“Tàu hỡi, có thấy con Cá voi Trắng ở đâu không?”
Ahab cất tiếng gọi lớn khi một lần nữa chạm trán một chiếc tàu giương cờ Anh đang tiến sát lại phía đuôi tàu hắn. Tay cầm loa áp vào miệng, lão đứng vững trong chiếc xuồng mạn được cẩu lên, để lộ rõ chiếc chân ngà trước mặt viên thuyền trưởng lạ mặt đangngả người thoải mái ở mũi xuồng của ông ta. Đó là một người đàn ông da ngăm đen, vạm vỡ, tốt tính và có diện mạo ưu nhìn, tuổi chừng sáu mươi, khoác một chiếc áo rộng thụng may bằng vải nỉ xanh buông thõng những nếp gấp; một bên ống tay áo trống không cứ bay phần phật phía sau như vạt tay áo thêu trên chiến bào của lính khinh kỵ.
“Có thấy con Cá voi Trắng ở đâu không?”
“Anh có thấy cái này không?” Nói rồi, ông rút tay ra khỏi những nếp áo che khuất nãy giờ, giơ cao một cánh tay trắng bệch làm bằng xương cá nhà táng, tận cùng là một khối gỗ tròn trĩnh trông như cái vồ.
“Xuống xuồng mau!” Ahab ra lệnh với giọng đầy nôn nóng, đoạn vung vẩy mấy cây dầm gần đó. “Chuẩn bị hạ xuồng!”
Chưa đầy một phút sau, vẫn không rời khỏi chiếc xuồng nhỏ của mình, lão cùng đám thủy thủ đã thả xuống mặt nước và nhanh chóng áp sát chiếc tàu lạ. Nhưng lúc này, một rắc rối oái oăm lại xuất hiện. Trong lúc cao hứng, Ahab quên bẵng mất rằng kể từ khi mất đi chiếc chân, chưa một lần nào lão bước lên boong của bất kỳ con tàu nào trên biển ngoài con tàu của chính mình, nơi mà việc lên xuống vẫn thường được thực hiện nhờ một cơ cấu cơ khí khéo léo và tiện lợi vốn là nét đặc trưng riêng của tàu Pequod—một thiết bị chẳng thể nào lắp đặt và chuẩn bị kịp trên một con tàu khác chỉ trong chớp mắt. Giờ đây, việc trèo từ một chiếc xuồng lên mạn tàu giữa biển khơi vốn không phải chuyện dễ dàng đối với bất kỳ ai—ngoại trừ những thợ săn cá voi đã quá quen thuộc với công việc này từng giờ; bởi những con sóng lớn lúc thì nâng bổng chiếc xuồng lên tận bờ lan can, khi thì lập tức kéo tụt nó xuống lưng chừng tận sống tàu. Thế là, bị tước mất một chân, trong khi con tàu lạ thì đương nhiên chẳng có sẵn phát minh tiện ích kia, Ahab bỗng thấy mình rơi vào cảnh bất lực chẳng khác nào một kẻ đi biển vụng về; lão tuyệt vọng nhìn độ cao chông chênh, biến đổi liên tục mà bản thân khó lòng với tới.
Có lẽ từ trước đến nay, người ta đã ngầm hiểu rằng mọi rắc rối dăm ba điều bất thành lụy đến lão, vốn xuất phát gián tiếp từ tai họa cay đắng kia, hầu như lúc nào cũng khiến Ahab nổi giận hoặc phát điên lên. Và trong hoàn cảnh hiện tại, tâm trạng ấy càng bị đẩy lên cao hơn khi lão nhìn thấy hai sĩ quan trên con tàu lạ đang ngả người qua mạn, bám vào chiếc thang dây thẳng đứng làm bằng những thanh gỗ đóng đinh trên thành tàu, đồng thời thả đu đưa xuống chỗ lão một cặp dây đu bám được trang trí khá nhã nhặn; bởi thoạt đầu, dường như họ chưa kịp nghĩ rằng một kẻ cụt chân chắc chắn quá tàn tật để có thể dùng đến những tay vịn trên biển ấy. Nhưng sự vụng về này chỉ kéo dài vỏn vẹn một phút, bởi viên thuyền trưởng tàu lạ, chỉ thoáng nhìn qua là hiểu ngay tình hình, liền lớn tiếng quát: “Ta thấy rồi, ta thấy rồi!—Thôi kéo lên! Bay đâu, nhảy qua đó và đu dây cẩu mỡ xuống đây cho ta.”
Thật may mắn làm sao, chỉ một hai ngày trước họ vừa săn được một con cá voi và neo sát mạn tàu, những bộ ròng rọc lớn vẫn còn treo ở giàn giáo trên cao, cùng chiếc móc mỡ cong cớnh, giờ đây đã được chùi rửa sạch sẽ và khô ráo, vẫn còn mắc ở đầu dây. Nó nhanh chóng được hạ xuống cho Ahab, kẻ đã lập tức hiểu ra ý đồ, liền luồn vế đùi duy nhất của mình vào khúc cong của chiếc móc (trông y như đang ngồi trên ngạnh mỏ neo hoặc chạc cây táo), rồi ra lệnh kéo lên, tự mình bám chắc lấy đồng thời góp sức kéo thêm trọng lượng của chính thân mình bằng cách bám tay nối tiếp tay vào một trong những sợi dây đang chuyển động của hệ thống ròng rọc. Chẳng mấy chốc, lão đã được cẩu an toàn vào phía trong bờ lan can cao, và nhẹ nhàng đặt chân xuống đỉnh tời. Với cánh tay ngà chìa ra đầy thân thiện để chào đón, vị thuyền trưởng kia bước tới, còn Ahab thì chìa chiếc chân ngà ra, đan chéo với cánh tay ngà (trông như hai lưỡi kiếm cá kiếm) rồi cất giọng khàn đục như tiếng hải mã: “Chà chà, bạn hiền! Lại đây tay bắt mặt mừng nào!—Một tay một chân!—Một cánh tay đời nào co lại, thấy chưa; và một cái chân đời nào chạy được. Anh đã thấy con Cá voi Trắng ở đâu?—Cách đây bao lâu rồi?”
“Cá voi Trắng á,” vị thuyền trưởng người Anh vừa nói, vừa chĩa cánh tay ngà về phía Đông, nheo mắt ngắm nghía dọc theo chiều dài của nó hệt như đang dòm qua một ống kính thiên văn; “tôi đã thấy nó ở đó, ngoài vùng Xích Đạo, vào mùa trước.”
“Và chính nó đã giật đứt cánh tay anh phải không?” Ahab hỏi, đoạn trượt xuống từ đỉnh tời và tỳ tay lên vai người đàn ông Anh quốc.
“Phải, ít ra thì nó cũng là nguyên nhân; và cả cái chân kia nữa chứ?”
“Kể cho tôi nghe sự thể xem nào,” Ahab giục; “đầu đuôi thế nào thế?”
“Đó là lần đầu tiên trong đời tôi đi săn ngoài vùng Xích Đạo,” vị người Anh bắt đầu kể. “Lúc bấy giờ tôi hãy còn mù tịt về con Cá voi Trắng. Ấy là vào một ngày nọ, chúng tôi hạ xuồng đuổi theo một bầy chừng bốn năm con, và xuồng của tôi đã phóng lao dính chặt vào một con; nó đúng là một con ngựa rạp xiếc thực sự, cứ quay vòng tròn mãi khiến đám thủy thủ trên xuồng của tôi chỉ còn biết ngồi dồn cả mông lên mạn ngoài để giữ thăng bằng chiếc xuồng. Bỗng đâu từ đáy biển vọt lên một con cá voi to lớn khổng lồ, với cái đầu và cái bướu trắng tựa sữa, chi chít những vết nhăn nheo hằn sâu như vết chân chim.”
“Chính là nó, chính là nó rồi!” Ahab kêu lên, bất giác thở phào sau khi nín thỏm nãy giờ.
“Và mấy cây lao hãy còn cắm phập ở gần vây phải của nó nữa.”
“Ừ, đúng rồi—đấy là lao của tôi—vũ khí của tôi,” Ahab hân hoan thốt lên—“nhưng kể tiếp đi!”
“Thì hãy để tôi thong thả kể chứ,” người Anh vui vẻ đáp. “Số là, cái lão tổ tông mang đầu và bướu trắng ấy lao bổ vào giữa bầy cá với hàng đống bọt nước sủi trắng xóa, rồi điên cuồng cắn xé sợi dây đang dính chặt lấy lao của tôi!”
“À, tôi hiểu rồi!—nó muốn làm đứt sợi dây; để gỡ con mồi đã dính câu—một chiêu trò cũ rích—tôi lạ gì nó nữa.”
“Chính xác ngọn ngành thế nào,” viên thuyền trưởng cụt một tay tiếp lời, “thì tôi không rõ lắm; nhưng trong lúc cắn sợi dây, răng nó vướng phải dây, cứ thế kẹt cứng ở đó tự bao giờ; lúc bấy giờ chúng tôi nào có hay biết gì; thế nên khi chúng tôi tiếp tục kéo căng sợi dây, oành một cái, chúng tôi bị giật tung người cắm thẳng vào cái bướu của nó! thay vì bám vào con cá voi kia; con đó thì đã quẫy đuôi bơi thốc về phía ngược gió. Thấy tình hình lúc bấy giờ và nhận ra đó là một con cá voi vĩ đại nhường nào—con vật cao cả và to lớn nhất mà tôi từng thấy trong đời, thưa anh—tôi quyết tâm bắt cho bằng được nó, mặc cho cơn giận dữ ngút trời mà nó đang chực chờ trút xuống. Và nghĩ rằng sợi chiếc dây ngẫu nhiên kia rồi sẽ tuột mất, hoặc cái răng đang vướng sợi dây có thể bị nhổ toác ra (vì đám thủy thủ trên xuồng của tôi nổi tiếng là những kẻ kéo dây cá voi cực kỳ lịm sức); thấy rõ những điều đó, tôi liền nhảy sang chiếc xuồng của viên thuyền phó—anh chàng Mounttop đây (nhân tiện xin giới thiệu, thưa thuyền trưởng—Mounttop; Mounttop—thuyền trưởng);—như tôi vừa nói đấy, tôi nhảy sang xuồng của Mounttop, lúc bấy giờ đang sóng đôi sát rạt với xuồng của tôi; rồi chộp lấy cây lao đầu tiên, phang ngay một nhát vào cái lão tổ tông này. Nhưng lạy Chúa, xin ngài ngó lại xem—hỡi những tâm hồn sống trên đời này, chỉ trong chớp mắt, tôi đã mù tịt như dơi—cả hai mắt đều tối sầm—mọi thứ mù mịt và tê dại giữa một biển bọt đen ngòm—chiếc đuôi cá lù lù chổng ngược lên tận không trung, thẳng đứng như một ngọn tháp cẩm thạch. Lúc đó có lùi xuồng cũng chẳng ích gì; nhưng trong lúc tôi đang mò mẫm giữa ánh nắng chói chang giữa trưa hắt thẳng xuống đỉnh đầu; trong lúc tôi đang mò mẫm, tôi nói vậy đấy, để tìm cây lao thứ hai định quăng xuống biển—thì chiếc giáng đuôi xuống hệt như ngọn tháp Lima, chẻ đôi chiếc xuồng của tôi ra, biến mỗi nửa thành những mảnh vụn nát; và với phần đuôi cắm xuống trước, cái bướu trắng lao thẳng qua đống đổ nát hệt như lướt qua một bãi dăm bào. Tất cả chúng tôi đều bơi dạt ra. Để thoát khỏi những đòn roi chí mạng của nó, tôi bám lấy cán cây lao hãy còn cắm trên thân nó, và có khoảnh khắc bám chặt vào đó hệt như một con cá bám. Nhưng một con sóng lừng bủa tới hất phăng tôi ra, và ngay khoảnh khắc ấy, con cá tung một cú lao mạnh mẽ về phía trước, chìm nghỉm xuống đáy biển nhanh như chớp; và ngạnh của cây lao thứ hai khốn kiếp cứ lướt đi sát cạnh tôi ấy đã tóm lấy tôi ở đây” (ông vỗ tay vào ngay phía dưới vai); “phải, tóm lấy tôi ngay chỗ này đây, và kéo tôi xuống tận ngọn lửa của Địa ngục, tôi cứ đinh ninh là thế; thì, thì, bỗng nhiên, tạ ơn Chúa nhân từ, cái ngạnh lao đã xé toạc lớp thịt của tôi—róc thẳng suốt cả chiều dài cánh tay—lòi ra gần cổ tay, và thế là tôi nổi bồng bềnh lên;—còn vị quý ông đằng kia sẽ kể cho anh nghe phần còn lại (nhân tiện xin giới thiệu, thưa thuyền trưởng—Tiến sĩ Bunger, bác sĩ tàu: Bunger, anh bạn trẻ của tôi,—đây là thuyền trưởng). Nào, chàng trai Bunger, hãy kể nốt phần của anh đi.”
Vị nhân sĩ ngành y tế được điểm mặt chỉ tên một cách thân mật nãy giờ vẫn đứng gần đó, trên người chẳng có dấu hiệu gì đặc trưng để biểu thị cấp bậc quý ông của mình trên tàu. Gương mặt ông ta tròn vo nhưng vô cùng đầm tính; ông khoác một chiếc áo blouse hoặc áo sơ mi bằng len màu xanh đã bạc màu và chiếc quần vá chằng vá đùm; nãy giờ vẫn đang chia sẻ sự chú ý giữa một chiếc giũa chốt giắt ở một tay và một hộp thuốc nhỏ cầm ở tay kia, thỉnh thoảng lại đưa ánh mắt săm soi nhìn những chiếc chân ngà của hai vị thuyền trưởng tàn tật. Thế nhưng, khi người cấp trên giới thiệu ông với Ahab, ông lịch sự cúi đầu và lập tức tuân lệnh vị thuyền trưởng của mình.
“Đó là một vết thương tồi tệ khủng khiếp,” vị bác sĩ cá voi mở lời; “và theo lời khuyên của tôi, Thuyền trưởng Boomer đây đã cho chiếc tàu Sammy già cỗi của chúng ta—”
“Samuel Enderby là tên tàu của tôi,” vị thuyền trưởng cụt tay ngắt lời, hướng về phía Ahab; “cứ nói tiếp đi, anh bạn.”
“Đã cho chiếc Sammy già cỗi của chúng ta chạy ngược lên phía bắc, để tránh cái nóng như thiêu như đốt ngoài vùng Xích Đạo ấy mà. Nhưng chẳng ăn thua gì—tôi đã làm tất cả những gì có thể; thức trắng đêm với ông ấy; kiểm soát rất ngặt nghèo chuyện ăn uống của ông ấy—”
“Ồ, ngặt nghèo lắm chứ lỵ!” chính bệnh nhân chen ngang; rồi đột nhiên đổi giọng, “Tối nào hắn cũng nốc rượu rum pha nóng với tôi, cho đến khi không còn thấy đường để quấn băng; rồi tống tôi lên giường, say khướt ngất ngây, vào khoảng ba giờ sáng. Ôi, hỡi các vì sao! Hắn thức canh tôi thật đấy, và kiểm soát chế độ ăn uống của tôi ngặt nghèo lắm thay. Ồ! Lão bác sĩ Bunger đúng là kẻ thức đêm cừ khôi và vô cùng nghiêm ngặt về ăn uống. (Bunger, đồ chó con, cười lên xem nào! Sao lại không cười? Anh biết rõ mình là một gã tiểu nhân cực kỳ vui tính mà). Nhưng nói tiếp đi cậu thanh niên, tôi thà bị cậu giết quách đi còn hơn là được cứu sống bởi bất kỳ kẻ nào khác.”
“Thưa vị quý ông đáng kính, hẳn là ngài cũng đã nhận ra từ nãy đến giờ,” vị bác sĩ Bunger với vẻ ngoài đạo mạo, điềm nhiên khẽ cúi đầu chào Ahab—“vị thuyền trưởng của chúng tôi đôi khi hay đùa cợt lắm; ông ấy thường kể cho chúng tôi nghe khối chuyện hay ho kiểu đó. Nhưng tôi cũng xin phép được nói thêm—en passant, như người Pháp hay nói—rằng chính bản thân tôi—nghĩa là Jack Bunger, cựu giáo sĩ thuộc hàng giáo phẩm—lại là một người tuân thủ tuyệt đối nguyên tắc kiêng khem; tôi chẳng bao giờ uống—”
“Nước lã!” vị thuyền trưởng la lên; “hắn chẳng bao giờ uống nước cả; cứ như thể hắn bị chứng bệnh động kinh vậy; nước ngọt làm hắn phát bệnh sợ nước; nhưng thôi, kể tiếp chuyện cánh tay đi.”
“Vâng, tôi xin phép tiếp tục,” vị bác sĩ điềm tĩnh nói. “Tôi đang định thưa rằng, thưa ngài, trước khi bị ngắt lời bởi màn trêu chọc của Thuyền trưởng Boomer, rằng mặc cho những nỗ lực tốt nhất và nghiêm ngặt nhất của tôi, vết thương vẫn ngày càng trở nên tồi tệ hơn; sự thật là, thưa ngài, đó là một vết thương hác miệng gớm ghiếc nhất mà một bác sĩ từng chứng kiến; dài hơn hai thước và thêm mấy inch nữa. Tôi đã đo nó bằng dây dọi. Tóm lại, nó chuyển sang màu đen; tôi thừa biết chuyện gì sắp xảy ra, thế là phải cắt cụt nó đi. Nhưng tôi hoàn toàn không nhúng tay vào việc lắp chiếc cánh tay ngà kia; thứ đó đi ngược lại mọi nguyên tắc”—ông chỉ tay vào nó bằng chiếc giũa chốt—“đó là tác phẩm của thuyền trưởng, không phải của tôi; chính ông ấy ra lệnh cho người thợ mộc làm ra nó; ông ta còn cho lắp cả cái đầu búa tạ ở tận cùng để đập vỡ sọ ai đó, chắc là thế, hệt như ông ấy từng định làm với đầu tôi một lần. Thỉnh thoảng ông ta nổi những cơn cuồng nộ đáng sợ lắm. Ngài có thấy vết lõm này không, thưa ngài”—ông vừa nói vừa cở phăng chiếc mũ, vén tóc sang một bên để lộ ra một khoảng lõm tròn hệt như cái bát trên hộp sọ, nhưng hoàn toàn chẳng có lấy một vết sẹo nhỏ hay dấu tích nào cho thấy đó từng là một vết thương—“À, vị thuyền trưởng đằng kia sẽ kể cho ngài nghe nó xuất hiện ở đây thế nào; ông ấy rõ lắm.”
“Không, tôi chịu,” vị thuyền trưởng đáp, “nhưng mẹ hắn thì biết; hắn sinh ra đã có sẵn nó rồi. Ồ, cái gã láu cá nghiêm nghị này—anh Bunger ạ! Trên thế gian ngập nước này đã từng có ai giống như lão Bunger chưa cơ chứ? Bunger này, khi nào chết đi, anh nên chết ngâm trong nước muối đi thôi, đồ chó con ạ; anh cần phải được bảo quản cho hậu thế mới đúng, đồ tiểu nhân.”
“Thế còn con Cá voi Trắng ra sao?” lúc này Ahab mới cất tiếng hỏi, nãy giờ lão vẫn kiên nhẫn lắng nghe màn kịch phụ giữa hai người Anh.
“Ồ!” vị thuyền trưởng cụt tay thốt lên, “ừ nhỉ! Số là; sau khi nó lặn sâu xuống, chúng tôi không còn nhìn thấy nó trong một thời gian; quả thực, như tôi đã hé lộ từ trước, lúc ấy tôi nào biết con cá voi nào đã giở trò hiểm ác với mình mãi cho đến tận sau này, khi quay trở lại vùng Xích Đạo, chúng tôi nghe người ta bàn tán về Moby Dick—tên mà một số kẻ gọi nó—và lúc đó tôi mới biết chính là nó.”
“Anh có cắt ngang đường đi của nó lần nữa không?”
“Hai lần.”
“Nhưng không phóng lao dính được sao?”
“Chẳng muốn thử ấy chứ: chẳng lẽ một tay chưa đủ sao? Tôi biết làm sao nếu thiếu nốt cánh tay còn lại này? Và tôi ngẫm ra Moby Dick không cắn nhiều bằng nuốt chửng.”
“Thế thì,” Bunger chen vào, “anh hãy dâng cánh tay trái của mình làm mồi để câu lại tay phải xem sao. Các ngài có biết không”—ông lần lượt cúi đầu thật trang trọng và chuẩn mực trước từng vị Thuyền trưởng—“Các ngài có biết rằng các cơ quan tiêu hóa của cá voi được Đấng Quan Phòng thiết kế một cách vô cùng kỳ diệu đến mức nó hoàn toàn không thể tiêu hóa nổi dù chỉ là một cánh tay của con người không? Và bản thân nó thừa biết điều đó. Thế nên thứ mà các ngài lầm tưởng là sự thù hằn của Cá voi Trắng thực ra chỉ là sự vụng về của nó mà thôi. Bởi nó chẳng bao giờ có ý định nuốt chửng một chi nào cả; nó chỉ định hù dọa bằng những cú vờ vĩnh mà thôi. Nhưng thỉnh thoảng nó lại giống như gã hề già, trước kia từng là bệnh nhân của tôi ở Xích Tích-lân, kẻ giả vờ nuốt những con dao nhíp, có lần đã để một con lọt tọm vào bụng thật và nó nằm ì ở đó suốt cả một năm trời hoặc hơn thế; cho đến khi tôi cho hắn uống thuốc gây nôn, và hắn đã ọe ra toàn những chiếc đinh tán nhỏ, các ngài thấy chưa. Chẳng có cách nào để hắn tiêu hóa nổi con dao nhíp đó và đồng hóa nó hoàn toàn vào hệ thống cơ thể nói chung được đâu. Phải, thưa Thuyền trưởng Boomer, nếu anh đủ nhanh chân, và có nhã ý đem cầm cố một cánh tay để đánh đổi lấy cái đặc quyền được chôn cất đàng hoàng cho cánh tay kia, thì ừ đấy, cánh tay đó là của anh; chỉ cần để con cá voi có thêm một cơ hội nữa tóm lấy anh nay mai thôi, thế là hết.”
“Không, cảm ơn anh nhé, Bunger,” vị Thuyền trưởng người Anh đáp, “nó cứ việc giữ lấy cánh tay mà nó đang có đi, vì tôi chẳng thể làm gì khác được, và lúc đó tôi nào có biết mặt mũi nó ra sao; nhưng đừng hòng có thêm cái thứ hai nữa. Chấm dứt chuyện Cá voi Trắng với tôi thế là đủ; tôi đã hạ xuồng săn nó một lần, và thế là tôi thỏa mãn rồi. Tôi thừa biết việc giết được nó sẽ mang lại vinh quang lớn lao nhường nào; và trong người nó chứa cả một tàu mỡ cá quý giá, nhưng này, nghe tôi đây, tốt nhất là cứ để mặc nó đi; anh không nghĩ thế sao, thưa Thuyền trưởng?”—ông liếc nhìn chiếc chân ngà.
“Đúng vậy. Nhưng dù thế nào thì người ta vẫn cứ săn đuổi nó thôi. Thứ gì càng nên tránh xa, thì thứ ma quỷ quái gở đó lại càng dễ khơi gợi lòng ham muốn. Nó chẳng khác gì một thỏi nam châm khổng lồ! Lần cuối cùng anh thấy nó là cách đây bao lâu? Nó đang bơi theo hướng nào?”
“Lạy Chúa tôi, và nguyền rủa cái tên ma quỷ khốn kiếp,” Bunger vừa lẩm bẩm vừa lom khom đi vòng quanh Ahab, hít hà một cách kỳ lạ hệt như một con chó; “máu của con người này—hãy mang nhiệt kế lại đây!—nó đang ở nhiệt độ sôi rồi!—nhịp đập của lão khiến những tấm ván tàu này rung lên!—thưa ngài!”—ông rút một con dao trích từ trong túi ra và tiến lại gần cánh tay của Ahab.
“Đứng lại!” Ahab gầm lên, hất văng hắn ngã nhào vào mạn tàu—“Xuống xuồng mau! Nó đang bơi hướng nào?”
“Lạy Chúa!” vị Thuyền trưởng người Anh, kẻ vừa được hỏi, thốt lên. “Có chuyện gì thế? Hắn đang bơi về hướng đông, tôi nghĩ vậy.—Thuyền trưởng của các anh bị điên à?” ông thì thầm với Fedallah.
Nhưng Fedallah chỉ đặt một ngón tay lên môi, lặng lẽ trượt qua mạn tàu để nắm lấy cây dầm lái của chiếc xuồng, còn Ahab thì vung chiếc ròng rọc mỡ về phía mình, ra lệnh cho đám thủy thủ chuẩn bị hạ xuồng xuống nước.
Chỉ trong tích tắc, lão đã đứng vững ở đuôi xuồng, và đám thủy thủ người Manilla đang rướn người bơi chèo. Mọi lời gọi với theo của vị Thuyền trưởng người Anh đều trở nên vô ích. Với tấm lưng quay về phía con tàu lạ và gương mặt cứng cỏi như đá nhìn chằm chằm về phía con tàu của mình, Ahab đứng thẳng người cho đến tận khi xuồng cập sát mạn tàu Pequod.