Vương Miện Oliu Hoang Dã

Lượt đọc: 203 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
(Đọc Tại Học Viện Pháo Binh Hoàng Gia, Woolwich, Ngày 14 Tháng 12 Năm 1869.)

❊ ❊ ❊

Tôi rất muốn chỉ bộc lộ những cảm xúc tự phát trong phút chốc, nhưng e rằng mình không tìm được những lời lẽ rõ ràng — thậm chí khi suy nghĩ kỹ, tôi cũng khó lòng tìm ra — để bày tỏ cho quý vị hay tôi cảm thấy vinh hạnh ra sao, nhưng đồng thời cũng hổ thẹn thế nào khi nhận lời cho phép được đứng đây trò chuyện cùng quý vị. Hổ thẹn vì có vẻ như tôi đang nghĩ mình có thể truyền đạt cho quý vị một chân lý nào đó mà quý vị chưa từng cảm nhận sâu sắc hơn tôi; nhưng đồng thời lại mừng vì nghĩ rằng vốn sống ít ỏi của mình, cùng một lối sống được che chở khỏi những thử thách và không phải gánh vác những trọng trách như quý vị, có lẽ đã ban cho tôi chút ít sự ngây thơ, trợ lực giống như trẻ thơ dành cho quý vị; một niềm tin chắc chắn, có lẽ đây sẽ là điều duy nhất có ích cho những con người đã trải qua quá nhiều để rồi không ít lần thất bại trong việc đạt được trọn vẹn những gì họ hằng mong ước. Và quả thực, ngay cả những người lạc quan nhất trong số chúng ta, giờ đây cũng không khỏi lo âu về nhiều bề. Bởi ít ra tất cả chúng ta đều nhận thức quá rõ một điều rằng, chúng ta đang đứng trước thềm một cuộc khủng hoảng chính trị lớn, nếu không muốn nói là một sự đổi thay chính trị tận gốc. Rằng một cuộc đấu tranh đang đến gần giữa thế lực dân chủ vừa trỗi dậy và thế lực phong kiến có vẻ như đang tàn lụi; cùng một cuộc đấu tranh khác, chẳng kém phần cận kề và vô cùng nguy hiểm, diễn ra giữa sự giàu có và cảnh bần cùng. Hai mối bất hòa này thường bị đánh đồng là một. Chúng đang diễn ra song hành, và một thứ lợi ích thoạt nhìn có vẻ chung đã gắn kết đa phần giới triệu phú với tầng lớp quý tộc trong công cuộc chống lại một đám đông đang kêu gào, một nửa đòi bánh mì, một nửa đòi tự do.

Thế nhưng, chẳng có hai mối bất hòa nào lại rạch ròi hơn thế. Sự giàu có — thay vì là điều kiện cần của giới quý tộc — lại hoàn toàn trái ngược với nó. Trái ngược đến mức đặc trưng tiên quyết của mọi triều đại quý tộc từng dựng nên những đế chế vĩ đại trên thế giới này chính là sự nghèo khó;—thường là nghèo vì lời thề—luôn là nghèo vì lòng hào hiệp. Và ở mọi hiệp sĩ chân chính thời kỳ hiệp sĩ đạo, điều đầu tiên lịch sử kể cho quý vị nghe chính là việc họ chẳng bao giờ giữ lại của cải cho riêng mình.

Do đó, căn nguyên của sự giàu có và của giới quý tộc không hề đồng nhất, mà hoàn toàn đối lập. Mặt khác, nguyên nhân dẫn đến tình trạng vô chính phủ và nỗi khốn cùng của người nghèo cũng không phải là một, mà trái ngược nhau. Sánh vai bên nhau, cùng chung một thứ hạng, giờ đây thực ra là sự kiêu hãnh nổi dậy chống lại quyền uy, và nỗi thống khổ cất lên lời kêu oan trước lòng tham lam. Thế nhưng, thay vì chung một chiến tuyến, mọi sự hỗn loạn lại là điềm báo trước của nghèo đói, và mọi sự thịnh vượng đều khởi nguồn từ sự vâng phục. Thành ra, giờ đây người ta thấy thật bất khả thi nếu muốn dành trọn sự ủng hộ cho trật tự mà lại không mang tiếng là dung túng cho bất công; đồng thời cũng chẳng thể biện hộ một cách công bằng cho những nỗi đau mà không bị coi là đang bênh vực cho thói phóng túng.

Vậy thì, xin phép được tóm lược bằng những lời ngắm gọn nhất về bản chất của mối bất hòa muôn hình vạn trạng này, cũng như chân lý thuộc về mỗi bên. Hãy dũng cảm đối mặt với toàn bộ chân lý ấy, dù nó có ra sao đi nữa, và quyết định xem theo năng lực của mình, chúng ta nên đứng về phía nào trong cuộc tranh chấp này.

Thứ nhất. Trong suốt một nghìn một trăm năm, thiếu đúng năm năm, kể từ khi Charlemagne đội lên đầu chiếc vương miện Lombard, người dân châu Âu vẫn luôn nhẫn nại cúi đầu chịu đựng ách cai trị; thường là dưới tay các vị vua—và luôn dưới tay những thủ lĩnh đơn lẻ ở một hình thái nào đó. Thế nhưng, năm mươi năm trở lại đây, họ bắt đầu hoài nghi, và gần đây, nhiều người trong số họ đã đi đến kết luận rằng nhìn chung họ đã bị cai trị tồi, hoặc bị các vị vua của mình cai trị sai lối. Thế là họ ngày càng hô vang hơn câu nói: "Từ nay chúng ta sẽ không cần vua chúa nữa; và chẳng cần bất kỳ bộ máy chính phủ nào hết."

Giờ đây, như chúng ta đã bàn, ta phải đối mặt với toàn bộ sự thật của vấn đề để thấy mình phải làm gì. Và sự thật là người dân quả thực đã bị cai trị tồi;—rằng cho đến nay, chẳng có mấy lời tốt đẹp để nói về phần lớn những kẻ cai trị họ—và chắc chắn rằng ở nhiều nơi, họ sẽ thử nghiệm hệ thống "không có người cai trị" mới mẻ này:—và vì sự sắp xếp ấy sẽ vô cùng thỏa lòng đối với tất cả những kẻ dại dột, đồng thời, trước mắt, mang lại lợi lộc cho mọi kẻ gian xảo,—và vì những hạng người ấy chưa bao giờ thiếu thốn hay đóng vai trò mờ nhạt trong bất kỳ xã hội loài người nào,—nên cuộc thí nghiệm này rất có khả năng sẽ được triển khai trên diện rộng. Và thế giới hoàn toàn có thể bằng lòng chịu đựng muôn vàn thống khổ với niềm hy vọng mới mẻ này, vẫn cứ ôm ấp niềm tin vào tình trạng vô chính phủ, bất kể kết cục ra sao, cho đến khi không thể chịu đựng thêm được nữa.

Rồi, điều thứ hai. Người dân bắt đầu hoài nghi rằng một hình thái cụ thể của sự cai trị tồi trong quá khứ chính là việc những kẻ thống trị bắt họ phải gánh vác mọi công việc lao nhọc, trong khi bản thân bọn chúng lại vơ vét toàn bộ bổng lộc. Nói một cách ngắn gọn, cái gọi là cai trị người dân thực ra chỉ có nghĩa là xúng xính xiêm y lộng lẫy và sống sung túc trên xương máu của họ. Và tôi rất tiếc phải nói rằng, người dân hoàn toàn có lý khi nghĩ như vậy. Nếu quý vị tìm hiểu cốt lõi của vấn đề, quý vị sẽ thấy đây chính là cấu trúc bất biến của xã hội châu Âu suốt ngàn năm dưới hệ thống phong kiến; xã hội được chia thành nông dân sống bằng nghề lao động; tu sĩ sống bằng nghề khất thực; và hiệp sĩ sống bằng nghề cướp bóc; và khi trí tuệ minh mẫn của công chúng dần nhận thức được những sự thật này, chắc chắn họ sẽ không đời nào dung túng để mọi thứ tiếp tục được sắp xếp theo kiểu đó nữa; và việc mưu tính những con đường khác sẽ là một công cuộc đầy sục sôi; nhất là bởi ấn tượng ban đầu của quần chúng thông thái là, nếu như trong thời kỳ tăm tối, một nửa quốc gia sống trong cảnh nhàn rỗi, thì trong những thời kỳ tươi sáng sắp tới, toàn bộ quốc gia có thể làm được điều đó.

Giờ là điều thứ ba—và đây mới chính là giai đoạn tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng. Hệ thống cai trị tồi trong quá khứ ấy, đặc biệt là trong ba trăm năm qua, do sự lơ đễnh của mình, đã dung dưỡng trong tầng lớp hạ lưu một bộ phận mà giờ đây việc cai trị họ trở thành một bài toán vô cùng nan giải. Hệ thống ấy đã đánh mất sự tôn trọng của họ một cách đáng đời—nhưng đó chỉ là phần nhỏ nhất của tai họa. Phần chết chóc ở đây nằm ở chỗ các tầng lớp hạ lưu đã đánh mất thói quen, và cuối cùng là cả năng lực tôn trọng;—đánh mất chính khả năng kính ngưỡng, thứ vốn là phần quý giá nhất trong tâm hồn con người. Đúng bằng mức độ quý vị có thể tìm thấy những sinh linh vĩ đại hơn mình để kính ngước noi theo, thì ở mức độ đó, chính quý vị cũng được tôn vinh, và ở mức độ đó, quý vị hạnh phúc. Nếu quý vị luôn có thể sống giữa sự hiện diện của các tổng lãnh thiên thần, quý vị sẽ hạnh phúc hơn là sống giữa loài người; nhưng ngay cả khi chỉ được bầu bạn cùng những hiệp sĩ đáng kính và những quý bà xinh đẹp, họ càng cao quý, rạng ngời bao nhiêu, và quý vị càng có thể kính ngưỡng đức hạnh của họ bấy nhiêu, thì quý vị lại càng hạnh phúc bấy nhiêu. Ngược lại, nếu quý vị bị kết án phải sống giữa một đám đông những kẻ đần độn, câm lấp, dị dạng và ác độc, quý vị sẽ chẳng thể hạnh phúc nổi với cảm giác ưu việt thường trực của chính mình. Cứ thế, mọi niềm vui thực sự và năng lực tiến bộ của nhân loại đều phụ thuộc vào việc tìm thấy thứ gì đó để kính ngưỡng; và mọi sự đê tiện cùng khốn khổ của nhân loại đều khởi nguồn từ thói quen khinh miệt. Giờ đây, bởi sự cai trị tồi tệ trên diện rộng, tôi nhắc lại, chúng ta đã tạo ra ở châu Âu một tầng lớp quần chúng khổng lồ, và ngoài châu Âu còn là một tầng lớp thậm chí còn vĩ đại hơn thế, những kẻ đã đánh mất cả năng lực lẫn khái niệm về lòng kính ngưỡng;—tồn tại chỉ để tôn sùng chính bản thân mình—những kẻ chẳng thể nhìn thấy điều gì tốt đẹp xung quanh, cũng chẳng thể hình dung nổi điều gì đức hạnh ở trên cao; những kẻ đối với mọi thiện tâm và sự vĩ đại, chẳng có cảm xúc nào khác ngoài bản năng của loài sinh vật thấp kém nhất—sợ hãi, căm thù, hay đói khát; một tầng lớp quần chúng đã chìm xuống dưới tầm kêu gọi của quý vị về mặt bản tính, cũng như đã vươn lên vượt quá tầm kiểm soát của quý vị về mặt số lượng;—những kẻ mà giờ đây quý vị chẳng thể thu phục nổi dẫu có dùng bùa chú với loài rắn độc, cũng chẳng thể huấn luyện nổi dẫu có dạy dỗ loài ruồi mùa hạ.

Thưa các quý ông, đó là một cuộc khủng hoảng; và đã đến lúc phải suy ngẫm về nó. Tôi đã phác họa nó một cách thô mẫn và khái quát trước mắt quý vị trong toàn bộ sự u ám của nó. Giờ hãy cùng tìm xem chúng ta có thể thấy chút ánh sáng nào không.

Mới ngày hôm qua thôi, trên một tờ báo vốn là cơ quan ngôn luận tiêu biểu cho chủ nghĩa Bảo thủ thời đại chúng ta, và phần lớn chẳng mảy may ủng hộ các cuộc đình công hay những hành động quần chúng khác; chỉ độ ba tuần trước thôi, có một bài xã luận mang tựa đề này, hoặc đại loại thế — "Chuyển đổi của Viện Quý tộc sẽ ra sao?" Nó khiến tôi giật mình, bởi có vẻ như chúng ta đang tiến nhanh hơn cả những gì tôi từng nghĩ, khi một câu hỏi như thế lại được đưa ra bàn thảo một cách hoàn toàn công khai trên một tờ báo vốn hướng đến độc giả là tầng lớp trung lưu và thượng lưu. Dù công khai hay không—cuộc tranh luận ấy đã cận kề. Số phận của họ rồi sẽ ra sao? Và câu trả lời cho câu hỏi đó trước hết phụ thuộc vào việc liệu họ có thể trả lời được một câu hỏi khác hay không — "Họ có ích gì chứ!" Từ lâu rồi, tôi nghĩ học thuyết của quốc gia vẫn cho rằng họ hữu ích ở chỗ đóng vai trò như những vật cản trở công việc, nhằm chừa lại thời gian cho những suy tính thấu đáo lần hai. Thế nhưng đất nước đang dần trở nên thiếu kiên nhẫn với những vật cản công việc ấy; và chắc chắn, sớm hay muộn, quốc gia ấy sẽ thấy chẳng việc gì phải duy trì những chướng ngại tốn kém cho những tâm trạng thất thường của mình nữa. Và tôi chưa hề nghe thấy, dù là nơi công cộng hay từ chính miệng bất kỳ ai trong số họ, một lời bày tỏ rõ ràng nào về quan niệm của chính họ về công dụng của bản thân. Thế nên dường như mọi người đều cần phải nói với họ, hệt như người thầy vô cùng tinh tường của chúng ta, Carlyle, đã nói với chúng ta từ nhiều năm nay, rằng công dụng của giới quý tộc trong một đất nước chính là để cai trị đất nước đó. Nếu họ đáp ứng được công dụng ấy, đất nước sẽ hân hoan giữ họ lại; bằng không, số phận của họ sẽ giống như mọi thứ bị phơi bày là đã mất đi tính hữu dụng.

Do đó, đây chính là câu hỏi duy nhất trong cuộc khủng hoảng này, dành cho họ và cho chúng ta. Liệu họ có thực sự làm lãnh chúa và ban hành luật pháp cho chúng ta không — thực sự làm công tước và dẫn dắt chúng ta — thực sự làm vương tôn và khai mở một triều đại chân chính hơn, không bị vấy bẩn bởi lòng tham lam, chẳng bị đảo lộn bởi gian tà? Phải chăng chính bản thân họ đã lún sâu đến mức chẳng còn dám ôm ấp hy vọng ấy nữa? Liệu trong số họ có còn ai dám bước ra với vầng trán ngẩng cao đậm chất Anh và cất lời,—Trong giới hạn khả năng của mình, ta sẽ hết lòng cai trị, không phải vì Dieu et mon Droit (Chúa tể và Công lý của tôi), mà vì ván bài vĩ đại đầu tiên của tiếng hò reo trận mạc vốn đã bị bóp méo từ câu đó, "Dieu et Droit" (Chúa tể và Công lý)? Trong số họ, tôi biết có những người—trong số quý vị, những người lính nước Anh, tôi biết có rất nhiều người có thể làm được điều đó; và niềm tin của chúng ta đặt nơi quý vị. Tôi, một kẻ thuộc tầng lớp hạ dân trong đất nước của quý vị, xin khẩn cầu quý vị thay mặt cho họ—những người mà từ nay tôi sẽ không gọi là binh sĩ nữa, mà gọi bằng cái tên đích thực hơn: những Hiệp sĩ;—những Equites của Anh quốc. Còn lại trong số quý vị bao nhiêu người, những hiệp sĩ lang thang giờ đây đã vượt qua mọi chiến trường hiểm nguy thuở trước—những hiệp sĩ kiên nhẫn giờ đây đã vượt qua mọi sức chịu đựng thuở nào; những người vẫn gìn giữ mục đích cổ xưa và vĩnh cửu của tinh thần hiệp sĩ, đó là khuất phục kẻ gian ác và giúp đỡ kẻ yếu thế? Hỡi những con người ấy, dù ít hay nhiều, chúng tôi, những người dân Anh, đang khẩn cầu sự giúp đỡ để cứu vớt nỗi khốn cùng, và sự cai trị để dẹp yên thói đê tiện của một đám đông đang bơ vơ và bị lừa dối, đang réo gọi lẫn nhau thứ phúc âm mới của tôn giáo mới của họ: "Kẻ yếu cứ xoay sở theo cách mình có thể, kẻ ác cứ hành xử theo ý mình muốn."

Tôi có thể nghe thấy tiếng quý vị đang tự nhủ trong thâm tâm, kể cả những kẻ dũng cảm nhất: "Thời đại cho những điều đó đã qua rồi." Thưa các quý ông, không phải vậy đâu. Thời đại cho những điều lớn lao hơn thế đã đến rồi. Từ trước đến nay,[Pg 420] binh lính vẫn phải dâng hiến sinh mạng vì hư danh hão huyền và quyền lực tàn bạo. Đã đến lúc họ phải hy sinh mạng sống vì vinh quang đích thực và quyền lực mang lại phúc lợi: và công việc ấy đang ở ngay sát mỗi quý vị—ngay bên cạnh quý vị—thậm chí phương tiện để làm điều đó đã được trao tận tay quý vị. Người dân đang khẩn cầu quý vị ban hành mệnh lệnh, thế mà quý vị lại đứng đó chần chừ và lặng thinh. Quý vị nghĩ rằng họ không muốn được cai quản ư; hãy thử đi; hãy xác định điều gì cần thiết cho họ—điều gì đáng tôn trọng cho họ; hãy chỉ cho họ thấy, hãy hứa sẽ dẫn dắt họ đến đó, và họ sẽ đi theo quý vị qua biển lửa. "Hãy cai trị chúng tôi," họ kêu lên bằng cả một tấm lòng, dẫu trăm ngả tâm tư. Họ vẫn có thể bị cai trị đấy, những con người Anh quốc này; họ vẫn là con người; chứ không phải loài muỗi mòng, hay rắn rết. Họ vẫn yêu mến những lối sống xưa cũ của mình, những người chủ cũ, và mảnh đất xưa cũ ấy. Họ rất muốn được sống trên mảnh đất ấy, bao nhiêu người có thể ở lại, nếu quý vị chỉ cho họ cách sống ở đó;—hoặc thậm chí chỉ cho họ cách để chết ở đó, hệt như những người Anh thực thụ.

"Được sống trên mảnh đất ấy, bao nhiêu người có thể!" Quý vị nghĩ có bao nhiêu người có thể? Có bao nhiêu người được phép? Quý vị muốn có bao nhiêu người sống ở đó? Là những kẻ thống trị, mục tiêu hàng đầu của quý vị phải là gia tăng sức mạnh của mình; và sức mạnh của một quốc gia nằm ở đâu? Quý vị muốn thống trị những hòn đá vô tri, hay những tầng mây bay lượn, hay những tâm hồn con người? Thế nào là một quốc gia vĩ đại, nếu không phải là một đám đông đông đảo những con người trung thực với nhau, mạnh mẽ và có phẩm giá? Giờ đây, quý vị chỉ có thể gia tăng số lượng dân chúng trong một giới hạn nhất định—hòn đảo của quý vị chỉ có chừng ấy chỗ đứng—nhưng quý vị có thể gia tăng phẩm giá của họ đến vô tận. Đó chỉ là một hòn đảo nhỏ bé;—giả sử, dẫu nhỏ bé thế đi nữa, quý vị lấp đầy nó bằng những người bạn thì sao? Quý vị hoàn toàn có thể làm được, và rất dễ dàng. Quý vị phải làm, và thật nhanh chóng; bằng không sẽ chấm dứt cái đất nước Anh quốc này của chúng ta, cùng với mọi tình yêu và căm hờn của nó.

Lấp đầy hòn đảo nhỏ bé này bằng những người bạn chân chính—những con người dũng cảm, khôn ngoan và hạnh phúc! Quý vị nghĩ rằng điều đó bất khả thi đến thế sao, sau mười tám thế kỷ Cơ Đốc giáo của nhân loại, và một nghìn năm nhọc nhằn của chính chúng ta, mà lại không thể lấp đầy nổi mỏm đá trắng ngời nhỏ bé này bằng những sinh linh hạnh phúc, biết giúp đỡ lẫn nhau? Châu Phi, và Ấn Độ, và vùng đồng bằng ngập nước rộng lớn ở Brazil, chẳng phải chúng đủ rộng lớn cho sự vô minh của giống loài chúng ta sao? Chẳng phải chúng có đủ không gian cho những đớn đau của nhân loại sao? Phải chăng chúng ta cũng phải tiếp tục ở lại đây—nơi chốn hoang dã này—ở đây ôm mối thù hằn lẫn nhau,—ở đây chịu cảnh đói khát, màn trời chiếu đất, trong những bộ rách rưới, giữa bụi trần, và không có lấy một niềm tin, hệt như hàng vạn và chục vạn con người chúng ta đang quằn quại? Đừng nghĩ thế, thưa các quý ông. Ý nghĩ cho rằng điều đó là tất yếu chính là sự bất tín cuối cùng; sự bất tín không chỉ với Thiên Chúa mà còn với mọi sinh linh và mọi thứ luật lệ mà Ngài đã tạo ra. Phải chăng chúng ta phải nghĩ rằng trái đất này chỉ được nhào nặn ra để trở thành một địa cầu tra tấn; và rằng không thể có lấy một góc nhỏ trên đó nơi sự bình yên ngự trị, hay công lý cai nghiêm? Con người sẽ tìm đâu ra hạnh phúc, nếu không phải ở nước Anh? Ai sẽ là người dạy họ làm điều đúng đắn, nếu không phải là quý vị? Phải chăng chúng ta không thuộc về một giống nòi đứng đầu trong số những kẻ mạnh mẽ trên trái đất này; dòng máu trong chúng ta vốn không biết mỏi mệt, không gì khuất phục nổi trước nỗi buồn đau? Phải chăng chúng ta không có một lịch sử mà hễ nghĩ đến thôi là ta suýt trở nên ngạo mạn vì niềm kiêu hãnh chính đáng về nó? Liệu chúng ta có dám, mà không vượt qua mọi giới hạn lịch sự đối với các quốc gia khác, để nói xem tổ tiên chúng ta có bao nhiêu điều đáng tự hào hơn họ? Giữa các vị quân vương thuở xưa của chúng ta, những tội ác tày trời nổi lên thật quái đản và kỳ lạ. Nhưng lòng dũng cảm của họ, và theo sự hiểu biết của họ, cả lòng nhân ái nữa, vẫn luôn bền vững. Cuộc Chiến tranh Hoa hồng, vốn tựa như một bóng đen rẫm máu đáng sợ trên mảnh đất của chúng ta, lại tượng trưng cho hoàn cảnh bình thường của các quốc gia khác; trong khi từ thời kỳ Thất vương quốc trở xuống, chúng ta đã có những tấm gương được truyền lại trong mọi tầng lớp về những đức hạnh phong phú và cao cả nhất; một kho báu mà không loài mọt nào có thể đục khoét, và ngay cả sự phản bội của chúng ta, nếu chúng ta trở thành kẻ phản bội lại nó, cũng không thể làm vấy bẩn.

Và thế là, đây lại là giống nòi mà giờ đây chúng ta không còn biết cách cai trị nữa sao! Và đây là lịch sử mà chúng ta phải chứng kiến bị xé nát bởi bạo loạn ư! Và đây là đất nước, hơn hết thảy mọi nơi, nơi cuộc sống sắp trở nên khó khăn cho người lương thiện, và nực cười cho kẻ trí tuệ! Và trớ trêu thay, thảm họa ấy lại sắp xảy ra đúng lúc chúng ta vừa đạt được những bước tiến vũ bão vượt qua cả sự khôn ngoan và của cải của quá khứ. Các thành phố của chúng ta là một hoang mạc của những cỗ xe quay sợi thay vì những cung điện; thế nhưng người dân vẫn không có áo mặc. Chúng ta đã biến từng chiếc lá trong cánh rừng xanh nước Anh thành tro bụi, và người dân chết vì rét mướt; các bến cảng của chúng ta là một khu rừng tàu buôn, và người dân chết vì đói.

Đó là lỗi của ai? Thưa các quý ông; lỗi tại quý vị chứ chẳng vì ai khác. Chỉ có quý vị[Pg 422] mới có thể nuôi dưỡng họ, mặc quần áo cho họ, và đưa họ trở lại với sự minh mẫn, bởi chỉ có quý vị mới cai trị được họ—nghĩa là, chỉ có quý vị mới giáo dục được họ.

Giáo dục, hay cai trị, cả hai chỉ là một từ. Giáo dục không có nghĩa là dạy cho con người biết những điều họ chưa biết. Nó có nghĩa là dạy họ cách cư xử theo những lề lối mà họ chưa biết cách. Và "giáo dục bắt buộc" thực sự mà người dân hiện đang đòi hỏi ở quý vị không phải là giáo lý, mà là kỷ luật thao luyện. Nó không phải là dạy cho tuổi trẻ nước Anh hình dáng của con chữ hay những mẹo vặt của con số; rồi sau đó phó mặc họ biến môn số học thành thói gian xảo, và văn chương thành dục vọng. Trái lại, đó là rèn luyện họ vào việc thực hành hoàn hảo và sự tự chế kiêu hãnh của thân xác lẫn tâm hồn. Đó là một công việc đau đớn, liên tục và đầy gian khó; phải được thực hiện bằng lòng tốt, bằng sự dõi theo, bằng lời cảnh tỉnh, bằng những lời răn dạy, và bằng sự ngợi ca,—nhưng trên hết thảy—bằng chính tấm gương noi theo.

Bắt buộc ư! Vâng, bằng mọi giá! "Hãy đi ra những nơi đường cái và bờ rào, và ép họ phải vào." Bắt buộc ư! Vâng, và hoàn toàn miễn phí nữa. Dei Gratia (Bởi Ân điển của Chúa), họ phải được dạy dỗ, hệt như Dei Gratia, quý vị được đặt vào vị trí để dạy dỗ họ. Tôi liên tục nghe những lời bàn tán kỳ lạ rằng, "thật khó biết bao khi bắt mọi người phải trả tiền để được giáo dục!" Chà, tôi cũng nghĩ thế chứ! Quý vị bắt con cái mình phải trả tiền cho việc học hành của chúng, hay quý vị cho chúng đi học một cách bắt buộc và miễn phí? Quý vị đâu có mong chúng trả tiền cho việc dạy dỗ của quý vị, ngoại trừ việc trở thành những đứa con ngoan? Tại sao quý vị lại mong một người nông dân phải trả tiền cho việc học của mình, ngoại trừ việc trở thành một người tốt?—một sự đền bù quá đủ, tôi nghĩ vậy, nếu chúng ta thấu hiểu điều đó. Một sự đền bù đủ cho chính anh ta, cũng như cho chúng ta. Bởi đó lại là một sai lầm phổ biến to lớn khác của chúng ta—mọi người luôn nghĩ về giáo dục như một phương tiện để kiếm sống. Giáo dục không phải là một ngành kinh doanh sinh lời, mà là một việc tốn kém; thậm chí, những thành tựu đỉnh cao của nó luôn là thứ không thể quy đổi ra tiền bạc. Chưa từng có quốc gia nào kiếm được miếng ăn bằng những nghệ thuật vĩ đại hay sự thông thái vĩ đại của mình. Bằng những nghệ thuật nhỏ nhặt hay nghề thủ công, bằng những tri thức thực tế thì có: nhưng sự uyên bác cao quý, triết lý cao quý, và nghệ thuật cao quý của một dân tộc luôn là thứ phải mua bằng kho báu, chứ không phải đem bán để kiếm kế sinh nhai. Quý vị không học để mà sống—quý vị sống để mà học.[Pg 423] Quý vị phải chi tiêu cho Giáo dục Quốc gia, phải hao tâm tổn sức vì nó, và dùng nó để tạo ra, không phải nhiều tiền hơn, mà là những con người tốt đẹp hơn;—để đưa vào Hòn đảo Anh quốc này một số lượng lớn nhất có thể những người Anh tốt bụng và dũng cảm. Họ chính là "giá trị xứng đáng với đồng tiền" của quý vị.

Nhưng tiền lấy từ đâu ra? Vâng, đó là điều cần phải hỏi. Hãy coi đây là công việc hoàn toàn tiên quyết trong cuộc khủng hoảng quốc gia này, không chỉ nhìn vào công việc của chúng ta mà còn vào các sổ sách kế toán, để có được một khái niệm chung về việc hằng năm chúng ta tiêu tiền như thế nào và nhận lại được những gì. Xin lưu ý, ý tôi không phải là chỉ tra cứu nguồn thu công quỹ; điều đó vốn đã được báo cáo phần nào rồi. Nhưng hãy cố gắng hết sức để ghi lại các khoản chi tiêu tư nhân mang tính quốc gia; và biết được rốt cuộc chúng ta tiêu bao nhiêu, và tiêu ra sao.

Bắt đầu với vấn đề giáo dục này. Có lẽ hầu hết quý vị đều đã xem bài thuyết giảng tuyệt vời do Đại úy Maxse thực hiện gần đây tại Southampton. Nó chứa đựng một tuyên bố rõ ràng về các sự thật hiện đã được xác định liên quan đến chi phí của chúng ta trong lĩnh vực đó. Hóa ra là cứ mỗi bảng Anh chi cho giáo dục từ công quỹ, chúng ta lại chi tới mười hai bảng cho từ thiện hoặc trừng phạt;—mười triệu mỗi năm cho nạn bần cùng và tội phạm, và tám trăm nghìn cho việc học hành. Giờ đây, Đại úy Maxse cộng thêm vào khoản ước tính mười triệu tiền công quỹ dành cho tội phạm và sự thiếu thốn ấy, một khoản tiền mang tính phỏng đoán nhiều ít, khoảng tám triệu cho các quỹ từ thiện tư nhân. Ấn tượng của tôi là con số này thấp hơn nhiều so với thực tế, nhưng dù thế nào đi nữa, nó đã bỏ qua hình thức từ thiện nặng nề và đau lòng nhất—đó là việc những thành viên lao động trong các gia đình phải gánh vác những người kém may mắn hoặc hư hỏng mà dòng chảy chung của sự cai trị tồi giờ đây phó mặc cho họ sống bơ vơ để trở thành gánh nặng cho những người còn lại.

Giờ đây, trước tiên tôi muốn đạt được một ước tính, tôi không dám nói là xấp xỉ, nhưng ít ra cũng mang tính gợi mở, về lượng khốn khổ thực sự và những cuộc đời lầm lạc tại đất nước này. Tiếp đến, tôi muốn có một ước tính mang tính đại diện công bằng về các khoản chi tiêu tư nhân của chúng ta cho những thứ xa xỉ. Rõ ràng chúng ta sẽ không chi quá tám trăm nghìn một năm từ công quỹ để giáo dục con người miễn phí. Tôi muốn biết, sát thực tế nhất có thể, chúng ta chi bao nhiêu tiền tư nhân mỗi năm để giáo dục những con ngựa miễn phí.[Pg 424] Ít nhất, chúng ta hãy tự gột rửa khỏi lời chế giễu của Rabshakeh, và đảm bảo rằng cứ mỗi con ngựa được huấn luyện, ta cũng phải đào tạo một kỵ sĩ đi kèm; và người nài ngựa ấy chí ít cũng phải có dòng dõi cao quý tương đương con ngựa, không phải là một tay nài ngựa tầm thường, mà là một hiệp sĩ. Thêm vào đó, chúng ta chi tám trăm nghìn, đây quả thực là một số tiền lớn, để làm bừng sáng những bộ óc thô kệch. Tôi muốn biết mỗi năm chúng ta chi bao nhiêu để làm bừng sáng những viên đá thô; nghĩa là, tổng số tiền hằng năm, hoặc xấp xỉ thế, của các hóa đơn mua trang sức là bao nhiêu? Chúng ta trả bấy nhiêu cho việc giáo dục trẻ em miễn phí;—vậy còn giáo dục kim cương miễn phí thì tốn bao nhiêu? Và việc mài giũa tâm hồn hay mài giũa than củi, cái nào mang lại lợi ích hơn? Hãy ghi lại hai khoản mục đó với chút thành khẩn, cùng với một vài khoản tương tự khác. Được ghi chép một cách công khai. Chúng ta không được phép hổ thẹn về cách mình tiêu tiền. Nếu tay phải không được phép biết việc tay trái làm, thì đó tuyệt đối không phải vì ta sẽ thấy xấu hổ nếu nó biết.

Do đó, đó chính là việc thiết thực đầu tiên cần phải làm. Mỗi người mang lòng ái quốc hãy đệ trình lên đất nước một bản kê khai hằng năm về thu nhập và những khoản chi tiêu chính của mình; hoặc nếu anh ta cảm thấy hổ thẹn không dám làm thế, thì đừng bao giờ đổ lỗi cho người nghèo về sự bần cùng của họ như một tội ác, cũng đừng bắt họ phải đập đá chỉ để khủng bố họ, ngăn họ không phạm tội ấy. Tiêu xài tiền bạc một cách tồi tệ quả thực thường là một tội ác; nhưng kiếm tiền một cách tồi tệ còn là tội ác lớn hơn, và tiêu xài nó tồi tệ chính là điều tồi tệ nhất. Các vị Quý tộc nước Anh, quý vị phản đối việc tăng tiền công cho người nghèo với lý do là họ tiêu xài chúng một cách thiếu khôn ngoan, theo như quý vị nói. Vậy thì, hãy kê khai cho họ thấy khoản tiền công mà họ trả cho quý vị; và hãy dùng chính tấm gương của quý vị để chỉ cho họ cách tiêu tiền của mình một cách khôn ngoan đến xu xu cuối cùng.

Đã đến lúc biến điều này thành một chủ đề giáo dục được thừa nhận dành cho người lao động—cách thức tiêu dùng tiền công của họ. Bởi vì, thưa các quý ông, chúng ta buộc phải truyền đạt bài học đó, dù muốn hay không, bằng cách này hay cách khác. Chúng ta đã từng dạy điều đó trong những năm tháng qua; và giờ đây chúng ta lại quay sang trách cứ tầng lớp nông dân vì đã quá ngoan ngoãn và lĩnh hội quá sâu sắc những bài học dạy dỗ của chúng ta. Chỉ ít ngày trước, tôi nhận được thư từ vợ của một vị mục sư làng, một con người đầy thiện lương và lẽ phải, người[Pg 425] đang vô cùng phiền muộn trong tâm can bởi chính những kẻ nhận tiền công cao nhất vào mùa hè lại đến trước cửa nhà ông ta trong cảnh khốn cùng vào mùa đông. Khốn cùng, và mang tâm tính ngổ ngáo bạo động—bởi cách họ tiêu xài tiền công trong giai đoạn thịnh vượng chính là ngồi liền hai ngày mỗi tuần trong phòng khách quán rượu, múc rượu vang đỏ, không phải bằng bát, mà bằng những chiếc thùng múc lớn. Chà, thưa các quý ông, ai đã dạy họ phương thức ăn uống đình đám ấy? Ba mươi năm trước, tôi, một tân sinh viên chưa hề có chút kinh nghiệm nào, đã tham dự bữa tiệc đại học đầu tiên của mình; ngồi ở vị trí chủ tiệc là một nhà quý tộc đầy hứa hẹn với năng lực tuyệt vời, người sau đó đã qua đời vì chứng liệt nửa người; ở đó, ngay giữa chúng tôi, không phải những chiếc thùng gỗ, mà là những chiếc bát to như cái thùng; ở đó, chúng tôi cũng tự múc rượu bằng những chiếc gáo lớn. Ở đó (bởi vì màn khởi đầu cho nền giáo dục đại học này là bắt buộc), tôi đã chọn múc những gáo punch thay vì rượu claret, vì khi đó tôi đủ khéo léo để lén đổ chúng vào chiếc áo ghi-lê thay vì nuốt xuống cổ họng, tôi đã trụ lại đến cùng và giúp khiêng bốn người bạn học của mình, trong đó có một người là con trai của viện trưởng một trường đại học, với tư thế cắm đầu xuống cầu thang để về nhà.

Những chuyện như thế nay không còn nữa; nhưng hệ lụy của chúng vẫn còn đó, và sẽ kéo dài trong nhiều ngày tới. Những người lao động mà giờ đây quý vị không thể ngăn họ bước vào quán rượu chẳng qua chỉ là những tín đồ trung thành đến mức tội nghiệp của những quý ông từng có thói quen tự giam mình trong phòng ăn. Các quý ông đã không hề thấy cần thiết phải giảm bớt thu nhập của mình để chấn chỉnh lại thói quen của bản thân; và, xin hãy tin tôi, cách đối phó với người công nhân nát rượu của quý vị không phải là cắt giảm tiền công của anh ta—mà là làm cho trí tuệ của anh ta minh mẫn hơn.[140]

Và nếu như quả thực chúng ta vẫn chưa nhìn thấy rõ ràng cách thức đối phó với những tội lỗi của người anh em nghèo khó, thì rất có thể sự mờ mịt trong tầm nhìn của chúng ta vẫn còn bắt nguồn từ những nguyên nhân khác có thể loại bỏ. Có hai tiếng kêu đối lập nhau của các đảng phái lớn tự do và bảo thủ, cả hai đều vô cùng đúng đắn và xứng đáng trở thành những tiếng hô hào tập hợp lực lượng. Về phía họ là "hãy để mọi người đều có cơ hội của mình;" về phía quý vị là "hãy để mỗi người đứng đúng vị trí của mình." Vâng, quả thực là thế, mỗi người ở đúng vị trí của mình, và[Pg 426] mỗi người phải thực sự phù hợp với vị trí đó. Hãy đảm bảo rằng anh ta nắm giữ vị trí ấy là do sự quan phòng của Thiên Chúa; chứ không phải do sự quan phòng của gia tộc anh ta. Xin giới tu sĩ hãy tự gột rửa khỏi tội buôn bán chức tước thánh chức, còn chúng tôi, những giáo dân, sẽ lo giùm họ khoản thanh lọc những kẻ dị giáo. Xin giới quý tộc hãy tự gột rửa khỏi tệ nạn gia đình trị, và chúng tôi sẽ giữ gìn uy quyền giúp họ. Xin hỡi những người lính, hãy cho xuất bản một tờ công báo quân đội, nơi chủ đề tin tức hằng ngày duy nhất sẽ là các căn cứ để thăng quân hàm; một tờ công báo đơn thuần thuật lại cho chúng ta biết, điều mà chắc chắn chẳng có chút tổn hại nào cho quân dịch nếu chúng ta được hay biết, khi nào một sĩ quan được bổ nhiệm vào chức vụ chỉ huy mới — những chiến công và thành tựu trước đây của ông ta là gì — ông ta đã thay thế cho ai — và dựa trên cơ sở nào. Điều đó sẽ luôn là một sự thỏa mãn cho chúng ta; và đôi khi nó cũng có thể mang lại lợi thế cho quý vị; và rồi, khi thực sự có những cuộc tranh luận cần thiết liên quan đến việc cắt giảm tiền công, chúng ta hãy luôn bắt đầu không phải từ tiền công của các tầng lớp lao động chăm chỉ, mà từ tiền công của những kẻ nhàn rỗi. Cứ duy trì các tước hiệu danh dự, nếu mọi người thích chúng; nhưng tuyệt đối không được có những khoản thu nhập danh dự.

Thế là xong cho phương châm của kẻ thống trị, "Mỗi người ở đúng vị trí của mình." Tiếp theo là phương châm của người lao động, "Mỗi người đều có cơ hội của mình." Hãy chỉnh sửa lại điều đó cho họ một chút, và nói rằng, "Mỗi người đều có sự chắc chắn của mình"—sự chắc chắn rằng nếu anh ta làm tốt, anh ta sẽ được tôn vinh, được trợ giúp, và được thăng tiến ở mức độ phù hợp với năng lực và tương thích với sự bình an của anh ta; và một sự chắc chắn tương đương rằng nếu anh ta làm điều xấu, anh ta sẽ bị phán xét bởi công lý đích thực, và bị trừng phạt bởi hình phạt tất yếu; nếu có thể, sẽ được cải huấn; và nếu không thể, sẽ bị kết án. Đó mới là cách đọc đúng đắn của khẩu hiệu Cộng hòa, "Mỗi người đều có cơ hội của mình." Và rồi, với một hệ thống cai trị như thế, trong sạch, cẩn trọng và công minh, quý vị mới có thể tiếp cận bài toán lớn lao về giáo dục quốc gia, hay nói cách khác, là việc làm quốc gia. Bởi vì mọi nền giáo dục đều khởi nguồn từ lao động. Những gì chúng ta suy nghĩ, hay những gì chúng ta biết; hoặc những gì chúng ta tin tưởng, cuối cùng thì cũng chẳng có mấy hệ quả. Điều duy nhất có hệ quả chính là những gì chúng ta hành động; và đối với bất kỳ ai, dù là nam, nữ hay trẻ em, điểm mấu chốt đầu tiên của giáo dục là khiến họ làm được những điều tốt nhất có thể. Đó là quy luật của nền kinh tế lành mạnh khi phải tận dụng tối đa mọi thứ. Huống hồ chi việc tận dụng tối đa mọi sinh linh lại càng quan trọng biết bao! Do đó, khi người ăn mày[Pg 427] đến trước mặt quý vị và xin bánh mì, hãy hỏi anh ta ngay lập tức—Anh có năng lực gì? Anh làm việc gì giỏi nhất? Anh có thể đóng một chiếc đinh vào gỗ không? Hãy đi mà sửa những hàng rào giáo xứ. Anh có thể đặt một viên gạch không? Hãy sửa lại những bức tường của các ngôi nhà tranh nơi gió lùa vào. Anh có thể nhấc một xẻng đất không? Hãy xới tung cánh đồng này sâu ba thước khắp mọi nơi. Anh chỉ có thể kéo một vật nặng bằng đôi vai của mình ư? Hãy đứng dưới chân ngọn đồi này và giúp đỡ những con ngựa đang phải gánh nặng quá tải. Anh có thể hàn sắt và đục đá không? Hãy gia cố bờ biển rải rác xác tàu đắm này thành một bến cảng; và biến những bãi cát dịch chuyển này thành mảnh đất màu mỡ. Nơi nào có sự chết chóc, hãy mang lại sự sống; đó phải là công việc của quý vị; đó là nơi trú ẩn của giáo xứ quý vị; đó là nền giáo dục của quý vị. Chỉ có thế và không cách nào khác chúng ta mới có thể đối phó với nỗi khốn cùng hiện hữu. Nhưng để giáo dục liên tục toàn thể nhân dân, và vì hạnh phúc tương lai của họ, họ phải có một công việc làm ổn định sao cho phát triển được toàn bộ năng lực của ngón tay, chân tay và bộ óc; và sự phát triển đó chỉ có thể đạt được thông qua lao động thủ công, trong đó quý vị có bốn phân nhánh lớn sau—lao động thủ công trên mặt đất, lao động thủ công trên biển, lao động thủ công trong nghệ thuật, lao động thủ công trong chiến tranh. Tôi không thể nói về hai lĩnh vực sau vào tối nay, và chỉ nói về hai lĩnh vực đầu với sự ngắn gọn tột cùng.

I. Lao động thủ công trên mặt đất, công việc của người làm vườn và người chăn cừu;—cày cấy đất đai và chăn dắt đàn gia súc của nó—nhiệm vụ đầu tiên của con người và cũng là nhiệm vụ cuối cùng—nền giáo dục muôn đời của những nhà lập pháp, vị vua và bậc thầy vĩ đại nhất; nền giáo dục của Hesiod, của Moses, của David, của tất cả sức mạnh chân chính của thành Rome; và cả sự dịu dàng của nó: niềm kiêu hãnh của Cincinnatus, và nguồn cảm hứng của Virgil. Lao động thủ công trên mặt đất, và mùa màng thu hoạch được cất lên tiếng hát khải hoàn:—chứ không phải lao động bằng piston hơi nước trên mặt đất, và mùa màng thu hoạch đi kèm với tiếng còi xập xình của máy móc. Quý vị sẽ chẳng tìm thấy tiếng nói của nhà tiên tri nào được hòa tấu cùng cây sáo của người chăn cừu và bản giao hưởng mục đồng ấy đâu. Quý vị có biết rằng mới đây, ở Cumberland, vùng chăn nuôi cừu trọng điểm của nước Anh—ngay tại quê hương của Wordsworth—một đoàn người dân làng trong ngày lễ hội của họ đã tự trang bị âm nhạc bằng cách điều động một chiếc máy cày chạy bằng hơi nước vừa đi vừa rít còi inh õng dẫn đầu đoàn diễu hành.

Xin hãy cho tôi chút kiên nhẫn để trình bày nguyên lý của lao động máy móc[Pg 428] trước quý vị, một cách rõ ràng và ngắn gọn nhất có thể; đây là điều cần phải được nhận thức rõ tại thời điểm ngã ba đường này. Giả sử một chủ trang trại cần sử dụng một trăm nhân công trên điền trang của mình, và sức lao động của một trăm con người đó là đủ, nhưng vừa vặn đủ để cày cấy toàn bộ đất đai của ông ta, và thu hoạch lương thực từ đó nuôi sống gia đình ông ta cùng một trăm người thợ. Trong hoàn cảnh đó, ông ta buộc phải duy trì cho tất cả những người thợ một mức sống sung túc vừa phải, và chỉ có thể tích lũy được chút ít của cải cho riêng mình thông qua việc tiết kiệm. Nhưng, giả sử ông ta chế ra một cỗ máy có thể dễ dàng làm thay công việc của năm mươi người, mà chỉ cần duy nhất một người canh gác nó. Điều này nghe có vẻ là một bước tiến vĩ đại trong văn minh. Tất nhiên người chủ trang trại sẽ cho chế tạo cỗ máy, sa thải năm mươi người thợ, những người có thể chết đói hoặc di cư tùy ý họ, và giờ đây ông ta có thể giữ lại một nửa sản lượng điền trang của mình, thứ mà trước đây dùng để nuôi sống họ, cho riêng mình hắn. Đó chính là hệ quả bản chất và thường trực của máy móc đối với chúng ta vào thời điểm này.

Không, thoạt đầu người ta sẽ đáp lại rằng; chẳng có con người nào thực sự có thể giữ lại một nửa sản lượng của một điền trang cho riêng mình, cũng như cuối cùng hắn không thể giữ lại quá phần chia mang tính con người của chính mình đối với bất kỳ thứ gì; của cải của hắn rồi cũng phải lan tỏa vào lúc nào đó; hắn phải duy trì sự sống cho ai đó bằng những của cải ấy, dù hắn tiêu xài chúng theo cách nào đi chăng nữa. Điều đó chủ yếu là đúng (nhưng không hoàn toàn đúng), bởi thực phẩm và nhiên liệu trong các hoàn cảnh thông thường bị lãng phí cá nhân bởi những kẻ giàu có, với số lượng đủ để cứu sống rất nhiều mạng người. Chẳng hạn, một trong những xa xỉ lớn của riêng tôi là ánh nến—và có lẽ tôi tự đốt cho riêng mình số lượng nến vào mùa đông đủ để sưởi ấm những đôi mắt già nua, hay bảo vệ đôi mắt trẻ thơ của cả một ngôi làng nông thôn chỉ dùng đèn bấc cỏ bàng. Dù vậy, nhìn chung vẫn là đúng khi cho rằng không phải sự lãng phí cá nhân của người giàu đã tước đoạt sinh mạng của người nghèo. Đây mới là cách họ làm điều đó. Hãy để tôi quay lại với người chủ trang trại của mình. Hắn đã tậu được chiếc máy cày, vừa tạo ra tiếng kêu kẽo kẹt, vừa ré lên, và thỉnh thoảng lại phát nổ, lang thang khắp vùng Arcadia thời hiện đại. Hắn đã sa thải năm mươi người thợ để họ chết đói. Giờ đây, cách trang trại của hắn một khoảng có một trang trại khác mà ở đó những người thợ vẫn đang làm việc kiếm sống bằng cách cày cấy đất đai theo cách tương tự. Tay chủ máy liền sai người sang nhắn rằng—"Ta có đủ thức ăn cho các ngươi mà chẳng cần các ngươi phải đào bới hay cày cấy gì nữa. Ta có thể nuôi sống các ngươi bằng những công việc khác thay vì cày mảnh đất đó; nếu các ngươi cào lớp sỏi đá của nó, các ngươi sẽ tìm thấy vài viên đá cứng—các ngươi sẽ đem chúng nghiền trong các cối xay cho đến khi chúng lấp lánh; khi ấy, vợ ta sẽ đeo một chuỗi vòng cổ làm bằng chúng. Hơn nữa, nếu các ngươi xới tung những thảm cỏ dưới kia, các ngươi sẽ tìm thấy một loại đất sét trắng mịn, từ đó các ngươi sẽ nặn cho ta một bộ đồ ăn bằng sứ—và phần còn lại của trang trại ta muốn dùng làm bãi cỏ cho lũ ngựa kéo xe của ta—và các ngươi sẽ chăm sóc chúng, một số người sẽ đứng bám đằng sau cỗ xe với những chiếc gậy trên tay, và ta sẽ vỗ béo các ngươi để làm việc đó sướng hơn là tự các ngươi kiếm ăn bằng nghề đào đất."

Chà—nhưng người ta lại vặn hỏi, vậy chẳng nhẽ chúng ta không được phép có kim cương, đồ sứ, tranh ảnh, hay gia nhân nữa sao—mà tất cả phải làm nông dân hết hay sao? Tôi không nói về những gì chúng ta nên làm, tôi chỉ muốn cho quý vị thấy một cách hoàn toàn rõ ràng trước hết là những gì chúng ta đang làm; và điều đó, tôi xin nhắc lại, chính là kết cục của việc chế tạo máy móc tại đất nước này. Và hãy quan sát tác động của nó đối với sức mạnh quốc gia. Không có máy móc, quý vị có một trăm năm mươi điền chủ sẵn sàng hợp lực bảo vệ đất nước. Quý vị có máy móc, bỏ đói năm mươi người trong số họ, biến từng ấy người khác thành thợ cắt kim cương hoặc gia nhân, và để bảo vệ quốc gia chống lại kẻ thù, giờ đây quý vị chỉ có, và chỉ có thể có, năm mươi người thay vì một trăm rưỡi; những người này giờ đây cũng mang tâm lý oán hận quý vị với tư cách là chủ nhân của họ,[141] phần còn lại là thợ kim hoàn hoặc người hầu; cùng một cỗ máy cày hơi nước.

Đó là một tác động của máy móc; nhưng dẫu sao đi nữa, nếu chúng ta đã mất đi con người, ít ra chúng ta cũng thu được của cải; thay vì những tâm hồn con người hạnh phúc, ít ra chúng ta cũng có được tranh ảnh, đồ sứ, ngựa chiến, và bản thân chúng ta cũng sung sướng hơn trước. Thế nhưng rất thường xuyên, và trong phần lớn các nỗ lực chế tạo máy móc của chúng ta, ngay cả kết quả đó cũng không xảy ra. Chúng ta chẳng giàu lên thêm chút nào nhờ cỗ máy, chúng ta chỉ sử dụng nó để giải trí mà thôi. Bởi xin hãy lưu ý, việc chúng ta giàu lên phụ thuộc vào việc những kẻ thất nghiệp đồng ý chịu chết đói, hoặc bị trục xuất khỏi đất nước. Nhưng giả sử họ không đồng ý thụ động chịu chết đói, mà một số trong bọn họ trở thành tội phạm, và phải được quản thúc cũng như nuôi dưỡng với chi phí tốn kém hơn nhiều so với khi[Pg 430] họ làm việc, còn những kẻ khác thì trở thành người ăn xin, kẻ bạo loạn và tương tự thế, thì khi đó quý vị mới đạt được kết quả đích thực của sự khôn ngoan và tài tình hiện đại. Quý vị có một trăm người lao động chân chính ngoài đồng ruộng; nhưng quý vị lại không thích nhìn thấy bóng dáng con người trên đồng ruộng của mình; quý vị thích nhìn thấy một cái ấm nước đang bốc khói hơn. Quý vị trả tiền như một kẻ nghiệp dư cho niềm vui thích đó, và quý vị thuê năm mươi người của mình đi tước vỏ gai, hoặc ăn mày, bạo loạn và trộm cắp.

Do đó, chỉ bằng lao động thủ công, và chỉ bằng cách đó, chúng ta mới cày xới mặt đất. Cũng bằng lao động thủ công để cày xới biển cả; cả vì lương thực, trong thương mại, và trong chiến tranh: cũng không dùng những chiếc ấm nổi trên mặt biển ở đó, mà bằng dây cương làm bằng gai dầu, và với những cơn gió của thiên đường trong ách cưa. Đó là cách mà sức mạnh của Hy Lạp trỗi dậy trên vùng biển Aegean, sức mạnh của Venice trên vùng Adria, của Amalfi trong vịnh nước xanh thẳm, của những hiệp sĩ cưỡi sóng người Na Uy từ Mũi Bắc đến Sicily:—cũng như quyền thống trị trong quá khứ của chính quý vị. Hãy nhớ lấy là trong quá khứ nhé. Trên vùng Baltic và sông Nile, quyền lực của quý vị đã phai tàn rồi. Bằng máy móc, quý vị có thể tiến tới khám phá; bằng máy móc, quý vị có thể chuyên chở thương mại;—quý vị sẽ trở thành những kỹ sư thay vì thủy thủ; và ngay lập tức ở vùng biển Bắc, quý vị bị đánh bại giữa những khối băng, và ngay trước các vị thần sông Nile, quý vị bị đánh bại giữa những cồn cát. Nông nghiệp, bằng sức người hoặc bằng cỗ máy cày chỉ do súc vật kéo; cùng với nghề chăn nuôi cừu và gia súc, sẽ là những trường học chính của người Anh. Và học viện hoàng gia tối cao nhất trong các học viện này là thứ quý vị phải mở ra trên khắp đất nước, làm trong lành những bãi hoang, đồi núi và sông ngòi, đồng thời giữ cho chúng tràn ngập mọi loại sinh thể tự nhiên đáng yêu, từ cây cối, thảo mộc cho đến muôn thú. Mọi mảnh đất hoang vu và xấu xí, quý vị phải cải tạo thành sự trù phú có trật tự; mọi tàn tích, sự hoang tàn, sự xập xệ kém cỏi của túp lều hay chốn ở, quý vị phải xóa bỏ; và xuyên suốt mọi ngôi làng hay thành phố thuộc quyền cai trị của Anh quốc, không được phép có lấy một bàn tay nào không tìm được người giúp đỡ, hay một trái tim nào không tìm được chốn dung thân an ủi.

"Thật bất khả thi làm sao!" Tôi biết quý vị đang nghĩ thế. A! Hoàn toàn không bất khả thi chút nào, trái lại nó rất dễ dàng, rất tự nhiên, là điều tất yếu, và tôi xin tuyên bố với quý vị rằng, sớm hay muộn, chúng ta buộc phải làm điều đó, bằng không sẽ phải gánh chịu hiểm họa. Nếu giờ đây những vị điền chủ nước Anh quyết định ghim chặt ý tưởng này vào tâm trí; ôm lấy người dân vào lòng, tin tưởng[Pg 431] vào lòng trung thành của họ, dẫn dắt sức lao động của họ;—thì quả thực khi đó giữa chúng ta sẽ lại xuất hiện những vị vương tôn, xứng đáng với ngai vàng xứ sở,

"Ngai vàng hoàng gia của những vị vua này—hòn đảo được ban vương trượng này—

Pháo đài này được thiên nhiên tự tay xây dựng cho chính mình

Chống lại bệnh dịch và bàn tay chiến tranh;

Viên ngọc quý giá này được khảm giữa biển khơi bạc trắng;

Giống nòi hạnh phúc này—thế giới nhỏ bé này:

Một Eden thứ hai—Cõi Bán Bồng Lai."

Nhưng nếu họ khước từ làm điều đó, cứ chần chừ và ngụy biện, bấu víu qua cơn thảm họa hỗn loạn của vạn vật vào bất cứ thứ gì họ còn có thể lén lút giữ lại cho riêng mình—thì số phận của họ sẽ đến nhanh hơn cả niềm hy vọng của kẻ thù, và nó sẽ sâu thẳm hơn cả những gì kẻ khinh miệt họ từng dám mơ tưởng.

Thưa quý vị, hãy tin tôi, đó chính là công việc quý vị phải làm ở nước Anh; còn bên ngoài nước Anh, quý vị còn có không gian cho mọi thứ khác mà mình quan tâm. Phải chăng các lãnh thổ của nước Anh trên thế giới này chật hẹp đến mức họ không thể tìm nổi dù chỉ một nơi để quay sợi bông ngoài Yorkshire? Chúng ta có thể tổ chức phong trào di cư thành một sức mạnh vô hạn. Chúng ta có thể tập hợp các đạo quân gồm những thanh niên đầy phiêu lưu và hoài bão; chúng ta có thể phái họ đến phục vụ ở những chân trời xa xôi nhất, đặt nền móng cho các trung tâm quyền lực mới, và các trung tâm tư tưởng mới, tại những vùng đất chưa được khai hoang và chinh phục; đồng thời vẫn duy trì trọn vẹn tình cảm gắn bó với quê hương xứ sở nơi các chiến binh cũng như những người đi khai hoang của chúng ta, dạy họ duy trì lòng trung thành với đất mẹ không kém gì trên chiến trận; hỗ trợ họ bằng một bàn tay rộng mở trong công cuộc tiến hành các cuộc khám phá, và chiến thắng những thế lực tự nhiên khắc nghiệt; thiết lập các trung tâm cho mọi ngành sản xuất tại những vùng khí hậu và địa điểm phù hợp nhất, đưa chúng ta bước vào một sự liên minh và hòa hợp kỹ năng đúng đắn với sự khéo léo của mọi sắc tộc, cùng sự thông thái của mọi truyền thống và mọi ngôn ngữ.

Và khi ấy, quý vị có thể biến chính nước Anh thành trung tâm của sự uyên bác, nghệ thuật, sự nhã nhặn và hạnh phúc của nhân loại. Quý vị có thể phủ kín những ngọn núi của xứ sở bằng những thảm cỏ xanh tươi; những cánh đồng bằng lúa mạch, những thung lũng bằng hoa huệ, và những khu vườn bằng hoa hồng. Quý vị có thể quy tụ nơi đó trong hòa bình những bậc chân tu thông thái, trong sáng và hiền hòa nhất của trần gian, và bằng lời nói của họ, thắp lên giữa vùng tăm tối tận cùng sự ra đời của "tạo vật đầu tiên của Thiên Chúa, đó chính là Ánh Sáng." Quý vị biết những lời đó là của ai rồi đấy; những lời của con người thông thái nhất nước Anh. Ông ấy, cùng với những bộ óc vĩ đại nhất của các quốc gia khác, đã luôn cất lời cất tiếng với nhân loại về niềm hy vọng này, nhưng họ chẳng chịu lắng nghe. Plato, trong tác phẩm đối thoại Critias, tác phẩm cuối cùng bị dở dang khi ông qua đời—Pindar, trong những lời ca say đắm về những hòn đảo hạnh phúc—Virgil, trong khúc ca mục đồng tiên tri thứ mười—Bacon, trong ngụ ngôn về New Atlantis—More, trong cuốn sách mà vì quá sốt sắng thông thái nên đã trở thành câu cửa miệng của lũ khờ dại—tất cả những con người ấy đều đã đồng thanh bảo ban chúng ta điều mà ta nên phấn đấu để đạt được; họ không hề tuyệt vọng về điều đó, nhưng vì sự ngu muội của chúng ta mà dường như bị Thiên Chúa buộc phải hé lộ một cách úp mở và qua những lời ngụ ngôn, e rằng chúng ta sẽ lắng nghe và tuân theo rồi vâng phục.

Chẳng lẽ chúng ta mãi mãi không chịu lắng nghe những lời của những bậc vĩ nhân thông thái ấy sao? Vậy thì ít nhất hãy lắng nghe lời của con cái quý vị—hãy để chúng ta tìm thấy sức mạnh qua đôi môi của trẻ thơ và những đứa trẻ còn đang bú mớm; và hãy đảm bảo rằng chúng ta không biến chúng thành những kẻ chế nhạo thay vì cầu nguyện, khi chúng ta dạy chúng, mỗi đêm và mỗi sáng, cất lời cầu xin cho điều mà chúng ta tin rằng chẳng bao giờ có thể ban ơn—rằng ý muốn của Chúa Cha—vốn là để các tạo vật của Ngài được sống trong công chính và hạnh phúc—sẽ được thực thi, dưới hạ giới cũng như trên Thiên đàng.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.