ cùng hợp sức ngăn chặn vấn nạn biến đổi khí hậu và các mối đe dọa toàn cầu khác nếu chúng ta áp dụng nhiều hành vi thân thiện với môi trường hơn.

❀ ❀ ❀

[1] Khi dân số bị sụt giảm nghiêm trọng.

Dịch giả: Vũ Kiều Linh
Nguồn: TVE-4U
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 18 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.