Đến năm 2030, gần một nửa doanh nghiệp mới trên thế giới sẽ là của phụ nữ. Chúng ta hãy xem câu chuyện của Anu Ancharya. Sau khi học xong ở Mỹ, cô quyết định trở về Ấn Độ theo mô hình luân chuyển chất xám đã đề cập trong Chương 1 và mở công ty chuyên outsource (thuê ngoài) về hệ gen, tên là Ocimum Biosolutions. Sau 15 năm hoạt động và mua thêm ba công ty khác ở châu Âu và Mỹ, công ty cô đã trở thành một trong những doanh nghiệp hàng đầu trong ngành y sinh toàn cầu. Là mẹ của hai cô con gái nhỏ, Anu phải đưa ra những lựa chọn rất khó khăn để cân bằng giữa công việc và gia đình. “Con tôi giờ đã khá quen với việc tôi ít khi có mặt ở nhà”. Gia đình Anu sống với nhà chồng và họ đã hỗ trợ trong việc nuôi dạy các cháu. Công ty cô cho nhân viên được nghỉ thai sản ba tháng nguyên lương. “Công ty này là nơi làm việc rất tốt, nhất là đối với phụ nữ. Ở đây có thời gian làm việc linh hoạt”, Jaishree Ravi, Trợ lý phó chủ tịch Hệ thống chất lượng, cũng là một trong những nhân viên đầu tiên của Ocimum cho biết. “Nếu như phải họp phụ huynh thì tôi vẫn có thể đi dự, rồi sau đó trở lại làm, miễn là tôi hoàn thành đủ chín giờ làm việc trong ngày”.
Không chỉ mình Anu và Jaishree phải chống lại những áp lực bủa vây do vừa phải làm mẹ vừa phải đi làm. “Năm 2007, tôi đã trải qua một cuộc ly hôn khó khăn (và bất ngờ)”, Melissa, một phụ nữ sắp ngũ tuần nói. Bà có một con trai đang học đại học và hai cô con gái sinh đôi tuổi teen. Bà phải tạm nghỉ công việc giáo viên cho đến khi con cái bắt đầu đi học, và sau đó làm việc bán thời gian để dành nhiều thời gian nhất cho con. Bà chia sẻ: “Một trong những điều tôi nhận ra khi trở lại làm việc và phải cân bằng với cuộc sống gia đình đó là tôi sẽ không thể hy sinh thời gian tiễn con đến trường mỗi sáng”. Tương tự rất nhiều phụ nữ có học thức khác trong thế hệ của mình, Melissa đã phải đưa ra nhiều chọn lựa đánh đổi khó khăn, mà cánh đàn ông không hề phải đối mặt.
Khoảng 70% các bà mẹ Mỹ phải đi làm, trong đó hơn một nửa là do tình thế bắt buộc: Họ không có tiền nếu chỉ ở nhà hoặc làm việc bán thời gian. Helen Bechtol là bà mẹ 23 tuổi có hai con, năm và bốn tuổi. Cô mong sẽ vào được trường cao đẳng cộng đồng ở Bắc Carolina. Cô kể: “Hiện tại, tôi làm phục vụ quầy vào các buổi chiều đến 6 giờ từ thứ Hai đến thứ Sáu tại một quán bar nhỏ ở nông thôn. Và cuối tuần tôi làm nhiếp ảnh gia tự do”. Cô sống với bố mẹ để họ có thể hỗ trợ càng nhiều càng tốt. “Tôi đang trả khoảng 650-700 USDtháng tiền trông trẻ, xin tem phiếu thực phẩm… hàng tháng tôi nhận được khoảng 300 USD từ bố bọn trẻ hỗ trợ tiền nuôi con”.
Cô Wileidy Ortiz, người phải nghỉ học và đi làm tại một cửa hàng bán lẻ ở trung tâm mua sắm Prudential Centre Boston, cho biết: “Tôi không muốn con trai mình nghĩ rằng làm nhân viên bán hàng và kiếm được 8,50 USDgiờ là ổn”. Cô mang thai khi chỉ mới 19 tuổi. Năm cô ba tuổi, cha cô bị bắn chết tại quê nhà Puerto Rico, và mẹ cô qua đời vì bệnh ung thư sau khi họ chuyển đến ở gần với người thân tại Boston. Bố của con cô không chia sẻ tiền nuôi con. Cô đang phải nhận hỗ trợ thực phẩm và xăng dầu. Cũng như Bechtol, Ortiz không thể ở nhà ôm con.
Đối với những phụ nữ có đủ điều kiện kinh tế ở nhà mà không phải đi làm, quyết định này cũng không hề dễ dàng. Xã hội có sự kỳ thị với những phụ nữ ở nhà, khiến họ lo sợ sẽ khó hoặc không thể quay lại làm việc. Terry Spraitz Ciszek, một y tá chuyên nghiệp, giải thích: “Thật đau khổ đến mức nào khi phải để con ở nhà với người khác”. Các con bà giờ đã ngoài 30. Việc ở nhà “làm tổn thương đến lòng tự trọng và cái tôi khi xung quanh mọi người vẫn thăng tiến trên con đường sự nghiệp… Nó thật sự hạ thấp lòng tự tôn của bạn, và tất cả báo chí đều cổ xúy cho điều đó. Những năm 70, họ toàn nói rằng ‘phụ nữ có thể làm tất cả’, và tôi không thể quên các quảng cáo của Virginia Slims[1]”. Chồng Terry là bác sĩ nên họ có đủ điều kiện chi trả cho cuộc sống xa xỉ của tầng lớp trung thượng lưu chỉ từ nguồn thu nhập của người chồng.
Sự gián đoạn trong sự nghiệp có thể khiến mức thu nhập của người phụ nữ bị ảnh hưởng. Một nghiên cứu MBA của Đại học Chicago cho thấy những phụ nữ nghỉ làm từ ba năm trở lên phải chịu bất lợi với mức lương thấp hơn khoảng 40% so với nam giới cùng điều kiện. Một số các cố vấn và tác giả như Joanne Cleaver khuyên rằng “bước chân hoàn toàn ra khỏi con đường sự nghiệp là tự sát. Đừng làm điều đó”. Thật ngạc nhiên, tỷ lệ sinh giảm đã mang đến cho các bà mẹ cơ hội quay trở lại con đường sự nghiệp. Lý do là khi dân số bị già hóa, nguồn nhân lực có trình độ cũng bị thu hẹp. Trong nhiều thập niên, hàng triệu phụ nữ Nhật Bản có trình độ học vấn cao đã nghỉ việc sau khi kết hôn. Giờ đây, họ đang quay trở lại lực lượng lao động với số lượng lớn khi các công ty cần người một cách tuyệt vọng. Tính đến năm 2018, tỷ lệ phụ nữ Nhật Bản đi làm lớn hơn so với phụ nữ Mỹ ở mọi độ tuổi, trừ nhóm tuổi dưới 24. Khoảng 71% phụ nữ Nhật Bản trong độ tuổi lao động hiện đang có việc làm, một tỷ lệ cao nhất trong nhiều thập niên, và cũng là một trong những mức cao nhất thế giới. Với chiều hướng này trong thập niên qua, đến năm 2030, tỷ lệ phụ nữ Nhật Bản đi làm có thể đạt gần bằng nam giới, dao động khoảng 86%. Tuy nhiên, tình trạng phân biệt đối xử về lương vẫn rất phổ biến và các bà mẹ vẫn phải đảm nhiệm phần lớn việc nhà và chăm sóc con cái. “Ý thức của đàn ông còn quá kém”, một nhà thiết kế đồ họa có hai con phàn nàn. “Chồng tôi không hề có khái niệm gì về bình đẳng giới”.
Vấn đề cân bằng giữa công việc và gia đình được nhiều nước trên thế giới quan tâm, đặc biệt là những quốc gia lo ngại về vấn đề dân số già và khả năng duy trì hệ thống phúc lợi trong tương lai. Năm 1996, Liên Hiệp Quốc báo cáo chỉ có 35% chính phủ các quốc gia có tỷ lệ sinh thấp - trong tổng số khoảng 70 nước - là có chính sách giải quyết vấn đề này. Đến năm 2015, tỷ trọng này tăng lên 59%. Các chính sách phổ biến nhất là nghỉ thai sản nguyên lương (chỉ còn một quốc gia chưa thực hiện), xây dựng cơ sở chăm sóc trẻ (88%), trợ cấp nuôi con (85%), và nghỉ có con nguyên lương (dành cho người cha) (64%). Cũng cần biết là phụ nữ phải dành trung bình 4 tiếngngày để làm việc nhà, kể cả chăm sóc con cái, trong khi nam giới chỉ dành 1,7 giờ, theo ước tính của Liên Hiệp Quốc.
Cân bằng công việc - gia đình luôn là một chủ đề gây tranh cãi. Có lẽ quan trọng nhất là cách mọi người chọn để giải quyết vấn đề: hợp nhất công việc với cuộc sống gia đình hay tách chúng ra thành hai phần riêng biệt. Đồng nghiệp của tôi ở Trường Wharton, Nancy Rothbard, cùng với Katherine Phillips và Tracy Dumas, đã đặt câu hỏi này cho gần 500 nhân viên Mỹ. Họ nhận thấy rằng những người thích tách biệt công việc và gia đình thường cảm thấy ít hài lòng và ít tận tụy với công ty hơn khi được hỗ trợ các chương trình tích hợp như chăm sóc trẻ em tại nơi làm việc, nhưng họ lại vui vẻ và cam kết hơn nếu công ty cho họ thời gian làm việc linh hoạt, nhờ đó họ có thể thay đổi giờ bắt đầu và kết thúc ngày làm việc.
Cũng nên ghi nhận những lợi ích phụ nữ mang lại cho nền kinh tế khi tích cực tham gia vào lực lượng lao động. Theo nhà xã hội học Đan Mạch Gosta Esping-Andersen, khi phụ nữ đi làm họ sẽ kích thích sự phát triển thị trường của các hoạt động dịch vụ mà họ từng làm ở nhà trước đây. Đến năm 2030, nếu có thêm nhiều phụ nữ ở các nước đang phát triển tham gia lao động, thì nền kinh tế châu Phi, Trung Đông và Nam Á sẽ tăng trưởng nhanh hơn, thúc đẩy sự mở rộng của tầng lớp trung lưu đã được nhắc đến ở Chương 3.
❀ ❀ ❀
[1] Công ty thuốc lá Mỹ nổi tiếng, nhắm vào người tiêu dùng là phụ nữ.