Vương Miện Oliu Hoang Dã

Lượt đọc: 203 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 5
Chính Quyền.

❊ ❊ ❊

106. Như tôi đã trình bày ở phần cuối chương trước, nhiệm vụ tiếp theo của chúng ta là xem xét các nguyên tắc chung của chính quyền, và sau đó là các nguyên tắc trong việc người giàu thống trị người nghèo.

Chính quyền của một quốc gia bao gồm các phong tục, luật lệ, hội đồng và sự thi hành những điều đó.

I. Phong tục.

Cũng như một cá nhân trước hết khác biệt với người khác nhờ sự tinh tế về bản chất, và thứ đến nhờ sự tinh tế trong rèn luyện; một quốc gia văn minh cũng khác với một quốc gia dã man, trước hết qua sự thanh tao trong bản chất, và thứ hai qua sự tinh tế trong phong tục.

Trong sự hoàn thiện của phong tục—vốn là cơ chế tự trị của quốc gia—có ba giai đoạn: thứ nhất, sự tinh tế trong phương pháp hành xử hoặc tồn tại, gọi là tác phong hoặc luân lý của hành động; thứ hai, sự kiên định duy trì phương pháp ấy sau khi đã tiếp nhận, sao cho nó trở thành một thói quen trong tính cách, tức là sự "cầm giữ" hoặc "cư xử" bền bỉ; và cuối cùng, năng lực đạo đức trong việc thực hiện và chịu đựng, vốn là kỹ năng đi liền với thói quen và sự thoải mái đạt được nhờ làm điều phải thường xuyên.

Tính nhạy cảm của quốc gia được biểu hiện qua sự tinh tế của phong tục; lòng dũng cảm, sự tiết độ và lòng tự trọng của quốc gia được biểu hiện qua sự kiên trì duy trì những phong tục ấy.

Ý tôi sự nhạy cảm chính là nhận thức tự nhiên của quốc gia về cái đẹp, sự phù hợp và tính đúng đắn; hoặc về những gì đáng yêu, đoan trang và công chính. Những năng lực này phụ thuộc phần lớn vào chủng tộc và là dấu hiệu ban đầu của sự giáo dưỡng tinh tế ở con người; nhưng chúng cũng có thể được bồi đắp thông qua giáo dục và chắc chắn sẽ mai một nếu thiếu đi điều đó. Thật vậy, giáo dục chân chính không có chức năng nào khác ngoài việc phát triển những năng lực này và ý chí tương quan. Sai lầm lớn lao của trí tuệ hiện đại là nhầm lẫn khoa học với giáo dục. Bạn không giáo dục một người bằng cách cho anh ta biết những gì anh ta chưa từng biết, mà bằng cách biến anh ta thành một con người mà trước đó anh ta chưa từng là.

Và biến anh ta thành con người mà anh ta sẽ mãi mãi giữ vững bản chất ấy; bởi vì không một thứ nước giặt tẩy nào có thể khôi phục lại sắc tía đã phai màu. Trong quá trình nhuộm màu ấy có hai công đoạn: thứ nhất là tẩy rửa và vắt ráo, chính là phép báp-têm bằng nước; và thứ hai là thấm đượm sắc xanh lam và đỏ thắm của sự dịu dàng cùng công lý, chính là phép báp-têm bằng lửa.

107. Phong tục và tác phong của một chủng tộc nhạy cảm và được rèn luyện cao độ luôn luôn mang tính Sống động: nghĩa là, chúng là sự biểu hiện có trật tự của một sức sống mãnh liệt, giống như hành động quen thuộc trên những ngón tay của một nhạc sĩ. Ngược lại, phong tục và tác phong của một chủng tộc đê tiện và thô lỗ là những trạng thái suy đồi; nói cho đúng thì chúng không phải là thói quen, mà là lớp vỏ cứng đóng cặn; không phải sự kiềm chế hay hình thái của sự sống, mà là những vết hoại tử, hôi thối và là mầm mống của cái chết.

Và nói chung, chừng nào phong tục gắn liền với sự lười biếng thay vì hành động, và với định kiến thay vì nhận thức, nó sẽ mang bản chất chết chóc này, khiến cho:

Phong tục đeo bám chúng ta với một sức nặng

Nặng nề tựa sương giá, và sâu thẳm gần như sự sống.

Nhưng sức nặng ấy, nếu chuyển hóa thành động lực (là trọng lượng sống thay vì trọng lượng chết), lại chính là điều mang lại giá trị cho phong tục, khi nó hoạt động cùng với sự sống chứ không phải chống lại sự sống.

108. Việc rèn luyện đạo đức bậc cao của một quốc gia ngụ ý sự Ân huệ, Lòng trắc ẩn và Sự bình an hoàn hảo; nó hoàn toàn không thể dung hòa với những công việc thấp hèn hoặc máy móc, với lòng tham tiền bạc, và với những trạng thái tinh thần lo âu, đố kỵ hay dửng dưng trước nỗi đau. Sự vô cảm hiện tại của các tầng lớp thượng lưu ở Châu Âu trước những khía cạnh đau khổ, ô uế và tội ác xung quanh không chỉ trói buộc họ vào chung một trách nhiệm với tội lỗi, mà còn vào chung một nỗi ô nhục với sự dơ dáy đang mục rữa ngay trước thềm cửa của họ. Những tội ác được ghi nhận hằng ngày tại các tòa án trị an ở Luân Đôn và Paris (và còn nhiều hơn thế nữa những tội ác không được ghi nhận) là một nỗi ô nhục đối với toàn bộ thể chế chính trị; chúng giống như, trong cơ thể tự nhiên, những vết bệnh trên một khuôn mặt có làn da mỏng manh, khiến cho sự mỏng manh ấy trở nên đáng sợ. Tương tự, sự dơ dáy và nghèo khổ được dung dưỡng hoặc phớt lờ giữa chúng ta cũng mang lại nỗi ô nhục cho toàn bộ thể hội xã hội, giống như trong cơ thể tự nhiên, việc rửa mặt nhưng lại để bàn tay và bàn chân dơ bẩn vậy. Con đường của Chúa là con đường duy nhất đúng đắn: hãy bắt đầu từ đôi chân; khuôn mặt sẽ tự lo liệu lấy phần của mình.

109. Tuy nhiên, vì trong cấu trúc của một quốc gia, thiết yếu là không gì ngoài phần đầu có thể bằng vàng, và phần chân, để làm công việc chúng phải làm, buộc phải một nửa bằng sắt, một nửa bằng đất sét; nên công việc dơ bẩn hoặc máy móc luôn được một chủng tộc cao quý giảm thiểu đến mức tối thiểu về số lượng; và ngay cả khi ấy, chúng vẫn được thực hiện và chịu đựng, không phải không có cảm giác bị hạ thấp, giống như một tâm hồn tinh tế bị tổn thương khi nhìn thấy những công việc thấp kém nhất của cơ thể. Những điều kiện cao nhất của xã hội loài người đạt được cho đến nay đã đẩy những công việc như vậy cho nô lệ; nhưng giả sử rằng chế độ nô lệ theo một định nghĩa chính trị nào đó bị bãi bỏ, thì những việc làm máy móc và dơ bẩn, trong mọi nhà nước được tổ chức cao độ, phải mang diện mạo của hình phạt hoặc thời gian thử thách. Tất cả tội phạm nên lập tức bị bắt làm những hình thức lao động nguy hiểm và đau đớn nhất, đặc biệt là làm việc trong các mỏ quặng và lò luyện, để giảm bớt gánh nặng cho dân lành càng nhiều càng tốt: đối với lao động chân tay thô sơ (không phải máy móc) thuần túy, đặc biệt là lao động nông nghiệp, một phần lớn nên do các tầng lớp thượng lưu đảm nhận; bởi vì sức khỏe thể chất, cùng sự tương phản và nghỉ ngơi đầy đủ cho các chức năng tinh thần, là điều không thể đạt được nếu thiếu đi nó; phần lao động tất yếu thấp kém còn lại phải làm, đặc biệt là trong các ngành sản xuất, nên và sẽ luôn luôn—khi các mối quan hệ xã hội mang tính kính trọng và hài hòa—rơi vào phần việc của những kẻ, vào thời điểm đó, không đủ khả năng làm bất cứ điều gì tốt hơn. Bởi vì bất kể sự hoàn thiện của hệ thống giáo dục đến đâu, vẫn phải tồn tại vô số khác biệt giữa bản chất và năng lực của con người; và những bản chất khác nhau này nhìn chung có thể xếp vào hai phẩm chất: vương giả (hoặc có xu hướng cai trị, kiến tạo và hòa hợp), và nô lệ (hoặc có xu hướng vô kỷ luật, hủy diệt và bất hòa); và vì phần vương giả chỉ hữu ích khi cai trị, và phần nô lệ chỉ có khả năng cứu rỗi khi phục vụ, nên toàn bộ sức khỏe của nhà nước phụ thuộc vào sự tách biệt rõ ràng của hai yếu tố trong tâm trí ấy; bởi vì nếu phần nô lệ không được tách ra và làm cho hiển hiện trong sự phục vụ, nó sẽ hòa lẫn và làm suy đồi toàn bộ cơ thể nhà nước; và nếu phần vương giả không được phân định và đặt vào vị trí cai trị, nó sẽ bị nghiền nát và mất đi, không được tận dụng vào việc gì, khiến cho những phẩm chất quý hiếm nhất của quốc gia đều bị lãng phí một cách vô ích.

II. Luật pháp.

110. Đây là những định nghĩa và sự ràng buộc của phong tục, hoặc của những gì quốc gia mong muốn trở thành phong tục.

Luật pháp hoặc mang tính chỉ đạo (archic), tính phân chia (meristic), hoặc tính phán quyết (critic).

Luật chỉ đạo là luật bổ nhiệm và giới rễ: nó định rõ điều gì được phép và điều gì không được phép làm.

Luật phân chia là luật cân bằng và phân bổ: nó định rõ điều gì được và điều gì không được sở hữu.

Luật phán quyết là luật phân định và ban thưởng: nó định rõ điều gì được và điều gì không được chịu đựng.

111. A. Luật chỉ đạo. Nếu chúng ta chọn hợp nhất các đạo luật về giới rễ và phân bổ dưới tiêu đề "đạo luật thành văn", thì mọi luật lệ suy cho cùng chỉ đơn giản là luật thành văn hoặc luật phán quyết; nghĩa là, thứ nhất là việc thiết lập sắc lệnh, và thứ hai là việc ấn định phần thưởng hoặc hình phạt tương ứng với việc tuân thủ hay vi phạm sắc lệnh đó.

Ở một mức độ nào đó, hai hình thức luật này phải đi đôi với nhau, và cùng với mọi sắc lệnh, hình phạt cho sự bất tuân cũng phải được ấn định. Nhưng vì các mức độ và tội lỗi của sự bất tuân rất khác nhau, việc xác định phần thưởng và hình phạt thích đáng phải được điều chỉnh bằng sự thấu triệt các tình tiết đặc biệt, đây vốn là chức năng đặc thù của thẩm phán, khác với chức năng của nhà lập pháp, người duy trì luật pháp, hay nhà vua; không phải là hai chức năng này không bao giờ được hợp nhất về mặt lý thuyết, và trong các giai đoạn đầu hoặc ở quy mô xã hội giới hạn, chúng thường được hợp nhất trên thực tế trong cùng một hoặc những con người.

112. Ngoài ra, cần phải giữ cho rõ ràng sự phân biệt giữa hai loại luật này, bởi vì phạm vi khả dĩ của luật pháp sẽ rộng hơn tương ứng với mức độ tách biệt của chúng. Có rất nhiều điểm về hạnh kiểm mà quốc gia có thể khôn ngoan bày tỏ ý chí của mình bằng một giới rễ hoặc nghị quyết bằng văn bản, nhưng lại không cưỡng chế nó bằng hình phạt; và mức độ hình phạt hợp lý luôn là một cân nhắc hoàn toàn độc lập với sự thực tế của đạo luật; bởi vì đạo luật thường có thể được thi hành tốt hơn bằng lòng nhân xui thay vì sự nghiêm khắc, lại dễ chịu đựng hơn và ít có nguy cơ bị bãi bỏ hơn. Hơn nữa, luật chỉ đạo nhắm đến giới trẻ là chính và quan tâm đến việc rèn luyện; nhưng luật phán quyết nhắm đến tuổi trưởng thành và quan tâm đến sự khắc phục cùng phần thưởng. Có một tâm lý kỳ lạ trong tâm trí người Anh chống lại luật giáo dục: chúng ta cho rằng không nên can thiệp vào tự do của bất kỳ ai cho đến khi anh ta gây ra sai lầm không thể vãn hồi; trong khi đó, lúc ấy lại vừa hay quá muộn cho sự can thiệp duy nhất mang tính nhân hậu và vương giả, đó là ngăn cản anh ta gây ra sai lầm ấy. Hãy làm cho các luật giáo dục của bạn trở nên nghiêm ngặt, và các luật hình sự của bạn có thể ôn hòa; nhưng nếu để tuổi trẻ được tự do, bạn sẽ phải đào ngục tối cho tuổi già. Và thật tốt cho một con người khi anh ta "mang ách từ thuở trẻ": bởi vì khi ấy dây cương có thể bằng tơ lụa, với tiếng chuông bạc ngân vang ngọt ngào ở dây cương; nhưng đối với sự giam cầm của tuổi già, bạn buộc phải rèn cùm sắt và gióng lên tiếng chuông khai tử.

113. Vì không một đạo luật nào có thể được thiết lập theo nghĩa cuối cùng hoặc chân chính, nếu không dựa trên sự phải quấy (mọi luật lệ bất công đều hàm chứa nhu cầu tất yếu phải tự bãi bỏ), nên quyền lực lập pháp chỉ có thể trở thành quyền lực duy trì luật pháp chừng nào nó mang tính Vương giả, hay "hành xử đúng đắn"; nghĩa là, chừng nào nó cai trị chứ không phải cai trị tồi, và sắp đặt chứ không phải làm rối loạn những gì được giao phó cho nó. Ngự trị trên tảng đá công lý này, quyền lực vương giả trở nên vững chãi và thiết lập nên trật tự; "θειος", hay mang tính thần thánh, và do đó, hoàn toàn đúng đắn khi nói rằng không một nhà cai trị nào có thể sai lầm, chừng nào ông ta còn là một nhà cai trị, hoặc αρχων ουδεις αμαρτανει τοτε ὁταν αρχων η; bị bóp méo bởi lối suy nghĩ bất cẩn, thứ đã khiến thế giới phải trả giá không nhỏ thành—"nhà vua không bao giờ làm điều sai quấy."

114. B. Luật phân chia, hay luật về quyền sở hữu tài sản, trước hết xác định những gì mỗi cá nhân sở hữu một cách hợp pháp và bảo đảm nó cho anh ta; cùng những gì anh ta sở hữu một cách phi pháp và tước bỏ nó khỏi anh ta. Nhưng nó còn có một chức năng dự phòng cao hơn nhiều: nó xác định những gì mỗi người nên sở hữu và đặt điều đó vào tầm tay anh ta với các điều kiện thích hợp; cùng những gì anh ta không nên sở hữu, và dứt khoát đặt điều đó ra khỏi tầm tay anh ta.

115. Mỗi vật phẩm của sự giàu có ở con người đều gắn liền với những điều kiện nhất định để được sở hữu một cách chính đáng; khi những điều kiện này không được tuân thủ, quyền sở hữu sẽ biến thành hành vi cướp bóc. Và mục tiêu của luật phân chia không chỉ là bảo đảm cho mỗi người phần thuộc về chính đáng của họ (nghĩa là phần mà họ đã lao động để có được, đã sản xuất ra, hoặc nhận được như một món quà từ người chủ hợp pháp), mà còn là để cưỡng chế các điều kiện sở hữu thích đáng, trong phạm vi mà luật pháp có thể vươn tới một cách thuận tiện; ví dụ như đất đai không được phép bỏ hoang một cách bừa bãi, các dòng suối không được để bị đầu độc bởi những kẻ có đất đai chạy ngang qua đó, và không khí không được phép trở trở nên ô uế vượt quá những giới hạn nhất định. Những đạo luật loại này đã tồn tại ở mức độ phôi thai, nhưng cần phải được phát triển mạnh mẽ; những đạo luật công bằng liên quan đến quyền sở hữu các tác phẩm nghệ thuật cho đến nay thậm chí còn chưa được hình thành, và sự thất thoát hằng ngày của tài sản quốc gia cũng như công dụng của nó trong khía cạnh này là hoàn toàn không thể tính toán được. Và những đạo luật này cần được xem xét lại không kém đối với tài sản nằm trong tay nhà nước cũng như trong tay tư nhân. Chẳng hạn: công chúng có một ấn tượng mơ hồ rằng, bởi vì họ đã trả tiền cho các hiện vật trong Bảo tàng Anh, nên mọi người đều có quyền như nhau để xem và chạm vào chúng. Nhưng công chúng cũng đã trả tiền tương tự cho kho vũ khí Woolwich; thế nhưng lại không mong đợi được tự do ra vào hay chạm vào các hiện vật trong đó. Bảo tàng Anh không phải là một thư viện cho mượn sách miễn phí, cũng không phải là một trường học miễn phí: nó là nơi để bảo quản an toàn, và trưng bày vào những dịp thích hợp, những cuốn sách độc bản, những hiện vật lịch sử tự nhiên độc bản, và những tác phẩm nghệ thuật độc bản; sách của nó không thể bị sử dụng bởi bất cứ ai cũng như tiền xu của nó không thể bị chạm vào, hay tượng của nó không thể bị đem đi đúc. Phải có các thư viện miễn phí ở mọi khu vực của Luân Đôn, với các phòng đọc sách lớn và đầy đủ đi kèm; tương tự, các bảo tàng giáo dục miễn phí nên được mở cửa ở mọi khu vực của Luân Đôn, suốt cả ngày lẫn đêm cho đến tận đêm muộn, được thắp sáng đầy đủ, có mục lục rõ ràng và phong phú về cả nghệ thuật lẫn lịch sử tự nhiên. Nhưng cả Bảo tàng Anh hay Phòng trưng bày Quốc gia đều không phải là trường học; chúng là những kho tàng; và cả hai đều phải bị hạn chế nghiêm ngặt về khả năng tiếp cận cũng như cách sử dụng. Trừ khi một trật tự nào đó kiểu này được thiết lập, và phải thật sớm, đối với bộ phận thủ bản của Bảo tàng (các giám thị ở đây đã nói với tôi điều đó một cách đầy đau buồn, và lặp đi lặp lại nhiều lần), những thủ bản đẹp nhất trong bộ sưu tập sẽ bị tàn phá không thể cứu vãn bởi sự chạm mó bất cẩn và liên tục mà chúng đang phải chịu đựng hiện nay.

Cuối cùng, trong những điều kiện tiến bộ nhất định của một quốc gia, các đạo luật hạn chế sự tích lũy bất kỳ loại tài sản nào có thể được coi là thiết thực.

116. C. Luật phán quyết xác định các vấn đề về sự tổn hại, và ấn định phần thưởng cũng như hình phạt thích đáng cho hành vi.

Hai câu hỏi kinh tế kỳ lạ nảy sinh bên lề liên quan đến nhánh luật này, đó là chi phí của tội ác và chi phí của việc phán xét. Chi phí của tội ác được các quốc gia âm thầm gánh chịu, vì khoản chi phí đó không hề được thống kê ở bất kỳ bản ngân sách nào; còn chi phí của việc phán xét thì được gánh chịu một cách kiên nhẫn (miễn là công lý mua được bằng tiền vẫn còn thanh khiết), bởi vì khoa học, hoặc có lẽ chúng ta nên gọi là nghệ thuật luật pháp, được cảm nhận là đã tạo nền tảng cho một nghề nghiệp và kỷ luật cao quý; thế nên các quốc gia văn minh thường vui mừng khi thấy một số lượng người được nuôi sống nhờ việc thực hành hùng biện và phân tích. Nhưng người ta vẫn chưa tính toán được giá trị thực tế có thể đạt được, ở những phương diện khác, của trí tuệ hiện nay đang tiêu tốn qua nhiều năm trời để quyết định một việc vốn có thể được quyết định công bằng không kém, nếu thời điểm phán xét được ấn định trong chừng ấy giờ. Hãy tưởng tượng một nửa số quỹ mà bất kỳ quốc gia lớn nào dành cho tranh chấp pháp lý lại được ứng dụng vào việc giải quyết các vấn đề vật lý trong y học, nông nghiệp và khoa học lý thuyết; và hãy tính toán những kết quả có khả năng đạt được trong vòng mười năm tới!

Tôi chưa nói gì đến tổn thất chết chóc hơn, đáng tiếc hơn, liên quan đến việc sử dụng công lý mua bằng tiền thay vì công lý của chính mình—“επακτω παρ αλλων—απορια οικεων.”

117. Để phân tích đúng đắn luật phán quyết, chúng ta phải hiểu rõ ý nghĩa thực sự của từ "tổn hại" (injury).

Chúng ta thường hiểu từ này là bất kỳ loại tổn hại nào do người này gây ra cho người khác; nhưng chúng ta không định nghĩa khái niệm tổn hại: đôi khi chúng ta giới hạn nó trong những tổn hại mà nạn nhân nhận thức được; trong khi phần lớn những tổn hại tồi tệ nhất lại là những thứ mà anh ta không hề nhận thức được; và vào những lúc khác, chúng ta giới hạn khái niệm này trong bạo lực hoặc sự kiềm chế; trong khi những hình thức tổn hại tồi tệ nhất lại được thực hiện thông qua sự lười biếng và việc rút lại sự kiềm chế.

118. Do đó, "tổn hại" đơn giản là sự từ chối hoặc vi phạm quyền lợi hay yêu sách của bất kỳ ai đối với đồng loại của mình; mà yêu sách ấy, được bàn tán nhiều trong thời hiện đại dưới thuật ngữ "quyền", chủ yếu quy về hai nhánh: yêu sách của một con người không bị cản trở làm những gì mình nên làm; và yêu sách của anh ta được cản trở không làm những gì mình không nên làm; hai hình thức cản trở này được cường điệu hóa bởi phần thưởng, sự giúp đỡ và vận may, hoặc Fors, ở một bên; và bởi hình phạt, sự cản trở, thậm chí là sự chặn đứng cuối cùng, hoặc Mors, ở bên kia.

119. Giờ đây, để một người có được hai quyền này, rõ ràng cần phải biết xấp xỉ giá trị của anh ta; cũng như sự kém giá trị, vốn không may lại thường là chủ đề chính của việc nghiên cứu đối với luật phán quyết, từ trước đến nay chỉ cẩn thận vạch ra các mức độ sai trái thay vì công trạng; thực tế là ấn định cho những sự thiếu sót (than ôi, không phải lúc nào cũng được thế!) sự đánh giá, tiền phạt hoặc hình phạt đúng mức; nhưng đối với những năng lực vượt trội ở phía bên kia, vốn là phần thú vị hơn rất nhiều cũng như là phần mang lại lợi ích duy nhất của chủ đề này, lại không ấn định sự đánh giá hay bất kỳ sự trợ giúp nào.

120. Giờ đây, chính trong chức năng cao cả và hoàn thiện này của luật phán quyết—trao quyền thay vì tước quyền—mà nó trở nên thực sự mang tính Vương giả thay vì tac Dracon (vị thần hay đấng bề trên nào đã ban cho nhà lập pháp vĩ đại đầy thị nộ ấy cái tên đó?): nghĩa là, nó trở thành luật của con người và của sự sống, thay vì luật của loài sâu bọ và của cái chết —cả hai bộ luật này được đặt trong thế cân bằng bất biến đối lập nhau, và việc thi hành cả hai là chức năng vĩnh cửu của nhà lập pháp, cũng như là yêu sách chân chính của mọi linh hồn đang sống; yêu sách ấy quả thực mạnh mẽ ở chỗ được nhân từ ngăn cản, thậm chí nếu cần thiết có khi phải bị tước bỏ, khi sự tồn tại kéo dài chỉ đồng nghĩa với sự hủy diệt sâu sắc hơn; nhưng lại càng mạnh mẽ hơn nữa ở chỗ được nhân từ giúp đỡ và tái tạo, khi sự tồn tại kéo dài và sự sáng tạo mới đồng nghĩa với một cuộc sống cao cả hơn. Thế nên phần thưởng và hình phạt sẽ tự phân giải chủ yếu thành sự giúp đỡ và sự cản trở; và những điều này một lần nữa sẽ xuất phát tự nhiên từ sự nhận thức kịp thời về công trạng, cùng sự tôn kính đúng mực và cơn thịnh nộ đúng mực phát sinh theo bản năng từ sự nhận thức đó.

121. Tôi nói là "phát sinh", nhưng thực ra chúng là một phần của sự nhận thức ấy. Sự tôn kính mang tính bản năng chẳng kém gì cơn giận; cả hai đều bộc phát ngay lập tức khi có được tầm nhìn chân chính: điều mà chúng ta phải dạy dỗ chính là khả năng nhìn nhận và thấu hiểu, và đó chính là sự tôn kính. Hãy khiến một người nhận thức được giá trị, và trong sự phản chiếu của nó, anh ta sẽ nhìn thấy sự kém giá trị tương đối của chính mình, để rồi từ đó tôn sùng một cách tất yếu, không phải với sự cung kính cứng nhắc, mà trong niềm hân hoan, say đắm và tuyệt vời nhất là sự an tịnh: bởi vì năng lực nội tại của sự kinh ngạc và tình yêu là vô tận ở con người, và chỉ khi tìm thấy những điều đó, chúng ta mới tìm thấy sự bình an. Và thói hỗn hào cùng sự cáu kỉnh thông thường của dân chúng, cùng những lời bàn về sự bình đẳng của họ, hoàn toàn không phải là sự bất kính, mà chỉ là sự mù quáng, sự tê liệt và sương mù trong bộ não, dấu hiệu đầu tiên cho thấy sự tẩy trừ lớp sương mù ấy là họ đạt được một số năng lực để phân định, và một số sự nhẫn nại để phục tùng, những cố vấn và nhà cai trị chân chính của họ. Phương thức của sự phân định ấy tạo nên "hiến pháp" thực sự của nhà nước, còn hơn cả các tước hiệu hay chức vụ của người được phân định; bởi vì việc một người được bổ nhiệm vào chức vụ nào chẳng có ý nghĩa gì, ngoại trừ mức độ gây hại, nếu anh ta không thể hoàn thành nó.

122. III. Chính quyền bằng Hội đồng.

Đây là sự quyết định, bởi thẩm quyền sống động, về hạnh kiểm quốc gia phải tuân theo dưới những hoàn cảnh hiện tại; và sự sửa đổi hoặc mở rộng, bãi bỏ hoặc thi hành bộ luật quốc gia theo những nhu cầu hoặc mục đích hiện tại. Chính quyền này thiết yếu luôn được điều hành bằng hội đồng, bởi vì dẫu thẩm quyền của nó có thể được trao cho một cá nhân, cá nhân đó cũng không thể hình thành bất kỳ quan điểm nào về một vấn đề lợi ích công cộng nếu không (một cách tự nguyện hoặc bất đắc dĩ) đặt mình dưới ảnh hưởng của những người khác.

Chính quyền này luôn mang tính kép: hữu hình và vô hình.

Chính quyền hữu hình là chính quyền trên danh nghĩa tiến hành công việc quốc gia; quyết định các mối quan hệ đối ngoại, thu thuế, trưng binh, ra lệnh chiến tranh hoặc hòa bình, và qua đó trở thành kẻ phân định vận mệnh quốc gia. Chính quyền vô hình là chính quyền do tất cả những con người năng nổ và thông minh thực thi, mỗi người trong lĩnh vực của mình, điều tiết ý chí bên trong và con đường thầm kín của người dân, thực chất hình thành nên tính cách và chuẩn bị cho số phận của họ.

Các chính quyền hữu hình là món đồ chơi của một số quốc gia, căn bệnh của những quốc gia khác, bộ yên cương của vài nước, gánh nặng của nhiều nước hơn, và là sự cần thiết của tất cả. Đôi khi quỹ đạo hoạt động của họ hoàn toàn tách biệt với quỹ đạo của nhân dân, và việc viết về nó, như thể lịch sử quốc gia, giống như việc đếm những tai nạn xảy ra với vũ khí và tủ quần áo của một người rồi gọi danh sách ấy là tiểu sử của anh ta. Mặc dù vậy, một quốc gia thực sự cao quý và khôn ngoan nhất thiết phải có một chính quyền hữu hình cao quý và khôn ngoan, bởi vì sự khôn ngoan của quốc gia ấy rốt cuộc sẽ kết tinh vào đó.

123. Các chính quyền hữu hình, trong các cơ chế hoạt động của chúng, có khả năng mang ba hình thức thuần túy và không quá ba hình thức đó.

Chúng hoặc là chế độ quân chủ, nơi thẩm quyền tập trung vào một cá nhân; chế độ đầu sỏ, khi nó tập trung vào một thiểu số; hoặc chế độ dân chủ, khi tập trung vào một đa số.

Nhưng ba hình thức này không chỉ, trên thực tế, bị giới hạn và kết hợp theo nhiều cách khác nhau, mà còn có khả năng tạo ra sự khác biệt vô tận về tính cách và công dụng, nhận những cái tên cụ thể theo các biến thể của chúng; những cái tên này, vốn không hề được thống nhất, cũng không được sử dụng một cách nhất quán trong tư duy hay văn bản, khiến cho hiện tại không ai có thể nói rằng, khi nói về bất kỳ loại chính quyền nào, liệu mình có được hiểu hay không; cũng như khi nghe, liệu mình có hiểu hay không. Do đó, chúng ta thường gọi một chính quyền công bằng do một người đứng đầu là chế độ quân chủ, và một chính quyền bất công hoặc tàn ác là chế độ bạo chúa; điều này có thể hợp lý nếu nó ám chỉ đến tính thần thánh của chính quyền chân chính; nhưng việc giới hạn thuật ngữ "chế độ đầu sỏ" đối với chính quyền của một nhúm người giàu, và gọi chính quyền của một nhúm người khôn ngoan hay cao quý là "chế độ quý tộc", rõ ràng là vô lý, trừ khi người ta chứng minh được rằng người giàu không bao giờ khôn ngoan, hoặc người cao quý không bao giờ giàu; và càng vô lý hơn, bởi vì còn có những sự khác biệt khác trong tính cách, cũng như sự giàu có hay sự khôn ngoan (ví dụ như độ thuần chủng của dòng giống, hoặc sức mạnh của mục đích), những thứ có thể trao quyền lực cai trị cho thiểu số. Thế nên nếu chúng ta phải đặt tên cho mọi nhóm hoặc mọi loại thiểu số, chúng ta sẽ có dư thừa từ ngữ. Nhưng chỉ có một cái tên đúng đắn duy nhất—“chế độ đầu sỏ”.

124. Tương tự, các thuật ngữ "hành chính cộng hòa" và "dân chủ" cũng bị lẫn lộn, đặc biệt là trong cách dùng hiện đại; và cả hai đều dễ vướng vào mọi loại ngộ nhận. Một nước cộng hòa mang ý nghĩa đích thực là một thể chế chính trị trong đó nhà nước, với tất cả những gì mình có, luôn phục vụ mọi người, và mọi người, với tất cả những gì mình có, luôn phục vụ nhà nước (mọi người thường hay quên mất điều kiện sau này), nhưng chính quyền của nó tuy vậy vẫn có thể mang tính đầu sỏ (chẳng hạn như thời chấp chính quan, hoặc thời thập nhân trị), hoặc quân chủ (chẳng hạn như độc tài). Nhưng dân chủ lại có nghĩa là một nhà nước trong đó chính quyền nằm trực tiếp trong tay đa số công dân. Và cả hai điều kiện này chỉ được đánh giá qua những tai ương và khía cạnh mà mỗi chúng ta từng trải nghiệm; và đôi khi cả hai bị lẫn lộn với tình trạng vô chính phủ, giống như trào lưu hiện nay hay bàn về "sự thất bại của các thể chế cộng hòa ở Châu Mỹ", trong khi ở Châu Mỹ chưa từng có bất kỳ cái gọi là thể chế nào, mà chỉ có sự thách thức đối với thể chế; cũng chưa từng có cái gọi là công ích (res-publica), mà chỉ có vô vàn tư lợi (res-privata); ai nấy lo thân người đó. Không phải chủ nghĩa cộng hòa đang thất bại ở Châu Mỹ ngày nay; mà chính là khoa học kinh tế mẫu mực của các vị, đã được đưa vào thực tiễn một cách hoàn hảo. Ở đó, các vị có thể thấy sự cạnh tranh, và "quy luật cung cầu" (đặc biệt là trong tiền giấy), đang vận hành một cách tuyệt vời và không bị cản trở. Lòng ham muốn sự giàu có, và niềm tin vào nó; đức tin thô tục vào quy mô và số lượng thay vì sự cao quý; bên cạnh niềm tin vốn dĩ tự nhiên của những kẻ sống nơi rừng sâu hoang dã—“lucum ligna”; sự tự chiêm nghiệm không dứt, dẫn đến sự kiêu ngạo đến cuồng nhiệt; sự dốt nát hoàn toàn về những nghệ thuật tinh tế và cao cả hơn cùng tất cả những gì chúng dạy bảo và ban tặng; và sự bất mãn của những tâm trí năng nổ nhưng không có việc làm, cuồng loạn với hy vọng về sự thay đổi không tài nào hiểu thấu và một sự tiến bộ mà họ chẳng biết sẽ đi về đâu; đó là những thứ đã "thất bại" ở Châu Mỹ; và dẫu vậy cũng không hoàn toàn thất bại—đó không phải là sự sụp đổ, mà là sự va chạm; vụ tai nạn đường sắt lớn nhất từng được ghi nhận, với ngọn lửa bén từ lò suyện, và câu nói dập tắt của Catiline “non aquâ, sed ruinâ.” Nhưng tôi thấy trong mọi lời bàn tán của chúng ta về họ, người ta vẫn chưa dành đủ sự công bằng cho ý chí kiên định đầy ngẫu hứng của họ, cũng như chưa có bất kỳ sự đánh giá nào về sức chịu đựng nỗi đau gia đình, trong điều mà phụ nữ và trẻ em của họ cho là một chính nghĩa. Và từ sự chịu đựng và đau khổ ấy, quả ngọt của riêng nó sẽ đâm chồi theo thời gian; [tuy nhiên không phải là sự bãi bỏ chế độ nô lệ. Xem Mục 130.] và lời tiên tri của Carlyle về họ (tháng 6 năm 1850), đúng như nó đã ứng nghiệm ở vế đầu, cũng sẽ ứng nghiệm ở vế sau:

“Châu Mỹ rồi cũng sẽ nhận ra rằng các cuộc họp kín, các phe phái chia rẽ, những bài diễn thuyết bên lề đường và những lời hoa mỹ mị dân sẽ không thể đưa con người đến với các vị thần bất tử; rằng Quốc hội Washington và cuộc chiến hiến pháp của những con mèo ở Kilkenny cũng vô giá trị cho những mục tiêu ấy ở đó, giống như ở đây; hoàn toàn bất lực cho những mục đích như thế; và rốt cuộc, cái sự sắp đặt hiến pháp siêu việt kia sẽ đòi hỏi phải được (với những cơn quặn thắt khủng khiếp và nỗi đau sinh thành mà ít ai ngờ tới) tái thiết, rút gọn, mở rộng, bãi bỏ, xé nát, rồi ráp nối lại với nhau—không phải bằng lao động và nỗ lực anh hùng của những kẻ mị dân hay nhà truyền giáo phong trào hồi sinh nào khác, mà là vào một ngày nào đó.”

125. Vậy thì, hãy hiểu cho rõ một lần và mãi mãi rằng, không có hình thức chính quyền nào, miễn là nó thực sự là một chính quyền, tự thân nó lại đáng bị lên án hay ca ngợi, hay bị tranh giành bằng bất kỳ cách nào, ngoại trừ bởi những kẻ ngốc. Nhưng mọi hình thức chính quyền đều tốt chừng nào chúng đạt được nhu cầu thiết yếu này của chính sách—rằng những kẻ khôn ngoan và nhân hậu, dù ít hay nhiều, sẽ cai trị những kẻ ngu ngốc và tàn độc; và chúng tồi tệ chừng nào chúng bỏ lỡ điều này, hoặc đảo ngược nó. Hình thức trong bất kỳ trường hợp nào cũng không hề có một chút ý nghĩa nào, mà là sự vững chãi và khả năng thích ứng với nhu cầu; bởi vì nếu có nhiều kẻ ngu ngốc trong một nhà nước, và ít kẻ khôn ngoan, thì việc ít kẻ khôn ngoan cai trị là điều tốt; và nếu có nhiều kẻ khôn ngoan, và ít kẻ ngu ngốc, thì việc đa số cai trị là điều tốt; và nếu nhiều kẻ khôn ngoan, nhưng lại có một kẻ khôn ngoan hơn cả, thì việc một kẻ cai trị là điều tốt; cứ thế tiếp diễn. Do đó, chúng ta có thể có "nước cộng hòa của loài kiến, và vương quốc của loài ong", cả hai đều tốt theo cách riêng của chúng; một bên để bò trườn, bên kia để xây tổ; và cao quý hơn nữa, để bay lượn—chế độ quân chủ Công tước của những loài

Thấu triệt các mùa, cất cánh bay lên

Đoàn lữ hành tầng không, vượt ngàn trùng sóng cả.

126. Chúng ta cũng chẳng thiếu những ví dụ, ngay trong số các loài hạ đẳng, về sự phóng túng cũng như sự kiên định trong cách điều hành. Tôi từng chứng kiến chế độ dân chủ được minh họa một cách tinh tế bởi loài bọ cánh cứng ở Bắc Thụy Sĩ, những kẻ bằng quyền phổ thông đầu phiếu và tiếng reo hò bằng cánh cứng, vào một buổi chập tối tháng Năm, đã quyết định rằng chúng sẽ bay qua Hồ Zug; và rồi bay chẳng được bao xa, để lại nỗi hoen ố lớn cho Hồ Zug—Κανθαρον λιμην—trên diện tích vài dặm vuông, và khép lại chế độ dân chủ bọ hung cho năm đó. Kế đến, về chế độ bạo chúa, ngụ ngôn cổ điển về bầy ếch và con cò thể hiện rất tinh tế một hình thức của nó; nhưng thực tế sẽ phác họa nó sát thực hơn ngụ ngôn, bởi vì bạo chúa không chỉ hoàn toàn thống trị khi hắn đè đầu cưỡi cổ những kẻ lười biếng, mà là khi hắn thống trị cả những kẻ chăm chỉ và những kẻ mù lòa. Đoạn miêu tả về loài bồ nông và cá rô leo cây này, mà tôi tìm thấy được trích dẫn trong một trong những quyển sách lịch sử tự nhiên phổ biến của chúng ta, lấy từ cuốn sách về Ceylon của Ngài Emerson Tennant, gần như lột tả chính xác hình ảnh chân thực của sự việc:

“Những trận mưa lớn trút xuống, và khi chúng tôi đứng trên vùng đất cao, chúng tôi quan sát thấy một con bồ nông ở rìa vũng nước nông đang ngấu nghiến ăn; người của chúng tôi tiến lại phía nó và hô lên: ‘Cá, cá!’ Chúng tôi vội vã chạy xuống và phát hiện rất nhiều cá đang giãy giụa bơi ngược lên qua bãi cỏ, trong những rãnh nước do nước mưa rỉ thành dòng. Hầu như chẳng có đủ nước để che thân chúng, thế nhưng chúng vẫn tiến lên rất nhanh dọc theo bờ dốc, nơi những người theo hầu chúng tôi đã gom được khoảng hai giỏ cá. Chúng đang cố gắng vượt lên gò đất, và nếu không bị cản trở, thoạt đầu bởi con bồ nông, và sau đó bởi chính chúng tôi, thì chỉ trong vài phút chúng đã có thể đạt đến điểm cao nhất và vượt xuống phía bên kia vào một vũng nước vốn là một phần khác của cái đầm. Tuy nhiên, khi vượt qua khoảng cách đó, chúng hẳn đã phải dùng đến sức cơ bắp đủ để đưa chúng đi nửa dặm trên mặt đất bằng phẳng; bởi vì tại những nơi này, tất cả gia súc và động vật hoang dã vùng lân cận thời gian gần đây đều đến uống nước, khiến cho bề mặt đâu đâu cũng hằn những vết chân, bên cạnh những vết nứt nẻ trên lớp bùn khô xung quanh mà lũ cá đã rơi vào trong hành trình của mình. Trong những cái hố sâu với các vách đứng ấy, chúng đành ở lại để chết, rồi bị diều hâu và quạ tha đi.”

127. Nhưng dù các chính quyền có tồi tệ hay tốt đẹp đi chăng nữa, có một bất lợi chung dường như luôn gắn liền với chúng trong thời hiện đại—đó là tất cả chúng đều tốn kém. Tuy nhiên, đây không hẳn là lỗi của các chính quyền. Nếu các quốc gia chọn trò chơi chiến tranh, họ sẽ luôn thấy các chính quyền sẵn sàng dẫn dắt trò chơi đó, và nhanh chóng rơi vào danh xưng của Aristophanes, “καπηλοι ασπιδων”, tức “những kẻ buôn khiên”. Và khi (πημ επι πηματι) những chiếc khiên mang hình hài của những con tàu bằng sắt, với các thiết bị “để phòng thủ chống lại ngọn lửa lỏng”—như tôi thấy qua các bản tin mới nhất rằng họ đang sắp xếp các boong tàu tại các ụ tàu của Anh—chúng trở thành những cỗ quan tài tốn kém đủ để đoàn tàu xám xịt gồm những con sóng tang chế, được quấn quanh bằng bọt biển tang lễ, chở những thây ma quay về; trong khi đôi vai lực lưỡng của những kẻ khiêng tử thi ấy đáng lẽ phải dùng cho những công việc hoàn toàn khác, đó là mang theo người sống và thức ăn cho người sống, nếu như chúng ta chịu để họ làm vậy.

128. Chúng ta cũng chẳng có chút quyền nào để phàn nàn về việc các chính quyền của mình đắt đỏ, chừng nào chúng ta còn bắt chính quyền làm chính xác cái công việc chẳng mang lại chút lợi nhuận nào. Nếu các học thuyết hiện tại của chúng ta về kinh tế chính trị là đúng đắn, hãy tin tưởng chúng một cách tối đa; hãy tước bỏ công việc chiến tranh đó khỏi tay chính quyền, và kiểm chứng các nguyên tắc cung cầu trong đó. Hãy để những cuộc vây hãm Sevastopol trong tương lai của chúng ta được thực hiện theo hợp đồng—không hạ được thành, không trả tiền—(tôi thừa nhận rằng mọi thứ đôi khi có thể diễn ra suôn sẻ hơn theo cách đó); và hãy bán quyền chỉ huy các trận chiến sắp tới của chúng ta, cùng với các giáo xứ của mình, cho kẻ trả giá thấp nhất; bằng cách đó, chúng ta có thể có những chiến thắng giá rẻ và cả thần học. Mặt khác, nếu chúng ta hoài nghi khoa học của mình đến mức không dám tin tưởng nó vào các vấn đề quân sự hay tâm linh, chẳng phải sẽ rất hợp lý khi thử xem liệu một sự can thiệp mang tính thẩm quyền nào đó có thể đem lại sự thịnh vượng trong các vấn đề thực lợi hay sao? Nếu chúng ta giao cho chính quyền làm những việc hữu ích thay vì những việc phá hoại, rất có thể ngay cả bản thân cỗ máy ấy theo thời gian cũng sẽ trở nên ít tốn kém hơn. Cái máy, khi được ứng dụng vào việc xây nhà, có lẽ sẽ sinh lời, thay vì mang tiếng là không sinh lời khi được ứng dụng vào việc phá nhà. Nếu tại các ụ tàu của mình, chúng ta chế tạo những con tàu chở gỗ và than thay vì đại bác, và dự trù cho việc sưởi ấm ngọn lửa nấu nướng ấm cúng trong gia đình thay vì phóng ra ngọn lửa hủy diệt của kẻ thù, điều đó có thể tạo ra một số tác động đến tiền thuế. Hoặc giả như chúng ta thử nghiệm trên đường bộ thay vì đường thủy; ngay lúc này, chính quyền, không phải là không được tán thành, đang chuyển thư từ và bưu phẩm cho chúng ta; những kiện hàng lớn hơn có thể theo sau; thậm chí cả hàng hóa nói chung—tại sao cuối cùng lại không thể là chính chúng ta? Giả như số tiền lãng phí vào những sai lầm cục bộ và các vụ kiện tụng tư nhân vô bổ trên các tuyến đường sắt ở Anh được đem ra đầu tư, dưới sự kiểm soát đúng đắn của chính quyền, vào công việc làm đường sắt thực sự hữu ích, và không có chi phí ngớ ngẩn nào bị vung tay cho việc trang trí các nhà ga, thì chúng ta từ lâu đã có thể có được—điều mà rốt cuộc người ta sẽ nhận ra là chúng ta buộc phải có—những đường ray bốn làn, hai cho hành khách và hai cho hàng hóa, trên mọi tuyến đường lớn; và chúng ta đã có thể được chuyên chở trong sự an toàn nhanh chóng, được canh giữ và bảo vệ bởi những nhân viên bẻ gãy đường ray được trả lương xứng đáng, với mức giá vé chỉ bằng một nửa hiện tại. [Bởi vì, tất nhiên, một công ty đường sắt chẳng qua chỉ là một hiệp hội những kẻ thu phí cầu đường, những kẻ đẩy giá vé qua lại cao nhất có thể, không phải để sửa chữa đường sá, mà là để đút túi riêng. Công chúng rồi sẽ nhận ra điều này theo thời gian, và xóa bỏ các trạm thu phí trên đường sắt, cũng như trên mọi lối đi công cộng khác.]

129. Giả sử cuối cùng hóa ra một chính quyền chân chính được giao phó công việc chân chính, thay vì là một cỗ máy tốn kém, lại là một cỗ máy sinh lời thì sao? Rằng chính quyền của các vị, được tổ chức đúng đắn, thay vì tự duy trì bằng thuế thu nhập, lại sẽ mang lại cho thần dân của mình một khoản sinh kế dưới hình thức cổ tức thu nhập? Thêm vào đó là lực lượng cảnh sát và các thẩm phán được trả lương đàng hoàng, chỉ với khối lượng công việc ít hơn so với những gì nhà nước hiện đang cung cấp cho họ.

Một chính quyền chân chính được giao phó công việc chân chính! Điều đó không dễ hình dung, lại càng khó đạt được; nhưng không vượt quá hy vọng hay sự khéo léo của con người. Chỉ là trước tiên các vị sẽ phải thay đổi phần nào hệ thống bầu cử của mình. Không phải bằng phổ thông đầu phiếu, cũng chẳng phải bằng những lá phiếu có thể mua được bằng bia, mà người ta có được một chính quyền như thế. Nghĩa là, không phải bằng phổ thông đầu phiếu bình đẳng. Mọi người đàn ông từ hai mươi tuổi trở lên, chưa từng bị kết án phạm tội theo luật định, nên có tiếng nói trong vấn đề này; nhưng sau đó, tiếng nói của anh ta sẽ có trọng lượng hơn khi anh ta lớn tuổi hơn và chứng minh được sự khôn ngoan của mình. Nếu anh ta có một phiếu bầu ở tuổi hai mươi, anh ta nên có hai phiếu ở tuổi ba mươi, bốn phiếu ở tuổi bốn mươi, mười phiếu ở tuổi năm mươi. Với mỗi một phiếu bầu mà anh ta có khi thu nhập là một trăm bảng một năm, anh ta nên có mười phiếu khi thu nhập là một nghìn bảng (với điều kiện các vị trước tiên phải đảm bảo rằng sự giàu có thực sự là phần thưởng của sự sắc sảo và chăm chỉ, chứ không phải của vận may trong một cuộc tranh giành hay xổ số). Với mỗi một phiếu bầu mà anh ta có với tư cách là cấp dưới trong bất kỳ công việc nào, anh ta nên có hai phiếu khi trở thành chủ; và mọi chức vụ và thẩm quyền do quốc gia ban trao, ngụ ý sự đáng tin cậy và trí tuệ, đều phải có một số lượng phiếu bầu tương ứng đã được ấn định gắn liền với nó. Nhưng chúng ta không thể đi sâu vào chi tiết và cách vận hành của một hệ thống chân chính trong các vấn đề này lúc này; chúng ta hiện chỉ bận tâm đến các định nghĩa và những tuyên bố về các nguyên tắc nền tảng, những điều sẽ được thiết lập đủ cho các mục đích của chúng ta khi chúng ta xem xét bản chất của hình thức chính quyền đứng cuối cùng trong danh sách ở Mục 105—hình thức thuần túy "Chủ quyền" (Magistral), hiện đang thu hút sự chú ý không nhỏ của công chúng dưới cái tên mơ hồ là "chế độ nô lệ".

130. Tuy nhiên, tôi đã không thể xác định rõ ràng từ những kẻ lớn tiếng đả kích chế độ nô lệ xem họ hiểu thế nào về nó. Nếu ý họ chỉ là sự giam cầm hoặc ép buộc của người này đối với người khác, mà sự giam cầm hoặc ép buộc đó trong nhiều trường hợp rất hữu ích, thì chế độ nô lệ được định nghĩa như vậy tự bản thân nó không phải là một điều ác, mà chỉ ác khi bị lạm dụng; nghĩa là khi những kẻ làm nô lệ lại là những kẻ không nên làm, hoặc những kẻ làm chủ lại là những kẻ không nên làm, hoặc thậm chí những kẻ phù hợp nhất cho cả hai trạng thái ấy lại bị đặt vào đó dưới những điều kiện không nên có. Chẳng hạn, không phải là một điều kiện tất yếu hay đáng mong đợi của chế độ nô lệ là cha mẹ phải bị chia cắt khỏi con cái, hay chồng phải xa vợ; nhưng thể chế chiến tranh—thứ mà người ta đả kích ít bạo lực hơn—lại gây ra những cuộc chia cắt như vậy, và không hiếm khi theo một cách thức vô cùng vĩnh viễn. Việc ép một thủy thủ, bắt một thanh niên da trắng đi lính nghĩa vụ, hay bắt một thanh niên da đen làm lao động, tất cả đều có thể là những hành động đúng đắn hoặc sai trái, tùy theo nhu cầu và hoàn cảnh. Đánh roi một người một cách không cần thiết là sai. Bắn anh ta cũng vậy. Cả hai đều phải được thực hiện khi có dịp; và việc quất roi ép một kẻ làm việc vẫn tốt hơn và nhân đạo hơn là để mặc hắn lơ là cho đến khi đi cướp rồi mới đem roi ra quạt phạt hắn. Điều cốt yếu đối với mọi sinh vật là phải được bắt buộc phải làm điều đúng; họ bị buộc phải làm điều đó bằng cách nào—những lời hứa ngọt ngào hay những nhu cầu khắc nghiệt, những bài hùng biện bi thiết hay ngọn roi—thì tương đối không quan trọng. Bị lừa dối có lẽ cũng bất tương thích với phẩm giá con người chẳng kém gì bị ăn đòn; và tôi nghi ngờ phương pháp sau không phải là tồi tệ nhất để giúp đỡ nhiều cá nhân. Quốc gia Do Thái đã hưng thịnh dưới phương pháp đó, dưới tay một vị quân chủ được cho là không kém phần khôn ngoan; chỉ có việc đổi roi da lấy bọ cạp mới là điều bất hợp lý; và sự thay đổi đó có nguy cơ xảy ra ở phía phóng túng nhiều hơn là phía luật pháp. Bởi vì những chiếc roi bọ cạp thực sự chính là những thói hư tật xấu dễ chịu của quốc gia, những thứ đối với quốc gia giống như bầy cào cào của Thánh John—vương miện trên đầu, sự cướp bóc trong miệng, và nọc độc ở đuôi. Nếu quốc gia không chịu đựng sự cai trị của Athena và Apollo—những vị thần chăn dắt mà không dùng gậy gộc (ου πληγη νεμοντες)—thì cuối cùng Athena sẽ không còn cất tiếng ở các góc phố nữa; và khi đó sẽ là sự cai trị của Tisiphone, kẻ quất roi mà chẳng thèm chăn dắt.

131. Tuy nhiên, nếu theo chế độ nô lệ, thay vì sự ép buộc tuyệt đối, người ta hiểu là việc mua lại bằng tiền quyền ép buộc, thì việc mua bán đó tất yếu xảy ra bất cứ khi nào một phần lãnh thổ nào đó được chuyển nhượng, bằng tiền, từ vị quân chủ này sang vị quân chủ khác: điều đã xảy ra đủ nhiều trong lịch sử mà không hề khiến người ta cho rằng thần dân của những vùng lãnh thổ được chuyển nhượng đó vì thế mà trở thành nô lệ. Trong trường hợp này, cũng như trường hợp trước, tranh cãi dường như xoay quanh hình thức bề ngoài của sự việc hơn là bản chất của nó. Có hai mỏm đá giữa đại dương, trên mỗi mỏm đá ấy, bị bỏ mặc như nhau bởi các cường quốc giáo dục và thương mại, một nhúm cư dân sống qua ngày. Hai thương gia trả giá cho hai tài sản, nhưng không theo cùng một điều kiện. Một người ra giá mua người dân, mua lấy họ và bắt họ làm việc dưới sức ép của roi vọt; người kia ra giá mua hòn đảo, mua lấy nó và ném cư dân xuống biển. Phương thức trước là phương thức của người Mỹ, phương thức sau là của người Anh đối với chế độ nô lệ; có rất nhiều điều để bàn cho, và một vài điều để bàn chống lại cả hai, điều mà tôi hy vọng sẽ trình bày vào đúng thời gian và địa điểm.

132. Tuy nhiên, nếu chế độ nô lệ không chỉ có nghĩa là mua lại quyền ép buộc, mà là mua cả thể xác và linh hồn của sinh vật đó bằng tiền, thì tôi nghĩ không phải trong các chủng tộc da đen mà những cuộc mua bán kiểu này diễn ra phổ biến nhất, hay những linh hồn riêng biệt có cấu trúc tinh tế lại đạt mức giá cao nhất. Nhánh nghiên cứu này chúng ta cũng sẽ có dịp theo đuổi dài dòng hơn, bởi vì trong những trường hợp tồi tệ nhất của việc buôn bán linh hồn, khi chúng ta hỏi liệu việc mua bán đó có hợp pháp hay không, chúng ta thường chỉ nhận được câu trả lời của Pyrrhon—“Không ai có thể biết.”

133. Thực tế là chế độ nô lệ hoàn toàn không phải là một thể chế chính trị, mà là một di sản vốn có, tự nhiên và vĩnh cửu của một phần lớn nhân loại—những kẻ mà bạn càng trao cho họ nhiều quyền tự do ý chí bao nhiêu, họ càng biến mình thành nô lệ bấy nhiêu. Trong ngôn ngữ thông thường, chúng ta ngớ ngẩn nhầm lẫn sự giam cầm với chế độ nô lệ, và lúc nào cũng nghĩ đến sự khác biệt giữa thân cây thông (Ariel trong cây thông) và những đóa hoa anh thảo (“trong đài hoa anh thảo ta nằm”), hoặc giữa việc khiêng củi và uống rượu (nô lệ và tự do của Caliban), thay vì nhận ra những khác biệt nghiêm trọng hơn rất nhiều giữa chính bản thân Ariel và Caliban, cùng những phương tiện mà qua đó sự khác biệt ấy thực sự có thể được tạo ra hoặc thu hẹp lại.

134. Nô lệ của Plato trong tác phẩm Chính thể, kẻ ăn mặc chải chuốt và sạch sẽ, khao khát được kết hôn với con gái của chủ nhân mình, tương ứng một cách kỳ lạ với Caliban tấn công hang ổ của Prospero; và có một dòng ngầm ý nghĩa xuyên suốt trong vở Giông tố cũng như trong vở Người buôn bán ở Venice; đề cập đến chính quyền trong trường hợp này, và thương mại trong trường hợp kia. Miranda (“kẻ tuyệt vời”, được Ferdinand gọi đầu tiên như vậy: “Ồ, người tuyệt vời làm sao!”) tương ứng với nhân vật Arete của Homer: Ariel và Caliban lần lượt là các linh hồn của lao động trung thành, giàu trí tưởng tượng, đối lập với lao động nổi loạn, có hại và mang tính nô lệ. Prospero (“vì hy vọng”), một nhà cai trị chân chính, đối lập với Sycorax, người mẹ của nô lệ, với cái tên “Quạ-lợn”, biểu thị cùng lúc sự tàn bạo và mầm mống cái chết; do đó có câu thơ—

“Thứ sương độc ác dường nào từng được mẹ ta quét, bằng lông quạ”—&c.

Bởi vì tất cả những giấc mơ này của Shakespeare, cũng như của những con người chân chính và mạnh mẽ, đều là “φαντασματα θεια, και σκιαι των οντων”—những ảo ảnh thần thánh và bóng hình của những sự thực hiện hữu. Chúng ta hầu như không bao giờ muốn kể cho con trẻ nghe một câu chuyện ngụ ngôn không có ý nghĩa gì trong đó; thế nhưng chúng ta lại nghĩ rằng Chúa chỉ sai những sứ giả tuyệt vời nhất của Ngài đến để hát những câu chuyện cổ tích cho chúng ta nghe, thật khờ dại và trống rỗng. Vở Giông tố giống như một bức họa kỳ dị trong một cuốn sách thánh lễ phong phú, “được cài khóa nơi những kẻ ngoại đạo cầu nguyện”. Ariel là linh hồn của sự phục vụ quảng đại và phóng khoáng, trong những giai đoạn đầu của xã hội loài người bị áp bức bởi sự dốt nát và bạo tyrane hoang dã: phát ra những tiếng rên rỉ dồn dập như tiếng cối xay nước đập; đầy kinh hoàng trong những trận chìm tàu của các quốc gia, khiến cho “tất cả trừ các thủy thủ đều lao xuống biển sâu, và bỏ lại con tàu, khi ấy đang bốc cháy vì ta”, thế nhưng lại mang trong mình ý chí và sự ngọt ngào của nền hòa bình chân chính nhất, từ đó bài hát ấy đặc biệt được gọi là bài hát của “Ariel”: “Hãy đến những bãi cát vàng này, và ở đó, hãy nắm tay nhau”, “hãy cúi chào khi các bạn đã làm, và hôn đi, khi những con sóng dữ đã lặng yên” (hãy nhớ, đó là “cortesia”, không phải “curtsey”); và hãy đọc là “tĩnh lặng” thay vì “lặng yên”, nếu bạn muốn hiểu trọn vẹn ý nghĩa. Khi đó bạn thực sự có thể bước đi nhẹ nhàng, và những linh hồn ngọt ngào sẽ gánh vác gánh nặng thay cho bạn—với phiên gác trong đêm và tiếng gọi vào sáng sớm. Sức sống nội tại (vis viva) trong sự biến hóa của các nguyên tố tiếp nối theo sau—“Cha ngươi nằm sâu năm thước dưới đáy, xương ông đã hóa san hô rồi.” Kế đến, mang lại sự nghỉ ngơi sau lao động, nó “mang sương từ quần đảo Bermuda đầy giông bão, và với một câu thần chú kết hợp với nỗi nhọc nhằn họ phải chịu, khiến con người chìm vào giấc ngủ.” Cướp đi bữa yến tiệc của những kẻ tàn ác, nó hiện ra trước mắt chúng như một con yêu tinh quạ; bị đeo bám bởi những kẻ hoàn toàn đê tiện, những kẻ không thể nhìn thấy nó dưới bất kỳ hình thức nào, mà đối với chúng nó chỉ là hình bóng của vô hình, nó vẫn cất lên giai điệu hòa âm lanh lảnh cho câu hát nhạo báng và giả dối của chúng, “Tư tưởng là tự do”; nhưng lại dẫn dụ chúng vào những bụi gai và chốn dơ bẩn, để rồi cuối cùng lùa bầy chó săn đuổi theo chúng. Là sứ giả của định mệnh chống lại kẻ đại ác, nó hòa mình vào “những con sóng và bờ biển đầy phẫn nộ”—thanh gươm chém vào nó chẳng thể chạm đến, và có thể “dùng những nhát đâm bị chế giễu để đâm thủng những làn nước vẫn đang khép lại kia, cũng giống như việc làm vơi đi một sợi lông tơ trên chiếc mũ của nó vậy.” Là người dẫn đường và trợ giúp cho tình yêu chân chính, nó luôn được Prospero gọi là “tinh tế” (từ “fine” trong tiếng Pháp, không phải tiếng Anh), hoặc “thanh nhã”—một chú thích dài nữa sẽ là cần thiết để giải thích toàn bộ ý nghĩa trong từ này. Cuối cùng, khi công việc và chiến tranh đã hoàn tất, nó tan biến vào các nguyên tố. Ý nghĩa mãnh liệt của bài hát cuối cùng, “Nơi loài ong hút mật”, tôi sẽ phân tích vào đúng chỗ của nó.

Các hình mẫu của chế độ nô lệ ở Caliban rõ ràng hơn và không cần phải bàn sâu lúc này; mặc dù tôi cũng sẽ lần lượt nhắc đến chúng ở những nơi thích hợp; trọng tâm chế độ nô lệ của hắn nằm ở sự sùng bái của hắn: “Đó là một vị thần dũng cảm, và mang theo thức uống thiên đàng.” Nhưng để minh họa cho ý nghĩa mà các từ tiếng Latinh “benignus” và “malignus” được ghép đôi với Eleutheria và Douleia, hãy lưu ý rằng sự hành hạ của Caliban luôn là sự phản chiếu vật lý về chính bản chất của hắn—“những cơn chuột rút” và “những cơn đau xóc hông sẽ kìm nén hơi thở của ngươi; ngươi sẽ bị véo đau như những tổ ong dày đặc”: toàn bộ bản chất của chế độ nô lệ chính là một cơn chuột rút và sự co rút đần độn. Hãy tưởng tượng điều đó ở Ariel! Bạn có thể cùm xích hắn, nhưng bạn chẳng để lại dấu vết nào trên người hắn; bạn có thể bắt hắn làm việc nặng nhọc và đi đường dài, nhưng bạn không thể khiến hắn bị chuột rút.

135. Ngay cả trong những bài viết mở đầu này, lẽ ra tôi nên bàn kỹ hơn về chủ đề chế độ nô lệ này, nếu như tất cả những gì tôi muốn nói đã không được nói ra một cách vô ích (hy vọng là không phải vô ích cuối cùng), bởi Carlyle, trong bài tiểu luận đầu tiên của bộ Những bài luận cuối đời (Latter-day Pamphlets), mà tôi xin trân trọng giới thiệu đến bạn đọc; cùng với bài viết ít được quan tâm nhưng vô cùng cần thiết về các nhà tù kiểu mẫu, và chương vĩ đại về “Sự vĩnh cửu” (chương thứ năm của phần cuối trong “Quá khứ và Hiện tại”), phần tổng hợp những gì đã được biết đến, và hé lộ, hay đúng hơn là soi rọi trước tất cả những gì cần phải học hỏi về Kỷ luật Quốc gia. Ở đây tôi chỉ còn phải xem xét thêm bản chất của một hình thức nô lệ mang tầm vóc toàn cầu và vĩnh cửu, vừa lành mạnh khi sử dụng vừa chết chóc khi lạm dụng—đó là sự phục vụ của người nghèo đối với người giàu.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ Project Gutenberg
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 26 tháng 10 năm 2026

« Lùi Tiến »

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.