Cách đây hai mươi năm, chẳng có chốn đồng quê nào ở miền Nam nước Anh lại nên thơ, hay mang nỗi niềm sâu lắng đến thế về bản chất và cuộc đời con người, bằng vùng đất nằm ngay sát nguồn sông Wandle, bao gồm những đầm lầy thấp ở Addington, các làng Beddington và Carshalton, cùng toàn bộ ao hồ và suối ngầm nơi đây. Chưa từng có dòng nước nào trong trẻo hay linh thiêng hơn cất tiếng ca không dứt ngợi ca bàn tay 'ban mưa từ thiên đàng;' chẳng có đồng cỏ nào bừng sáng trong mùa xuân với những chùm hoa rực rỡ hơn; chẳng có tổ ấm nào ngọt ngào hơn từng sưởi ấm tâm bao lữ khách bằng niềm kiêu hãnh của sự bình yên, hạnh phúc—kín đáo mà tràn đầy hiển hiện. Nơi ấy vẫn còn đó, hoặc cho đến vài tháng trước vẫn gần như nguyên vẹn với những nét lớn; nhưng tôi xin nói với một tâm trí suy xét thấu đáo rằng, tôi chưa từng thấy điều gì mang ý nghĩa bi kịch nội tâm ê chề nhường ấy—chẳng phải ở vùng Maremma xứ Pisa, chẳng phải bên ngôi mộ trên vùng Campagna, chẳng phải bên những cù lao cát bờ biển Torcello—như cảnh tượng sự thờ ơ, lười nhác và vô cảm của loài vật đang dần gặm nhấm vẻ đẹp mong manh của chốn thôn dã Anh quốc ấy: cũng chẳng có sự lộng ngôn hay bất kính nào—dù là lời nói cuồng dã hay ý nghĩ vô thần—lại khiến tôi kinh hoàng hơn, dẫu tôi đã dốc hết khả năng phán đoán để hiểu rõ ý nghĩa và tầm vức của nó, bằng hành vi bôi nhọ trơ trẽn những dòng suối ấy của bầy người đang uống nước từ đó. Ngay tại nơi nguồn nước tinh khiết trào lên, rung r động và trong trẻo như một khối sáng, đổ vào hồ Carshalton, tự khắc cho mình một dòng chảy rạng ngời xuyên qua lớp sỏi đá, giữa những đám cỏ mềm mại dập dờn mà nó uốn lượn qua bằng những tia nước trong vắt sâu thẳm, tựa như ngọc mã não trong thạch anh rêu, điểm xuyết đây đó những đóa hoa nhái trắng; ngay giữa dòng chảy xiết và tiếng róc rách của những làn nước lan tỏa đầu tiên ấy, những kẻ khốn nạn nơi trần thế lại đem rác rưởi phố phường và nhà cửa đổ xuống; những đống bụi bặm, bùn nhão, mảnh kim loại vỡ, và giẻ rách hôi thối; chúng vừa không đủ sức đem chở đi, cũng chẳng có chút ý thức tối thiểu để chôn vùi xuống đất, cứ thế vứt thẳng xuống dòng suối, để mặc chất độc lan tỏa, hòa tan đi muôn nơi—tới những chốn mà Thượng Đế đã định sẵn cho dòng nước ấy mang lại niềm vui và sức khỏe. Và tại một cái ao nhỏ nằm khuất sau những ngôi nhà sâu trong làng, nơi một mạch nước khác trào lên, những hòn đá vỡ của giếng nước và của cái máng nhỏ uốn lượn từng được bàn tay dịu dàng xây dựng từ lâu nay nằm lăn lóc, rời rạc dưới một bờ tường nham nhở vữa nát, xỉ than và gạch vụn—thứ mà dòng nước trong lành dẫu vậy vẫn gột rửa cho tinh khiết; nhưng nó chẳng thể khuất phục được lớp đất chết bên ngoài; và tại đó, cuộn mình dưới lớp váng nhầy nhụa, phần viền ao tù đọng tan vào một dốc bùn đen, thứ tích tụ qua những năm tháng lười nhác. Chỉ nửa tá người làm việc trong một ngày là có thể dọn sạch những cái ao ấy, cắt tỉa hoa cỏ quanh bờ, khiến cho từng làn gió hè thổi qua trở nên mát rượi, thơm lành; và từng gợn sóng lấp lánh đều mang dược tính, tựa như dòng nước khuấy động bởi các thiên thần từ hiên nhà Bethesda. Thế nhưng ngày công ấy chẳng bao giờ được bỏ ra, và sẽ chẳng bao giờ có được; cũng chẳng còn niềm vui nào khả dĩ đến với trái tim con người, mãi mãi về sau, quanh những giếng nước Anh quốc ấy.
Lần cuối cùng rời khỏi nơi đó, tôi thong thả bước qua những con phố phía sau Croydon, từ ngôi nhà thờ cổ đến bệnh viện; và ngay bên trái, trước khi tới ngã tư Phố Lớn, có một quán rượu mới được xây dựng. Mặt tiền của nó được thiết kế khôn ngoan đến mức người ta chừa lại một khoảng lõm sâu hai bộ ngay dưới các cửa sổ phía trước, nằm giữa chúng và vỉa hè—một khoảng trống quá hẹp để có thể dùng vào việc gì (vì dẫu có đặt một chiếc ghế băng như thời xưa đi chăng nữa, bất cứ ai đi qua đường cũng sẽ vấp phải chân của những người dừng chân nghỉ mệt). Thế nhưng, để làm cho hai bộ đất sở hữu tư nhân này thể hiện rõ hơn sự uy nghiêm của một cơ sở kinh doanh đồ uống có cồn, người ta đã rào nó lại với vỉa hè bằng một hàng rào sắt ấn tượng, cao sáu thước, cứ mỗi thước lại cắm bốn năm đầu giáo; quả thực, nó chứa lượng sắt và công sức luyện kim nhiều nhất có thể nhồi nhét vào không gian ấy; và nhờ sự sắp đặt uy nghi này, mảnh đất chết chóc nhỏ bé bên trong, nằm giữa bức tường và đường phố, bỗng trở thành một cái ổ chứa rác rưởi bảo hộ; nào đầu mẩu xì gà, vỏ hàu, cùng đủ thứ phế thải mà tầng lớp dân nghèo hào phóng nơi phố thị Anh quốc thường tiện tay vứt bừa bãi, và cứ thế, nó nằm đó, bất khả xâm phạm trước mọi phương pháp quét dọn thông thường.
Giờ đây, những thanh sắt vốn vô dụng (hoặc phần lớn là tệ hại hơn cả vô dụng) đã bao bọc lấy mảnh đất này và biến nó thành nơi ô uế, lại đại diện cho một lượng lao động đáng lẽ đã có thể dọn sạch các hồ Carshalton gấp ba lần;—một thứ lao động, một phần ngột ngạt và chết chóc trong hầm mỏ; một phần dữ dội và kiệt quệ nơi lò nung; một phần ngốc nghếch và tĩnh tại của những kẻ học trò tồi tạo ra những bản thiết kế tồi: thứ công sức từ khởi đầu cho đến kết quả cuối cùng của nó, và trong mọi ngóc ngách của nó, đều độc hại, chết chóc và khốn khổ. Vậy mà, làm sao lại có chuyện công sức này được chọn thay vì công sức kia; làm sao mà sức lực và sinh mạng của người thợ Anh quốc lại bị phung phí vào việc bôi nhọ đất đai thay vì cứu rỗi nó; và để tạo ra một khối kim loại hoàn toàn vô giá trị (tại nơi đó) chẳng thể ăn hay thở được, thay vì bầu không khí trong lành mang tính chữa lành và dòng nước tinh khiết?
Chỉ có duy nhất một lý do cho điều đó, và hiện tại là một lý do thuyết phục—rằng nhà tư bản có thể tính phần trăm trên công sức lao động ở trường hợp thứ nhất, còn trường hợp thứ hai thì không. Nếu tôi có sẵn một số vốn để duy trì nhân công, và tôi trả tiền cho họ chỉ để giữ cho mảnh đất của mình ngăn nắp, thì tiền của tôi, trong chức năng đó, được chi ra một lần là hết; nhưng nếu tôi trả tiền để họ đào sắt từ đất của tôi lên, chế biến rồi đem bán, tôi có thể thu tiền thuê đất, thu cả phần trăm trên việc sản xuất lẫn việc bán hàng, và sinh lời cho đồng vốn của mình qua ba ngả đường phụ ấy. Phần lớn các khoản đầu tư sinh lời của tư bản thời nay đều nằm trong những hoạt động kiểu này, trong đó công chúng được thuyết phục mua một thứ chẳng có chút ích lợi gì, mà trên việc sản xuất hay buôn bán nó, nhà tư bản có thể thu tiền phần trăm; trong khi công chúng ấy vẫn đinh ninh rằng những khoản phần trăm thu được đó thực chất là lợi ích quốc gia, dẫu cho chúng thực chất chỉ là những đồng tiền móc túi từ những chiếc ví vốn đã xẹp lép để làm phồng những chiếc ví dày.
Thế là, chủ quán rượu Croydon mua hàng rào sắt để làm mình trở nên nổi bật hơn trong mắt những kẻ say xỉn. Chủ quán rượu bên kia đường liền mua ngay một hàng rào khác để lấn át đối thủ. Về độ thu hút khách hàng có gu thẩm mỹ, cả hai vẫn giậm chân tại chỗ như cũ; nhưng họ đã mất tiền mua hàng rào; khoản tiền này cuối cùng hoặc họ phải tự gánh chịu, hoặc bắt những vị khách có gu kể trên phải trả bằng cách nâng giá bia hoặc pha tạp chất. Hoặc là những chủ quán rượu, hoặc là khách hàng của họ, vì thế mà nghèo đi đúng bằng số tiền mà nhà tư bản kiếm được; trong khi giá trị của bản thân công sức lao động ấy đã bị tổn thất đối với quốc gia; bởi những thanh sắt ở hình dạng và vị trí đó hoàn toàn vô tích sự. Chính phương thức đánh thuế người nghèo bởi người giàu này đã được nhắc đến trong văn bản (trang 31), khi so sánh quyền lực tích lũy tư bản hiện đại với sức mạnh của ngươn giáo và gươm đao; điểm khác biệt duy nhất là việc tống tiền thời xưa dùng vũ lực, còn thời nay dùng sự phỉnh gạt. Kẻ kỵ mã và cướp bóc thời xưa đường hoàng đến chiếm chỗ của chủ quán rượu suốt đêm; kẻ hiện đại chỉ biến ngọn giáo của mình thành một chiếc cọc sắt và thuyết phục chủ nhà mua nó. Một kẻ đến như tên cướp lộ thiên, kẻ kia như tay buôn lợn bịp bợm; nhưng kết quả đối với cái ví của nạn nhân thì hoàn toàn giống nhau. Tất nhiên, rất nhiều ngành công nghiệp hữu ích đan xen và che đậy cho những ngành vô dụng; và trong những thói quen tràn đầy năng lượng nảy sinh từ cuộc đấu tranh, vẫn có một mặt tích cực nhất định. Thà bỏ ra bốn nghìn bảng để chế tạo một khẩu súng tốt rồi đem bắn nổ tung nó thành từng mảnh, còn hơn là sống một đời nhàn rỗi. Chỉ có điều đừng gọi đó là 'kinh tế chính trị'.
Cũng có một quan niệm mơ hồ trong tâm trí nhiều người rằng việc gom góp tài sản của người nghèo vào tay người giàu không gây ra tác hại lâu dài nào; bởi vì dù nằm trong tay ai đi nữa, cuối cùng nó cũng phải được chi tiêu ra, và do đó, họ nghĩ rằng nó lại quay về với người nghèo. Sai lầm này đã bị vạch trần hết lần này đến lần khác; nhưng cứ cho là luận điểm đó đúng đi, thì lời biện hộ tương tự tất nhiên cũng có thể được dùng cho việc tống tiền, hay bất kỳ hình thức cướp bóc nào khác. Việc tên cướp được quyền tiêu số tiền hắn tống đoạt có khi lại mang lại lợi ích cho quốc gia ngang ngửa với việc người bị cướp đem số tiền đó ra tiêu (dù trên thực tế chẳng bao giờ có chuyện đó). Nhưng điều này chẳng thể làm cái cớ cho hành vi trộm cắp. Nếu tôi dựng một trạm thu phí trên con đường chạy qua cổng nhà mình, và cố moi lấy một shilling từ mỗi người qua đường, công chúng sẽ sớm dẹp bỏ cái cổng của tôi ngay, chẳng thèm nghe tôi ngụy biện rằng 'việc tôi tiêu những đồng shilling của họ rốt cuộc cũng có lợi cho họ chẳng khác nào tự họ tiêu lấy.' Thế nhưng, thay vì trơ trẽn dựng trạm thu phí, nếu tôi chỉ thuyết phục họ bước vào và mua đá, sắt vụn, hay bất kỳ thứ vớ vẩn nào từ mảnh đất của tôi, tôi có thể cướp bóc họ đến mức độ tương tự, mà lại còn được cảm ơn như một ân nhân của công chúng, một kẻ thúc đẩy sự thịnh vượng thương mại. Và câu hỏi cốt lõi này đối với người nghèo nước Anh—đối với người nghèo ở mọi quốc gia—lại hoàn toàn bị bỏ quên trong mọi chuyên luận thông thường về đề tài tài sản. Ngay cả bản thân những người lao động, hoạt động của tư bản cũng chỉ được nhìn nhận qua ảnh hưởng của nó đối với lợi ích trước mắt của họ; chứ không bao giờ thấy được quyền lực khủng khiếp hơn nhiều của nó trong việc định đoạt chủng loại và mục tiêu của lao động.
Về lâu dài, một người lao động được trả bao nhiêu để làm ra một thứ gì đó chẳng mấy quan trọng; nhưng điều quan trọng đến rợn người chính là thứ mà anh ta bị buộc phải làm ra. Nếu lao động của anh ta được điều phối để tạo ra thực phẩm, không khí trong lành và nước sạch, thì dẫu tiền công có thấp đi chăng nữa—thực phẩm, không khí trong lành và nước sạch cuối cùng vẫn ở đó; và rốt cuộc anh ta cũng sẽ nhận được chúng. Nhưng nếu anh ta được trả tiền để hủy hoại thực phẩm và không khí trong lành hoặc để làm ra những thanh sắt thay cho những thứ đó,—thì thực phẩm và không khí rốt cuộc sẽ không có ở đó, và anh ta sẽ chẳng thể có được chúng, điều đó mang lại cho anh ta sự bất tiện lớn lao và tận cùng. Thế nên, suy cho cùng, trong kinh tế học chính trị cũng như kinh tế gia đình, câu hỏi lớn không nằm ở việc bạn có bao nhiêu tiền trong túi, mà là bạn sẽ mua gì và làm gì với số tiền đó.
Tôi đã quen từ lâu, như tất cả những ai dấn thân vào công việc nghiên cứu đều phải thế, với việc nghe những tuyên bố của mình bị chế giễu trong nhiều năm, trước khi chúng được đem ra xem xét hay tin tưởng; và tôi thường bằng lòng chờ đợi thời gian của công chúng. Nhưng tôi không khỏi ngạc nhiên pha lẫn sự khó chịu khi thấy mình hoàn toàn bất lực cho đến tận lúc này, dẫu đã dùng mọi cách lặp lại hay minh họa, trong việc nhồi nhét ý nghĩ giản dị này vào đầu độc giả—rằng sự thịnh vượng của các quốc gia, cũng như của từng cá nhân, nằm ở thực chất chứ không phải những con số không; và rằng lợi ích thực sự của mọi công việc, mọi hoạt động thương mại, đều phụ thuộc vào giá trị cuối cùng của thứ mà bạn làm ra hoặc thu được từ nó. Đó là một tuyên bố đủ thực tế, người ta có thể nghĩ vậy: nhưng công chúng Anh đã bị trường phái kinh tế gia hiện đại nhồi sọ đến mức đinh ninh rằng Kinh doanh lúc nào cũng tốt, dù nó bận rộn gây rắc rối hay mang lại lợi ích; và việc mua bán lúc nào cũng có lợi, bất kể giá trị nội tại của thứ bạn mua hay bán là gì—đến mức dường như chẳng tài nào thu hút được dù chỉ một sự chú ý kiên nhẫn cho bất kỳ cuộc điều tra nào liên quan đến kết quả thực chất từ những lao động hiện đại đầy hăng hái của chúng ta.
Tôi chưa từng cảm thấy bị cản trở bởi ý thức về sự bất khả thi này lớn đến thế khi sắp xếp các đề mục cho ba bài giảng sau đây; dẫu chúng được thuyết giảng cách nhau những khoảng thời gian đáng kể, và ở các địa điểm khác nhau, nhưng không phải được chuẩn bị mà không có sự liên hệ với nhau. Tuy nhiên, mối liên hệ giữa chúng lẽ ra đã trở nên rõ ràng hơn nhiều, nếu tôi không bị cản trở bởi điều mà tôi cảm thấy là một khó khăn lớn khác khi diễn thuyết trước công chúng Anh: đó là việc không thể nhấn mạnh một cách dứt khoát phần phổ biến, và đối với tôi là quan trọng nhất, trong các đề tài của họ. Tôi chủ yếu mong muốn (như tôi vừa nói) chất vấn thính giả của mình—những người thợ thủ công, thương gia và binh lính—về ý nghĩa cuối cùng của công việc họ đang làm; và muốn biết từ họ xem họ mong đợi hoặc dự định việc sản xuất của họ sẽ đi đến đâu, việc buôn bán sẽ ra sao, và việc chém giết sẽ dẫn đến kết quả gì. Đó dường như là điểm đầu tiên cần phải được xác định trước khi tôi có thể nói chuyện với họ mang lại bất kỳ sự ích lợi hay hiệu quả thực sự nào. 'Hỡi những người thợ thủ công—kẻ buôn bán—người cầm gươm,—hãy nói cho tôi nghe rõ ràng các người muốn gì, rồi nếu tôi có thể nói gì để giúp các người, tôi sẽ làm; còn nếu không, tôi sẽ giải thích với các người theo cách tốt nhất có thể về sự bất lực của mình.'
Thế nhưng, để diễn đạt câu hỏi này thành lời, trước hết người ta phải đối mặt với khó khăn vừa được nhắc đến—đối với tôi hiện tại là bất khả vượt qua—đó là khó khăn trong việc liệu có nên mở đầu với thính giả của mình như những kẻ tin tưởng, hay không tin tưởng, vào một thế giới nào khác ngoài thế giới này. Bởi vì nếu bạn nói với bất kỳ nhóm thính giả Anh hiện đại trung bình nào rằng họ tin vào một cuộc sống vĩnh hằng, và cố gắng rút ra bất kỳ kết luận nào từ niềm tin được mặc định này đối với công việc hiện tại của họ, họ sẽ ngay lập tức bảo rằng những điều bạn nói rất hay, nhưng chẳng có tính thực tế. Ngược lại, nếu bạn thẳng thắn coi họ là những kẻ không tin vào cuộc sống vĩnh hằng, và cố gắng rút ra bất kỳ hệ quả nào từ sự hoài nghi đó—họ liền coi bạn là kẻ bị nguyền rủa và phủi bụi giày chống lại bạn. Và càng suy ngẫm về những điều mình phải nói, tôi càng nhận ra mình chẳng thể thốt lên được điều gì nếu không có chút ít nhắc đến phần chủ đề mơ hồ hoặc khó bề khuất phục này.
Mọi chuyện sẽ hoàn toàn khác biệt, khi khẳng định bất kỳ nguyên tắc chiến tranh nào, tùy theo việc người ta mặc định rằng một loạt đạn pháo sẽ chỉ nhào nặn một lượng đất đỏ nhất định thành một đường phẳng lỳ, như ở một bãi gạch; hay là từ mỗi mảnh vụn mang tên Cơ Đốc giáo trong đống hoang tàn ấy, sẽ có một linh hồn bàng hoàng nào đó, bị tước đoạt một cách miễn cưỡng, bay vút vào làn khói và bầu không khí chết chóc của chiến trận. Mọi chuyện sẽ hoàn toàn khác biệt, khi nói về phạm vi khả dĩ của thương mại, tùy theo việc người ta mặc định rằng mọi giao dịch chỉ liên quan đến tài sản hữu hình—hay tài sản hiện tại vô hình, nhưng dẫu sao vẫn có thật, có thể mua được ở nơi khác theo những điều kiện khác. Mọi chuyện sẽ hoàn toàn khác biệt, khi ngỏ lời với một tập thể con người đang phải chịu đựng những cơ cực lớn lao và phải tìm cách thoát khỏi đó—tùy theo việc người ta có thể tự tin nói với họ rằng, 'Các bạn của tôi,—các bạn chỉ cần chết đi, rồi mọi chuyện sẽ ổn cả thôi;' hay liệu người ta có chút hoang mang thầm kín nào rằng lời khuyên ấy mang lại phước lành cho kẻ nói nhiều hơn kẻ nghe.
Và do đó, độc giả thấu đáo sẽ tìm thấy xuyên suốt những bài giảng này sự do dự trong việc đả động đến tận cùng vấn đề, và sự chùng lại trước những kết luận mà họ sẽ cảm thấy tôi rất muốn vươn tới; sự do dự hoàn toàn bắt nguồn từ sự bất định về tâm tính của thính giả. Vì tôi không hề nói bây giờ, cũng chưa từng nói kể từ thời tuổi trẻ bồng bột của mình, với bất kỳ tâm thế cải đạo nào, như thể muốn thuyết phục ai đó về những điều mà trong những vấn đề như vậy, tôi tự nghĩ cho mình; nhưng bất cứ ai tôi mạo muội ngỏ lời, tôi đều tiếp thu tín điều của họ như tôi tìm thấy tại thời điểm đó; và nỗ lực thúc đẩy nó đơm những thứ hoa trái sinh động mà nó có vẻ dung dưỡng được. Thế nên, với một phần lớn người dân Anh hiện tại, đó là tín điều cho rằng họ đang sở hữu một cuốn sách dạy họ, phát ra trực tiếp từ đôi môi Thượng Đế, mọi điều họ nên làm và cần phải biết.
Tôi đã đọc cuốn sách đó với sự cẩn trọng như hầu hết bọn họ, trong khoảng bốn mươi năm; và lấy làm biết ơn vì đối với những ai tin tưởng nó, tôi có thể thúc giục những lời kêu gọi của nó. Nỗ lực của tôi từ trước đến nay vẫn luôn là khiến họ tin tưởng nó sâu sắc hơn hiện tại; tin tưởng nó, không chỉ ở những câu kinh yêu thích của họ, mà trong tổng hòa tất cả; tin tưởng nó không phải như một thứ bùa chú hay bùa hộ mệnh mà họ được cứu rỗi nhờ việc đọc đi đọc lại hàng ngày; mà như mệnh lệnh của một vị Thuyền trưởng, phải được lắng nghe và tuân theo dẫu có phải đánh đổi bằng tính mạng. Tôi luôn được khích lệ bởi giả định rằng thính giả của mình ôm ấp niềm tin ấy. Với những con người này, nếu có thể, đã có lúc tôi hy vọng được cất lên những lời lẽ đầy sức thuyết phục nhấn mạnh sự tội lỗi của lòng kiêu hãnh và sự vô nghĩa của lòng tham lam; từ những con người này, nếu có thể, đã có lúc tôi mong đợi sự đồng thuận đối với một nền kinh tế chính trị khẳng định rằng sự sống trọng hơn thức ăn, và thân thể trọng hơn áo mặc; và dường như với họ, tôi từng có thể thỉnh cầu—không phải bằng sự cáo buộc hay cuồng tín, không chỉ qua giáo lý trên môi mép, mà bằng việc dâng hiến kho báu của trái tim mình—họ hãy tách mình ra khỏi đám đông mà người ta đã viết rằng, 'Dân ngoại tìm kiếm tất cả những điều đó.'
Tuy nhiên, không thể mặc định với bất kỳ vẻ hợp lý nào rằng một thính giả phổ thông thời nay hoàn toàn, hoặc thậm chí đa phần, bao gồm những người theo đạo ấy. Một phần lớn chắc chắn phải bao gồm những kẻ không thừa nhận tín điều đó; hoặc ít nhất, những kẻ miễn nhiễm với những lời kêu gọi dựa trên nó. Và cũng như với kẻ được gọi là tín đồ Cơ Đốc, tôi muốn biện hộ cho sự tuyên bố và thực hiện trung thực niềm tin của hắn vào sự sống—với kẻ được gọi là kẻ vô thần, tôi muốn biện hộ cho sự tuyên bố và thực hiện trung thực niềm tin của hắn vào cái chết. Tình thế tiến thối lưỡng nan là không thể tránh khỏi. Con người hoặc sẽ phải sống sau khi chết, hoặc sẽ phải chết vĩnh viễn; số phận có thể được đón nhận một cách dũng cảm, và hạnh kiểm có thể được sắp đặt khôn ngoan, dựa trên bất kỳ kỳ vọng nào; nhưng tuyệt đối không bao giờ được phép do dự giữa hy vọng chưa với tới và nỗi sợ chưa đối mặt.
Chúng ta thường tin vào sự bất tử ở mức độ đủ để né tránh việc chuẩn bị cho cái chết; và tin vào sự hữu hạn ở mức độ đủ để né tránh việc chuẩn bị cho bất kỳ điều gì sau cái chết. Trong khi đó, một người khôn ngoan ít nhất sẽ tự giữ mình ở trạng thái sẵn sàng cho một trong hai kịch bản vốn dĩ là không thể tránh khỏi; và sẽ sắp xếp mọi thứ ngăn nắp cho giấc ngủ của mình, hoặc sẵn sàng cho sự thức tỉnh của mình.
Chúng ta cũng chẳng có quyền gọi đó là một phán xét hèn hạ, nếu anh ta quyết định sắp xếp chúng như cho một giấc ngủ. Một niềm tin dũng cảm vào sự sống quả thực là một trạng thái tâm lý đáng mơ ước, nhưng theo như tôi có thể nhận thức, thì đó là một trạng thái hiếm hoi. Tôi biết rất ít tín đồ Cơ Đốc nào lại bị thuyết phục mạnh mẽ đến thế về sự lộng lẫy của những căn phòng trong ngôi nhà của Cha họ, để rồi cảm thấy hạnh phúc hơn khi bạn bè của họ được gọi đến những chốn bồng lai ấy, so với việc họ sẽ cảm thấy nếu Nữ hoàng gọi họ về Cung điện sinh sống; cũng chưa từng có 'khao khát được ra đi và ở cùng Đấng Christ' nhiệt thành nhất nào của Giáo hội có thể chữa khỏi cho nó cái thói quen kỳ lạ là mặc đồ tang cho bất kỳ ai được triệu tập để ra đi như thế.
Ngược lại, một niềm tin dũng cảm vào cái chết chắc chắn đã được ôm ấp bởi rất nhiều tâm hồn cao thượng, và đó là dấu hiệu của sự đồi trụy tột cùng ngay trong lòng Giáo hội khi nó cho rằng một niềm tin như vậy không đi đôi với sự thanh cao trong tính cách hay sự mạnh mẽ trong hành động. Sự ngắn ngủi của cuộc đời đối với bất kỳ người lý trí nào cũng không phải là lý do quyết định để phung phí khoảng thời gian được ban tặng cho mình; sự đoán định về cái chết vào ngày mai cũng chẳng gợi ý cho bất kỳ ai ngoài một kẻ nát rượu về sự khôn ngoan của việc say sưa ngày hôm nay. Dạy rằng chẳng có mưu tính nào nơi mồ mả có lẽ sẽ khiến kẻ vô mưu càng thêm mãn nguyện trong sự đần độn của hắn; nhưng nó sẽ chỉ khiến kẻ có chí hướng càng thêm tận tụy trong việc mưu tính, hành vi con người cũng chẳng chắc chắn sẽ trở nên trong sạch hơn dưới sự xác tín rằng mọi tội ác của nó có thể trong chớp mắt được tha thứ, mọi sai lầm trong chớp mắt được chuộc lại; và rằng tiếng thở dài ăn năn—thứ gột rửa tội lỗi quá khứ—sẽ đưa linh hồn bay vào một niềm hạnh phúc quên đi nỗi đau của nó—hơn là dưới sự áp tải nghiêm khắc hơn, và đối với nhiều tâm trí khôn ngoan là có vẻ khả dĩ hơn, rằng 'gieo điều gì gặt điều đó'—hoặc kẻ khác gặt—khi hắn, mầm mống sống của bệnh dịch, không còn bước đi trong bóng tối nữa mà nằm gục xuống nơi đó.
Thế nhưng, đối với những người mà tầm nhìn yếu kém, hoặc tâm hồn cay đắng, hay sự bất bình trước hạnh kiểm của những kẻ hô hào niềm tin cao cả hơn, đã khiến tín điều đau đớn này trở thành lựa chọn khả dĩ duy nhất, vẫn có một lời kêu gọi để hướng tới, vững chắc hơn bất cứ thứ gì có thể cất lên với những con người may mắn hơn. Tôi rất muốn, nếu có thể làm điều đó mà không gây xúc phạm, được nói chuyện với họ như thể không ai khác đang lắng nghe, và cất lời thế này: Hãy nghe tôi đây, hỡi những kẻ đang hấp hối, những kẻ chẳng mấy chốc sẽ điếc đặc vĩnh viễn.
Đối với những kẻ khác, bên tay phải và tay trái của các vị, những kẻ đang hướng về một trạng thái hiện hữu vô tận, nơi mọi sai lầm của họ sẽ được bỏ qua và mọi lỗi lầm sẽ được tha thứ; đối với những kẻ này, dẫu vấy bẩn và đen đúa trong làn khói chiến trận của cõi trần, chỉ cần dìm mình trong giây lát vào dòng suối chết để rồi trỗi dậy với bộ lông được tái sinh như chim bồ câu phủ bạc và cánh ánh vàng; đối với họ, quả thực có thể được phép phung phí những khoảnh khắc được đếm bằng ngón tay của mình thông qua đức tin vào một tương lai vô lượng giờ; đối với sự yếu đuối của họ, có thể được châm chước khi họ đùa giỡn với tội lỗi vốn chỉ có thể sinh ra trái ngọt của sự công chính, và trục lợi từ sự bất nghĩa mà một ngày nào đó sẽ chìm vào quên lãng.
Ở họ, việc bỏ mặc người nghèo—những kẻ mà họ biết Chủ nhân của mình đang canh chừng—và để cho những kẻ đó diệt vong tạm thời, dẫu không thể diệt vong vĩnh viễn, có lẽ không phải là dấu hiệu của sự chai đá trong tâm hồn. Thế nhưng, đối với các vị, chẳng có niềm hy vọng nào như thế, và do đó chẳng có sự tha thứ nào như thế. Số phận này, mà các vị dành cho những kẻ khốn cùng, các vị tin rằng đó là toàn bộ di sản của họ; các vị có thể nghiền nát họ trước con ngài, và họ sẽ chẳng bao giờ trỗi dậy để quở trách các vị;—hơi thở của họ, lịm đi vì thiếu lương thực, một khi đã tắt sẽ chẳng bao giờ được gọi lại để thì thầm một lời cáo buộc chống lại các vị;—các vị và họ, theo suy nghĩ của các vị, sẽ cùng nhau nằm xuống trong bụi đất và giun dế vùi lấp các vị;—và đối với họ sẽ chẳng có sự an ủi nào, đối với các vị sẽ chẳng có sự báo thù nào—chỉ có câu hỏi thì thầm trên mồ các vị: 'Ai sẽ trả lại cho hắn những gì hắn đã làm?'
Vậy có dễ dàng hơn chăng trong sâu thẳm trái tim các vị khi giáng nỗi đau vốn không có phương thuốc chữa trị ấy xuống? Các vị sẽ nhẫn tâm tước đoạt chút ít sự sống ít ỏi này của người anh em nghèo khó, và kéo dài những giờ phút ngắn ngủi của hắn bằng nỗi đau đớn? Các vị sẽ sẵn sàng hơn với sự bất công không bao giờ có thể đền bù; và keo kiệt với lòng thương xót vốn chỉ có thể ban phát một lần, mà nếu chối từ, chính là chối từ vĩnh viễn? Tôi nghĩ tốt hơn về các vị, ngay cả những kẻ ích kỷ nhất, rằng các vị sẽ không làm thế, nếu thấu hiểu ngọn nguồn.
Và đối với chính các vị, dường như câu hỏi trở nên chẳng kém phần nghiêm trọng trong những giới hạn ngắn ngủi này. Nếu cuộc đời các vị chỉ là một cơn sốt—sự điên cuồng của một đêm dài mà mọi sự dại dột đều sẽ bị lãng quên khi bình minh ló dạng, thì việc các vị phung phí những giờ phút ốm đau ấy ra sao, các vị chộp lấy hay đánh rơi những thứ đồ chơi nào, các vị tha thiết đuổi theo những ảo ảnh nào với ánh mắt lừa dối của cơn cuồng nộ mất ngủ, có lẽ chẳng mấy quan trọng. Trái đất này chỉ là một bệnh viện chăng? Hãy cứ chơi đùa, nếu các vị thích chơi đùa, trên sàn của những căn phòng bệnh viện ấy. Hãy bện rơm thành những chiếc vương miện tùy ý các vị; hãy thu lượm bụi bặm của nó làm kho báu, và chết trong sự giàu có đó, quơ quào những hạt bụi đen trong không khí bằng đôi bàn tay đang hấp hối;—và dẫu vậy, mọi chuyện vẫn có thể ổn với các vị.
Thế nhưng, nếu cuộc đời này không phải là một giấc mơ, và thế giới này không phải là một bệnh viện; nếu mọi sự bình yên, quyền lực và niềm vui mà các vị có thể giành được buộc phải giành lấy ngay bây giờ, và mọi trái ngọt của chiến thắng phải được thu hoạch tại đây, hay không bao giờ;—các vị vẫn sẽ tiếp tục, trong suốt tổng thể cõi đời nhỏ nhoi của mình, nhọc nhằn trong ngọn lửa vì sự hư ảo chứ? Nếu chẳng có sự nghỉ ngơi nào đang chờ đón các vị, chẳng lẽ không có sự nghỉ ngơi nào các vị có thể tạm thời tranh thủ sao? Phải chăng thảm cỏ trên mặt đất này chỉ được tạo ra cho tấm vải liệm của các vị, chứ không phải chiếc giường của các vị, và các vị chưa bao giờ có thể nằm lên nó, mà chỉ có thể nằm dưới nó?
Những kẻ ngoại giáo, với tín điều mà các vị đã quay đầu trở lại, không nghĩ thế. Họ biết rằng cuộc đời mang lại cuộc chiến đấu của nó, nhưng họ cũng kỳ vọng từ đó chiếc vương miện của mọi cuộc chiến: Không phải một chiếc vương miện kiêu ngạo! Không phải vòng hoa nạm ngọc rực sáng trên Thiên đàng vượt quá chiều cao của ngai vàng bất xứng; chỉ là dăm chiếc lá ô-liu hoang dã, mang lại sự mát rượi cho vầng trán mỏi mệt qua vài năm tháng bình yên. Họ nghĩ rằng nó đáng lẽ phải bằng vàng; nhưng thần Jupiter nghèo túng; đây là điều tốt nhất mà vị thần có thể ban cho họ. Tìm kiếm một thứ vĩ đại hơn thế, họ đã nhận ra đó là một sự nhạo báng.
Chẳng có hạnh phúc nào được tìm thấy trong chiến tranh, trong sự giàu sang, hay trong bạo tàn—mà chỉ có trong sự bình yên nhân hậu, trọn vẹn và tự do. Vòng hoa ấy phải là ô-liu hoang dã, xin hãy ghi nhớ:—cây mọc một cách vô tình, bám thành từng chùm trên những vách đá chẳng có chút hoa rực rỡ nào, chẳng có sắc xanh tươi của cành lá; chỉ có bông hoa trắng muốt mềm mại, và thứ quả chưa kịp chín hẳn, hòa lẫn với chiếc lá xám và cái thân đầy gai góc; chẳng có chiếc vương miện nào cài lên đầu các vị ngoại trừ những mũi thêu sắc nhọn ấy! Thế nhưng thứ này, dẫu thế nào đi nữa, các vị vẫn có thể giành lấy khi còn đang sống; biểu tượng của niềm vinh dự xám bạc và sự nghỉ ngơi ngọt ngào. Sự hào hiệp, lòng nhân hậu, niềm tin không chút lay động, tình yêu được đền đáp, khung cảnh bình yên của kẻ khác, và sự chăm sóc nỗi đau của họ;—những điều đó, cùng bầu trời xanh ngút ngàn trên cao, dòng nước ngọt lành và hoa cỏ dưới mặt đất; cùng những bí ẩn và sự hiện diện vô tận của muôn loài sinh vật—những thứ ấy vẫn có thể là sự giàu có của các vị ở đây; không gây day dứt và mang tính thiêng liêng; hữu ích cho cuộc sống hiện tại và, có lẽ, không thiếu lời hứa cho cuộc sống mai sau.