Tôi quen Helen sau khi đã kết hôn. Tôi cũng có thể nói với bạn rằng, chúng tôi bây giờ đã khác xa so với năm 1937 hồi đó. Lúc bấy giờ cô ấy rất ngốc, còn tôi thì quá ngây thơ. Sau năm đó, cô ấy vẫn ngốc nghếch như vậy, thậm chí còn bướng bỉnh hơn. Còn tôi lại đánh mất sự ngây thơ của mình, và lúc nào cũng hối tiếc vì sự ngây thơ đã mất. Bởi vì tôi đánh mất quá nhiều, những gì tôi nhớ được cũng rất nhiều. Còn Helen ư — cô ấy chỉ tưởng rằng mình vẫn còn nhớ.
Helen cứ hễ nhắc đến chuyện xưa là lại nói: "Cậu còn nhớ không, hồi đó hai đứa mình vừa trẻ vừa đẹp làm sao. Bây giờ thì nhìn tôi xem, vóc dáng đã thô kệch thế này rồi!" Cô ấy vừa cười vừa thở dài, cứ như thể bản thân cô ấy mới đây thôi mới phát hiện ra mình đã phai tàn nhan sắc. Sau đó, cô ấy vừa đan áo len vừa lắc đầu mỉm cười, nhớ lại bản thân, khoảng thời gian trước thật đẹp đẽ làm sao!
Nhưng sự thật lại không phải như vậy, bởi vì tôi vẫn nhớ hình dáng của Helen trong lần đầu tiên gặp mặt.
Đó là mùa xuân năm 1937, khi đó tôi và Helen đã cùng nhau ở Hàng Châu được gần năm tháng, còn chồng của chúng tôi đã kết thúc đợt huấn luyện tại một trường không quân Mỹ, ngôi trường nằm ngay ở vùng ngoại ô của thành phố cổ kính này. Lúc đó tôi mới mười chín tuổi, cứ tưởng rằng mọi điều ước đều có thể được thỏa mãn. Bởi vì tôi kết hôn với Văn Phúc mới được một tháng, thế nên tôi vẫn tưởng rằng mình là kẻ may mắn, tôi rất kiêu hãnh vì đã lấy được một người anh hùng tương lai. Lúc bấy giờ, chiến tranh vẫn chưa bùng nổ, ai nấy đều tưởng chúng tôi là những kẻ may mắn khi lấy được phi công không quân, phải biết rằng toàn bộ phi công ở Trung Quốc lúc bấy giờ cộng lại cũng chỉ có khoảng ba bốn trăm người.
Vào ngày kết hôn, tôi vẫn chưa biết mình đã lấy một người vừa mới nhập ngũ. Tôi không phải đồ ngốc, chẳng có ai nghĩ đến việc nói cho tôi chuyện này. Hai ba tuần trôi qua, tôi mới biết được. Văn Phúc nói với tôi, anh ấy sắp sửa đếnbộ đội (quân đội) để làm phi công. Anh ấy nói, phi công được tuyển chọn từ những gia đình tốt nhất, những ngôi trường tốt nhất. Bây giờ thông báo đã đến, họ sẽ được đưa đến Hàng Châu để nhận huấn luyện đặc biệt, đồng thời còn kèm theo lời chúc mừng của Tưởng Phu nhân đại diện cho chồng bà là Tưởng Giới Thạch tướng quân. Văn Phúc nói, anh ấy sẽ xuất phát sau vài ngày nữa. Tôi có thể nói gì chứ? Tôi cũng đi.
Sau khi đến Hàng Châu, tất cả các phi công đều có vinh dự tham gia buổi tiệc do tướng quân Chennault, vị tướng quân nổi tiếng có cái tên giống con gái là Clara Chennault tổ chức. Đương nhiên, khi đó ông ấy vẫn chưa nổi tiếng, thậm chí còn chưa phải là tướng quân. Nhưng tôi nhớ các phi công đã đặt cho ông ấy một cái tên Trung Quốc vô cùng vang dội: "Thiểm Náo", nghe rất giống chữ "Chennault": "Thiểm" có nghĩa là chớp nhoáng, "Náo" có nghĩa là ồn ào, tia chớp ồn ào chính là âm thanh phát ra khi máy bay lướt qua bầu trời — xẹt! Đó chính là lý do tại sao lại gọi Thiểm Náo đến để dạy phi công lái máy bay.
Tôi cũng tham gia buổi tiệc đó, lúc bấy giờ không biết lão Thiểm Náo đã nói với các phi công câu gì, mà tất cả các huấn luyện viên người Mỹ đều ré lên như những chàng cao bồi, còn tung cả mũ lên không trung. Nhưng tất cả các phi công Trung Quốc vẫn ngồi yên lặng ở đó, chỉ mỉm cười và vỗ tay, cho đến khi thông dịch viên nói với họ rằng: "Thiểm Náo nói chúng ta nên tặng cho người Nhật một vương quốc mới."
Thế là tất cả các phi công liền bàn tán xôn xao, mọi người nói Thiểm Náo sẽ không đời nào nói là tặng cho người Nhật lãnh thổ mới. Vậy thì ông ấy đang nói đến vương quốc của ai? Cuối cùng, sau khi thảo luận rất lâu, tranh cãi rất lâu, phiên dịch rất lâu, chúng tôi mới hiểu ra, hóa ra Thiểm Náo đã nói thế này: "Dưới sự giúp đỡ của các anh, chúng ta không cần phải tiễn người Nhật về quê cũ, mà muốn đưa họ đến vương quốc tương lai." Thế là mọi người đều bật cười ha hả, "Hóa ra ý ông ấy là chúng ta muốn tiêu diệt sạch bọn chúng! Vương quốc tương lai chính là địa ngục."
Tôi vẫn nhớ rất nhiều cuộc tranh cãi tương tự. Người Mỹ nói là một chuyện, sự hiểu của chúng tôi lại là chuyện khác, ai nấy đều tranh cãi không dứt với người khác. Tình hình lúc mới bắt đầu chính là như vậy, khi đó chúng tôi vừa đến trại huấn luyện ở ngoại ô Hàng Châu, nghe nói không có chỗ nào để ở. Đợt phi công đầu tiên và gia đình họ vẫn ở trong những căn nhà gỗ tạm bợ, chỉ có thể đi dạo quanh quẩn, phàn nàn lẫn nhau giữa những người quen biết. Sau đó chúng tôi mới biết nguyên nhân trong đó, hóa ra người Mỹ nói với quan chức cấp trên của họ rằng, phi công Trung Quốc đã không vượt qua bài kiểm tra, vẫn chưa đủ điều kiện để bay lên trời.
Cứ như vậy, đợt phi công đầu tiên liền cảm thấy họ không chỉ thua một bài kiểm tra, mà còn làm mất mặt toàn bộ Trung Quốc một cách trầm trọng. Rất nhiều phi công đều xuất thân từ những gia đình hiển hách ở Trung Quốc. Thế là họ liền phàn nàn với cấp trên của mình, rằng họ thua bài kiểm tra là vì người Mỹ chỉ chú trọng đến một số thứ không đâu vào đâu, nào là giày da phải đánh cho bóng loáng, thắt lưng phải thắt cho chặt, mũ phải đội cho ngay ngắn v.v. Máy bay do nước ngoài sản xuất đều là những thứ đồ nát, đương nhiên chẳng ai có thể điều khiển chúng một cách bình thường được. Lúc này, những người ở đợt thứ hai mà chồng tôi thuộc về bắt đầu hò hét lên: "Đừng lãng phí thời gian nữa, chúng ta cũng phải chịu huấn luyện — để cứu Trung Quốc." Cuối cùng người Mỹ đồng ý tăng cường huấn luyện cho đợt thứ nhất, đợt thứ hai cũng bắt đầu được huấn luyện. Nhưng tiếng phàn nàn vẫn không hề lắng xuống ngay lập tức, bởi vì chúng tôi vẫn không có chỗ để ở.
Đó chính là hiện trạng của Trung Quốc lúc bấy giờ, bận rộn với việc đấu đá lẫn nhau mà không thể kề vai chiến đấu. Không chỉ giữa người Trung Quốc và người Mỹ mới như vậy, giữa đảng cách mạng cũ và đảng cách mạng mới, giữa các quân phiệt với nhau, giữa các băng nhóm thổ phỉ với nhau, giữa học sinh với nhau cũng đều như thế — ai nấy đều cãi nhau không ngừng, giống như những con gà trống dưới ánh mặt trời "ọe ọe" cất tiếng gáy. Còn những người còn lại ư — phụ nữ và trẻ em, người già và người nghèo — giống như những con gà mái nhát gan, mặc cho mọi người đuổi chúng ta từ góc này sang góc khác. Thế là người Nhật liền chớp lấy thời cơ lẻn vào như loài cáo, đánh cắp đi tất cả mọi thứ.
Các phi công đợt thứ hai và vợ của họ cuối cùng cũng được sắp xếp ở vào một nơi, nơi đó vốn dĩ là một ngôi chùa, lưng chừng núi có những luống trà Long Tỉnh do các nhà sư trồng, đây là loại trà ngon nhất toàn Trung Quốc. Các nhà sư tạm thời nhường nơi này ra cho quân đội ở, bởi vì họ tin rằng không quân sẽ cứu rỗi Trung Quốc. Mọi người Trung Quốc đều tin tưởng điều này: Chúng ta sắp sửa đuổi cổ lũ quỷ lùn Nhật Bản vĩnh viễn khỏi Trung Quốc rồi.
Hầu hết các phi công đều ngủ chung một căn phòng lớn công cộng. Nhưng nếu bạn đã có vợ con, hoặc bạn là người Mỹ, thì có thể có một căn phòng riêng và một chiếc giường chật chội. Đầu phòng có một nhà bếp chung, lại còn có một phòng tắm không có thiết bị sưởi ấm, bên trong có năm chiếc thùng gỗ nhỏ. Một số người Mỹ cũng đến phòng tắm để tắm rửa, nhưng may mắn là họ chỉ đến một tuần một lần, thường là vào tối cuối tuần.
Nơi ở của chúng tôi không được thoải mái cho lắm. Nhưng chúng tôi không phàn nàn nhiều cho lắm, có lẽ là vì các nhà sư đã chào đón chúng tôi theo một cách vô cùng thông minh. Lúc chúng tôi đến đúng vào dịp cuối mùa xuân, trên núi từ lâu đã ngào ngạt hương trà. Nghe người ta nói chúng tôi đến rất đúng lúc. Tuần đó là thời điểm xuân quang tươi đẹp nhất, chúng tôi vừa hay bắt kịp thời điểm đại thu hoạch những búp trà non thơm ngon nhất thiên hạ, bắt kịp thời tiết đẹp nhất của Tây Hồ đẹp nhất thiên hạ, thời tiết hình như ngày nào cũng được ông trời phù hộ, ngày nào cũng trời quang mây tạnh. Các phi công vừa mới ổn định chỗ ở nghe được tin này thì vô cùng vui mừng, họ cảm thấy chiến thắng đã ở ngay trước mắt.
Chúng tôi thường đi dạo dọc theo bờ hồ từng nhóm ba năm người vào lúc hoàng hôn. Người này nói: "Đây là thời điểm nước hồ trong nhất trong năm." Người kia liền bồi thêm một câu: "Nhìn kìa, mặt trời lặn xuống mặt hồ, trong nước bỗng nhiên xuất hiện hai ba mặt trời." Người thứ ba liền thở dài, lầm bầm lầu bầu: "Những ánh hoàng hôn thế này, tôi có nhìn cả ngày cũng không thấy chán."
Bạn có thể nhận ra, trong số chúng tôi không có lấy một ai nghĩ rằng chút may mắn nhỏ nhoi này — đến thật đúng lúc — sắp sửa qua đi, có lẽ một vài điều không được tốt đẹp cho lắm sẽ thay thế vào đó.
Đối với tôi mà nói, tất cả những cảnh đẹp này đã đủ để khiến tôi mãn nguyện rồi. Tôi thường một mình tản bộ dọc theo bờ hồ, tôi không nghĩ đến những ngày tháng bất hạnh trong quá khứ, cũng không nghĩ đến cuộc sống tương lai giữa tôi và chồng. Tôi chỉ quan sát những chú chim đang bay lượn, chúng bay lên từ mặt hồ, rồi nhẹ nhàng đáp xuống mặt nước, không làm gợn lên một chút sóng nào, ngay trong khoảnh khắc ấy. Thỉnh thoảng, tôi sẽ ngắm nhìn một con mạng nhện giăng trong bụi cây, cấu trúc hoàn mỹ làm sao, trên đó vương những hạt sương mai lấp lánh. Tôi không biết sau này mình có thể lấy cấu trúc nhìn thấy trước mắt làm mẫu để đan ra một chiếc áo len có hoa văn tương tự hay không.
Nhưng một lát sau, những chú chim ấy đột nhiên gọi nhau, phát ra tiếng kêu khóc giống như đàn con gái, hoặc con nhện cảm nhận được hơi thở của tôi, thu mình lại và bò đi thật nhanh. Lúc này, trong lòng tôi không khỏi dâng lên nỗi buồn u uất, nghĩ đến những vấn đề vốn dĩ đã tồn tại từ lâu trong cuộc hôn nhân của mình.
Tôi và Văn Phúc không có nhiều thời gian tiếp xúc trước hôn nhân. Sau khi kết hôn, chúng tôi ở nhà chồng khoảng một tháng. Cho nên, nói thật lòng, sự hiểu biết của tôi về tính khí mẹ của Văn Phúc còn nhiều hơn sự hiểu biết về Văn Phúc. Bà ấy dạy tôi cách làm một người vợ tốt của đứa con trai út — bà ấy dạy tôi cách làm tròn trách nhiệm của mình với con người đáng sợ này. Lời bà nói tôi đều nghe theo, bởi vì tôi không có mẹ, chỉ có A Thím già và A Thím mới, mỗi người trong số họ dạy tôi cách sợ hãi theo những cách khác nhau.
Đây chính là những gì mẹ chồng dạy tôi: Phải bảo vệ chồng của tôi, như vậy anh ấy mới bảo vệ tôi. Phải sợ anh ấy, coi sự sợ hãi là sự tôn kính. Phải nấu cho anh ấy một bát canh nóng vừa vặn, dùng ngón tay út của chính mình thử trước rồi mới được bưng lên.
"Đừng sợ bỏng!" Mỗi khi tôi cảm thấy đau đớn là bà ấy lại hét lên, "Bị bỏng vì chồng mình thì có đáng là gì chứ?"
Tôi tin rằng bà ấy cũng đang nói việc chịu đựng nỗi đau vì chồng thế này mới là tình yêu đích thực, loại tình yêu này được nuôi dưỡng dần dần giữa vợ chồng với nhau. Tôi cũng từng thấy tình yêu kiểu này trong các bộ phim Trung Quốc và Mỹ. Phụ nữ luôn phải chịu đựng khổ cực, mệt mỏi, khóc lóc rồi mới có thể cảm nhận được thế nào là tình yêu. Bây giờKý nhiên (vốn dĩ) tôi và Văn Phúc đang sống trong một ngôi chùa nhỏ ở Hàng Châu, tôi đã chịu đựng rất nhiều khổ cực, tôi cứ tưởng rằng tình yêu của mình đang lớn dần lên, tưởng rằng mình đang biến thành một người vợ tốt.
Bây giờ tôi đành phải thành thật thổ lộ về chuyện loại đó. Tôi cảm thấy không nên nói với bạn những chuyện đó, chuyện giữa nam và nữ. Nhưng nếu tôi không nói cho bạn biết, bạn sẽ không hiểu tại sao tôi lại thay đổi, tại sao anh ấy lại thay đổi, cho nên tôi phải kể cho bạn nghe mọi chuyện diễn ra thế nào, mặc dù có lẽ tôi không thể kể hết cho bạn mọi thứ. Có lẽ khi nhắc đến phần khó mở lời thì tôi không thể nói tiếp được nữa. Lúc này, bạn đành phải tự mình tưởng tượng xem tiếp theo sẽ xảy ra chuyện gì, rồi sau đó bạn lại tưởng tượng nó tồi tệ gấp mười lần.
Đêm nào Văn Phúc cũng đòi hỏi tôi, nhưng cách đòi hỏi lại không giống như lúc chúng tôi ở nhà bố mẹ anh ấy. Lúc đó tôi rất sợ hãi và xấu hổ, anh ấy cũng rất dịu dàng, luôn dùng những lời lẽ hay ho để khuyên can, an ủi tôi, khi tôi sợ quá mức, còn chưa kịp hét lớn lên thì anh ấy đã dừng lại rồi. Nhưng ở Hàng Châu, anh ấy nói, đã đến lúc tôi nên học cách làm thế nào để trở thành một người vợ đạt chuẩn.
Tôi cảm thấy mình nên học một chút, để giảm bớt nỗi sợ hãi. Đương nhiên, tôi vẫn rất căng thẳng, nhưng tôi sẵn sàng học hỏi.
Đêm đầu tiên đến căn phòng nhỏ trong ngôi chùa đó, chúng tôi nằm trên một chiếc giường chật chội. Tôi mặc đồ ngủ, Văn Phúc chỉ mặc mỗi chiếc quần đùi. Anh ấy hôn mũi tôi, khuôn mặt tôi, bờ vai tôi, nói tôi xinh đẹp thế nào, tôi khiến anh ấy hạnh phúc ra sao. Sau đó anh ấy áp sát tai tôi, bắt tôi nói những từ ngữ dơ bẩn, là những từ ngữ dơ bẩn liên quan đến bộ phận cơ thể phụ nữ — không phải là liên quan đến bộ phận của bất kỳ người phụ nữ nào, mà là những bộ phận của đám gái lầu xanh đem thân bán cho thủy thủ nước ngoài. Hễ nghe thấy những từ ngữ này là tai tôi lại đau nhói. Tôi dịch người ra.
"Em không thể nói những từ tục tĩu này." Cuối cùng tôi nói với anh ấy.
"Tại sao?" Anh ấy hỏi tôi, rồi lại trở nên dịu dàng, quan tâm như trước.
"Phụ nữ không thể nói những lời này." Tôi vừa nói vừa tìm lý do. Sau đó tôi cười một tiếng, muốn cho anh ấy biết, nghĩ đến những chuyện này thôi cũng đủ khiến tôi thấy vô cùng xấu hổ rồi.
Đột nhiên, nụ cười trên mặt anh ấy biến mất, anh ấy biến thành một con người khác. Anh ấy nhanh chóng đứng dậy, vẻ mặt tức giận, trông vô cùng đáng sợ. Tôi thực sự hơi sợ. Tôi cũng đứng dậy, vỗ vỗ vai anh ấy, muốn kéo anh ấy trở lại.
"Nói!" Anh ấy đột nhiên quát lên. Anh ấy lặp lại ba bốn từ tục tĩu. "Nói!" Anh ấy lại hét lên lần nữa.
Tôi lắc đầu, òa khóc. Sau đó anh ấy lại trở nên dịu dàng, lau nước mắt cho tôi, nói rằng anh ấy quan tâm tôi biết bao, anh ấy vuốt ve lưng và cổ tôi, cho đến khi tôi mềm nhũn cả người vì sự an ủi và niềm vui. Anh ấy chỉ đang làm tôi vui lòng, tôi cảm thấy hạnh phúc. Tôi ngốc nghếch làm sao! Sau đó anh ấy kéo tôi dậy, cởi bỏ bộ đồ ngủ của tôi. Toàn bộ cơ thể tôi trần truồng, anh ấy nắm lấy đôi tay tôi, nhìn tôi chân thành.
"Nói đi." Anh ấy dùng giọng điệu bình tĩnh nói. Vừa nghe thấy câu này, tôi liền ngã sụp xuống đất. Nhưng còn chưa kịp lao xuống, anh ấy đã kéo tôi dậy, lôi tôi ra cửa giống như một bao gạo. Anh ấy mở cửa, rồi đẩy tôi ra hành lang ngôi chùa, bất cứ ai đi ngang qua đó cũng có thể nhìn thấy bộ dạng trần truồng của tôi.
Tôi phải làm sao đây? Tôi không thể hét lên. Nếu không sẽ có người giật mình tỉnh giấc, đi ra nhìn ngó và nhìn thấy tôi. Cho nên tôi chỉ có thể nhỏ giọng qua khe cửa, cầu xin anh ấy: "Mở cửa đi! Mở cửa đi!" Anh ấy không thèm lên tiếng, chẳng có chút phản ứng nào. Mấy phút sau, cuối cùng tôi cũng cầu xin tha thứ: "Em nói."
Kể từ hôm đó trở đi, đêm nào cũng như vậy. Bây giờ chắc bạn có thể tưởng tượng ra được rồi đấy, bạn phải tưởng tượng sự việc này còn tồi tệ hơn thế.
Có lúc, anh ấy bảo tôi cởi bỏ quần áo, chống hai tay hai gối quỳ xuống đất, cứ như thể tôi đang cầu xin anh ấy ban cho niềm vui "dính chặt vào nhau", cứ như thể tôi thèm khát anh ấy đến mức sẵn sàng trả bất kỳ cái giá nào cho ân huệ này. Còn anh ấy thì giả vờ từ chối, nói rằng anh ấy đã chán ngấy rồi, hoặc nói tôi không đủ xinh đẹp, nếu không thì là hôm đó tôi làm vợ chưa tốt. Tôi buộc phải cầu xin hết lần này đến lần khác, răng tôiập cập vì lạnh, cho đến khi tôi thực sự cầu xin anh ấy cho phép tôi rời khỏi mặt đất băng giá này. Có lúc, anh ấy bắt tôi đứng trần truồng trong phòng, run lẩy bẩy trong cái lạnh cắt da cắt thịt giữa đêm khuya. Anh ấy thốt ra một bộ phận nào đó trên cơ thể, tôi liền phải nói ra từ tục tĩu tương ứng, sau đó dùng ngón tay của chính mình chỉ vào bộ phận đó trên cơ thể mình — chỗ này, chỗ kia, bất kỳ chỗ nào — anh ấy đứng bên cạnh quan sát, mỉm cười.
Mỗi buổi sáng, anh ấy còn thường xuyên phàn nàn, nói tôi không phải là một người vợ tốt, nói tôi không có nhiệt huyết, không giống như những người phụ nữ khác mà anh ấy từng quen biết. Khi anh ấy nhắc đến người phụ nữ này, người phụ nữ kia, nói cô ấy tốt thế nào, xinh đẹp ra sao, tình nguyện thế nào, tôi đều bị tổn thương cả về thể xác lẫn tâm trí. Nhưng tôi không hề tức giận, tôi không biết rằng mình nên tức giận. Đây chính là Trung Quốc, phụ nữ đến cả quyền tức giận cũng không có. Nhưng tôi rất không vui, tôi biết chồng mình vẫn chưa hài lòng với tôi, tôi buộc phải chịu đựng nhiều nỗi đau hơn nữa để chứng minh với anh ấy rằng, tôi là một người vợ tốt.
Trong tháng đầu tiên này, tôi còn phát hiện ra một chuyện khác về chồng mình, tất cả các phi công đều gọi anh ấy là Văn Thành. Tôi cảm thấy rất kỳ lạ, bởi vì tôi biết rõ chồng mình tên là Văn Phúc. Ồ, anh ấy còn có hai người anh trai, trong đó có một người tên là Văn Thành. Nhưng người anh trai đó đã qua đời từ hai năm trước rồi — tôi biết là chết vì bệnh lao phổi vào năm 1935, trong nhà thường xuyên nhắc đến anh ấy, là một đứa trẻ rất thông minh, rất có hiếu, nhưng hay đau ốm, hay ho ra máu. Tôi cứ nghĩ là các phi công đã nhầm lẫn, có lẽ vì Văn Phúc cứ nhắc mãi về người anh trai đã khuất này, khiến cho bây giờ ai cũng tưởng đó là tên của Văn Phúc, chồng tôi chỉ vì phép lịch sự nên mới không đính chính lại.
Nhưng có một lần tôi nghe thấy anh ấy tự giới thiệu bản thân với người khác — thật kỳ lạ làm sao — anh ấy nói mình tên là Văn Thành. Sau đó tôi liền hỏi anh ấy chuyện đó là thế nào. Anh ấy nói là tôi nghe nhầm rồi. Tại sao anh ấy lại nói tên mình là người khác chứ? Sau đó tôi lại nghe anh ấy nói một lần nữa, tên anh ấy là Văn Thành. Lần này anh ấy bảo với tôi rằng, là quân đội viết nhầm tên anh ấy, chẳng lẽ anh ấy có thể bảo toàn bộ quân đội sửa lại cho đúng chắc? Anh ấy nói anh ấy buộc phải nói với họ rằng, Văn Phúc là cái tên anh ấy dùng hồi nhỏ, chỉ là tên cúng cơm thôi.
Tôi đã chấp nhận lời giải thích của anh ấy, điều này hoàn toàn hợp lý hợp tình. Nhưng sau đó, khi tôi lục lọi rương hòm, làm rơi ra một số đồ vật, tôi phát hiện đó là một tấm bằng tốt nghiệp và một tờ đơn xin gia nhập không quân, chúng là của người anh trai quá cố Văn Thành của chồng tôi, anh ấy đã tốt nghiệp loại xuất sắc tại một trường thương mại hàng hải. Đến lúc này thì tôi đã hiểu rõ: Với chút thông minh tài trí ít ỏi của chồng tôi thì vào không quân chưa đủ điểm chuẩn, nhưng mạo danh người anh trai đã khuất của mình thì dư sức.
Kể từ dạo đó, tôi cảm thấy trên người chồng mình có hai con người, một người chết, một người sống; một người thật, một người giả. Tôi bắt đầu nhìn nhận anh ấy bằng một cách khác, nhìn cách anh ấy nói dối. Nói dối trôi chảy đến mức ấy, bình thản đến mức ấy, anh ấy giống như những chú chim kia, lướt qua mặt nước mà không làm gợn lên một chút sóng nào.
Cho nên bạn hiểu rồi đấy, tôi cố gắng làm một người vợ tốt, cố gắng yêu cái nửa không đến nỗi tệ hại của anh ấy.
Cũng vào khoảng hai tuần sau khi chúng tôi đến Hàng Châu, tôi đã quen biết Helen. Cô ấy cũng rất trẻ, khoảng mười tám tuổi, tôi nghe nói cũng mới kết hôn — không, người cô ấy lấy không phải là anh em của tôi. Tuy nhiên chuyện này để sau hãy nói.
Trước đó tôi đã chú ý đến cô ấy rồi, chúng tôi thường xuyên cùng nhau tản bộ ở đại sảnh, xung quanh ngôi chùa, hoặc cùng nhau đi xuống núi ra những sạp hàng rong trong thành phố để mua chút thịt và rau củ gì đó. Tất cả những người phụ nữ sống trong chùa đều chú ý lẫn nhau, bởi vì tổng cộng chúng tôi chỉ có sáu người. Hầu hết các phi công vẫn còn rất trẻ, thậm chí vẫn là những đứa trẻ, chỉ có vài người là đã cưới vợ. Các huấn luyện viên người Mỹ cũng không đưa vợ hoặc bạn gái của họ đến, nhưng thỉnh thoảng họ cũng dẫn một cô gái bản địa trông rất khó coi về phòng mình. Sau đó tôi nghe người ta kể lại, cô gái mà họ dẫn về luôn là cùng một người, bởi vì cả năm người đàn ông Mỹ đều lây bệnh từ cô ta, một loại trùng nhỏ mắt thường không nhìn thấy được, mọi người đều đồn rằng những con trùng này hiện tại đã sinh sôi nảy nở đầy trong phòng tắm rồi.
Trên thực tế, chính vì cô gái này và đám trùng của cô ta nên tôi mới quen biết Helen. Không một người phụ nữ nào muốn tiếp tục sử dụng cái phòng tắm đó nữa, mặc dù các nhà sư đã nhiều lần tuyên bố rằng nơi đó đã được khử trùng rồi. Từ lâu chúng tôi đã nghe nói loại trùng này là thứ không thể tiêu diệt được. Một người phụ nữ một khi đã mắc căn bệnh này thì chẳng khác nào gái lầu xanh cả, bởi vì khi đó vùng giữa hai đùi của cô ta sẽ thường xuyên ngứa ngáy, cách giải thoát duy nhất là phải có một người đàn ông gãi ngứa giúp mình ở giữa hai chân.
Lúc đó tôi liền nghĩ nếu thực sự mắc căn bệnh đó thì tôi đành phải cầu xin chồng mình rồi. Đương nhiên, tôi cũng nhớ lại khoảng thời gian ở đảo Sùng Minh, khi tôi bị muỗi đốt, tôi vừa gãi vừa nói "Ngứa chết đi được!" Hành vi này giống hệt như một người vợ không chung thủy, cô ta thèm khát chuyện chăn gối đến mức ngứa ngáy cả người, bèn đi làm gái lầu xanh — dù là người Trung Quốc, người Mỹ, người mắc bệnh phong, bất kỳ ai cũng được. Trong số những cô gái trẻ sắp kết hôn, điều này đã trở thành kiến thức phổ biến. Đương nhiên, tất cả chúng tôi đều tin tưởng những chuyện này. Còn ai có thể nói cho chúng tôi biết điều gì khác nữa chứ? Bạn tưởng rằng chỉ có mình tôi ngốc nghếch thế thôi sao?
Thế là chúng tôi — năm người phụ nữ cộng thêm cả tôi — quyết định không đến phòng tắm đó để tắm rửa nữa. Có một người phụ nữ — đây là một cô gái tự cho mình là đúng, hễ gặp chút chuyện nhỏ nhặt là lại càu nhàu — đã tìm được một căn phòng nhỏ vốn dùng để chất đống trà Long Tỉnh hái từ trên núi xuống, trên mặt đất vẫn còn rải rác những lá trà cũ thu hoạch từ năm trước, trong góc còn có một chiếc lò sưởi, vốn dĩ dùng để sấy khô lá trà. Chúng tôi lập tức quyết định dùng chiếc lò sưởi này để nhóm lửa, làm cho căn phòng ấm lên, khiến nó trở nên tuyệt vời hơn cả phòng tắm ban đầu. Trong phòng từ trước đã giăng sẵn một sợi dây phơi quần áo, chúng tôi liền treo những tấm ga trải giường lên đó để ngăn căn phòng ra.
Sau đó chúng tôi phiên phiên nhau, một người nấu nước, hai người chạy qua chạy lại giữa nhà bếp ở đầu bên kia căn phòng và căn phòng sấy trà, khuân từng thùng nước nóng và những tấm vải đã đun sôi vào bên trong. Ba người còn lại thì ngồi trên những chiếc ghế đẩu phía sau tấm ga trải giường, nhúng vải vào chậu rửa mặt để lau chùi cơ thể. Nước nhỏ giọt xuống sàn nhà, rơi lên những lá trà, hơi nước bốc lên từ những chiếc xô đặt trên mặt đất, không khí lập tức ngập tràn hương thơm của trà Long Tỉnh. Tất cả chúng tôi đều thỏa sức hít thở, thở dài, để những giọt nước đượm hương thơm ấy rơi tí tách lên khuôn mặt mình.
Cho nên chúng tôi không thèm quan tâm đến cái phòng tắm kia nữa. Ngay cả cô gái tự cho mình là đúng kia cũng cười lớn nói rằng, cô ta rất vui vì người Mỹ đã mắc phải căn bệnh đó. Mỗi buổi hoàng hôn, tôi đều cảm thấy có một việc quan trọng phải làm, tôi và một người tên là Hồ Lan cùng nhau khiêng những chiếc xô đầy nước nóng từ nhà bếp ra.
Đó chính là cái tên mà Helen từng dùng: Hồ Lan.
Cho nên bạn thấy đấy, Helen hoàn toàn không phải là chị dâu của tôi, cũng không phải là mợ ruột của bạn. Tôi nói với bạn thế nào nhỉ, tôi quen biết cô ấy trong thời kỳ kháng chiến của Trung Quốc! Lúc đó bạn còn nhỏ, hoàn toàn chẳng biết gì về việc Trung Quốc từng đánh giặc cả. Bạn chỉ biết Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ ở Trân Châu Cảng, một nơi ở Hawaii có cái tên giống hệt như tên của bạn. Tôi muốn kể cho bạn nghe, nhưng bạn cứ luôn đính chính lại lời tôi, bạn nói: " Ồ, mẹ ơi, đó là lịch sử Trung Quốc. Đây là lịch sử Mỹ." Đúng vậy, đúng vậy, bạn từng nói với tôi một lần rồi. Nếu tôi nói với bạn rằng, Helen không phải là mợ của bạn, phỏng chừng bạn cũng sẽ đính chính lại lời tôi mất! Nhìn kìa, bây giờ bạn vẫn muốn đính chính lại tôi cơ mà.
Dù thế nào đi nữa, đây là sự thật. Tôi đã gặp Helen ở phòng tắm đó, lúc bấy giờ cô ấy tên là Hồ Lan. Mấy ngày đầu, tôi và cô ấy không nói với nhau mấy câu, có lẽ chẳng qua chỉ là đến giờ thì hỏi cô ấy một câu: "Nước đã đủ nóng chưa?"
Cô ấy là vợ của một phó cơ trưởng, là vợ của cấp trên của Văn Phúc, cho nên tôi cảm thấy mình nói chuyện với cô ấy phải cẩn thận một chút. Tôi không thể phàn nàn về điều kiện sinh sống của chúng tôi, cũng không thể nói rằng tôi rất muốn ở lại Hàng Châu mãi mãi, cô ấy sẽ tưởng rằng tôi không muốn các phi công của chúng tôi vượt qua bài huấn luyện.
Nhưng ngay từ đầu cô ấy đã vô cùng thân thiện, cô ấy thậm chí còn lớn tiếng nói với tôi rằng, mấy tên nhà sư đó không sạch sẽ chút nào, thực ra bọn chúng rất bẩn thỉu, bởi vì cô ấy đã tìm thấy rất nhiều móng tay và sợi tóc đằng sau chiếc giường của mình. Tôi không nói gì cả, mặc dù tôi cũng tìm thấy những thứ dơ bẩn đằng sau chiếc giường và trên bức tường của mình.
Sau đó cô ấy liền kể cho tôi nghe về chồng mình, anh ta tên là Long Gia Quốc, anh ta phàn nàn rằng quá trình huấn luyện diễn ra không được thuận lợi cho lắm. Cô ấy nói, người Mỹ và các quan chức Trung Quốc bất đồng ý kiến với nhau trên rất nhiều phương diện. Hiện tại đang bàn đến việc đưa mọi người đến một doanh trại quân đội Ý ở Lạc Dương. Cô ấy nói, nơi đó vô cùng đáng sợ, bởi vì Lạc Dương không phải là nơi thích hợp để sinh sống, ở đó chỉ có hai mùa: Hoặc là lũ lụt, hoặc là bão cát. Nơi đó từng rất nổi tiếng, có hàng vạn bức tượng Phật, những năm nay, hầu hết các bức tượng Phật đều đã bị chém đứt đầu. Cho nên đến cái nơi đầy những bức tượng Phật bị thương tích ấy, chỉ mang lại vận rủi cho không quân mà thôi.
Tôi không biết tại sao cô ấy lại biết nhiều đến thế về Lạc Dương, chẳng lẽ quê nhà của cô ấy nằm ở ngay gần Lạc Dương. Giọng nói của cô ấy vừa chậm vừa to, lại còn mang theo chút khẩu âm quê mùa mà tôi không quen tai. Cử chỉ hành vi của cô ấy vô cùng thô lỗ, hoàn toàn không tao nhã chút nào. Hễ cô ấy đánh rơi một chiếc kẹp tóc, cô ấy sẽ cúi người xuống, chổng mông lên để nhặt, rồi tiện tay kẹp đại lên tóc. Khi cô ấy đi bộ, sải bước rất lớn, hai cánh tay lắc lư trước sau, dáng vẻ giống hệt như những tên phu khuân vác đi gánh nước thuê cho người khác.
Thật đấy, từng cử chỉ hành động của cô ấy giống hệt như một mụ người làm ở nhà quê. Điều này khiến tôi không tài nào hiểu nổi, tại sao cô ấy lại có thể lấy được một phó cơ trưởng cơ chứ? Con người đó từng chịu đựng giáo dục, ngoại hình vô cùng tuấn tú, chắc chắn xuất thân từ một gia đình lớn. Tôi biết mấy cô gái khác đều có xuất thân bần hàn, sau khi kết hôn mới khá lên. Nhưng ngoại hình của họ không chê vào đâu được, mẹ chồng của họ rất nhanh đã dạy dỗ họ cách cư xử sao cho đúng mực.
Hồ Lan không thể coi là xinh đẹp, cho dù dùng ánh mắt xưa cũ để nhìn thì cũng không thể coi là xinh đẹp. Cô ấy rất béo, nhưng không giống kiểu béo kinh điển gọi là da đào trơn láng, vừa đỏ vừa ngọt, cứ như chỉ cần thổi nhẹ một cái là sẽ rách vậy. Sự béo của cô ấy giống như chiếc bánh bao nhồi quá nhiều nhân, tròn vo, bị ép phồng ra ngoài. Hai bàn tay và các khớp xương của cô ấy đều rất thô, bàn gan bàn chân rộng giống như mái chèo thuyền. Thế mà cô ấy lại cứ thích cắt kiểu tóc uốn phồng uốn xoăn theo mốt phương Tây — một bên cắt trụi đi, chải cho thật phẳng lì, bên kia lại uốn thành tóc xoăn — cô ấy dán bên tóc xoăn vào bên tóc phẳng, kết quả là bên này thì bồng bềnh, bên kia thì lép kẹp. Cô ấy hoàn toàn không biết gì về kiểu dáng trang phục cả. Có một ngày tôi thấy cô ấy mặc chiếc váy hoa kiểu Tây trùm ra ngoài chiếc sườn xám màu vàng kiểu Trung Quốc, bên dưới lộ ra một đoạn dài thòng lòng giống như chiếc váy lót quá dài, bên trên lại mặc một chiếc áo len do chính tay cô ấy đan, hai ống tay áo rất ngắn, trông toàn bộ con người giống hệt như một đống quần áo vừa mới lấy từ tiệm giặt là về phơi vậy.
Tôi không phải vì bây giờ đang tức giận cô ấy nên mới bàn ra tán vào về ngoại hình ăn mặc hồi trước của cô ấy đâu. Tôi tức giận làm gì chứ? Bởi vì cô ấy muốn kể câu chuyện của tôi cho bạn nghe, đem mọi chuyện phơi bày ra hết trước khi cô ấy lâm chung. Đương nhiên cuối cùng tôi sẽ tự mình kể cho bạn nghe. Tôi đang chờ thời điểm thích hợp, bạn thấy đấy, bây giờ bạn đang ở đây, tôi đang kể hết mọi chuyện cho bạn nghe đây.
Dù thế nào đi nữa, mặc dù tôi đang giận cô ấy, tôi vẫn nhớ đến một số điều tốt đẹp về Hồ Lan. Đúng vậy, đôi mắt của cô ấy rất to, rất cởi mở, rất dịu dàng. Khuôn mặt tròn vo của cô ấy khiến chiếc miệng trông có vẻ nhỏ nhắn hơn, ngọt ngào hơn. Chiếc cằm của cô ấy có dáng dấp rất đẹp, không quá to, nhìn không có vẻ yếu ớt cho lắm. Cô ấy tương đối thật thà. Điểm quan trọng nhất là, cô ấy tương đối thật thà, trong lòng nghĩ thế nào thì ngoài miệng nói thế ấy, không có tâm cơ.
Có lẽ đây không phải là thật thà, đây là ngốc nghếch, không biết kiềm chế, không biết lúc nào nên che giấu cảm xúc của mình. Đúng vậy, cô ấy chính là cái con người như thế đấy, chuyện gì cũng không giấu giếm nổi, chuyện gì cũng mặc kệ!
Nhìn cô ấy xem kìa. Mỗi buổi hoàng hôn chúng tôi cùng nhau tắm rửa, cô ấy cứ dạng hai chân ngồi trên chiếc ghế đẩu như thế, dùng sức kỳ cọ khắp các bộ phận trên cơ thể mình — bầu ngực, nách, dưới bàn chân, giữa hai chân, lưng, mông — cho đến khi trên người hằn lên từng vết cào đỏ chót. Sau đó cô ấy chống hai tay hai gối xuống đất, bò rạp trên mặt đất giống như một con chó, cứ để trần truồng như thế, nhúng đầu vào chậu rửa mặt, dùng nước ấm còn sót lại sau khi tắm để gội đầu.
Tôi vừa cảm thấy xấu hổ cho cô ấy vừa cảm thấy xấu hổ cho chính mình, tôi biết rằng mỗi tối tôi cũng xuất hiện trước mặt chồng mình bằng cách này. Tôi cố gắng không nhìn cô ấy. Tôi giả vờ bận rộn việc tắm rửa của mình, tôi dùng đôi tay gầy gò che đi bầu ngực, dùng một tấm vải lớn che kín phần thân dưới, rồi trốn đằng sau dùng một tấm vải khác để kỳ cọ, cố gắng không để lộ ra những động tác rõ rệt. Nhưng tôi không kìm được mà vẫn nhìn Hồ Lan. Trông cô ấy lúc này xấu xí làm sao. Tôi thấy đầu cô ấy lắc lư trước sau trong chậu rửa mặt, giống như một người phụ nữ điên vậy, cô ấy ngẩng đầu lên, vắt khô tóc bằng đôi tay vạm vỡ của mình, giống như vắt giẻ lau nhà vậy. Sau đó cô ấy đứng dậy, dùng khăn tắm ngoáy tai, lau mũi, lau khô toàn bộ cơ thể, cười với tôi một tiếng rồi nói: "Nhìn cậu kìa! Vẫn chưa tắm xong, hơi nóng sẽ bay hết đấy."
Tôi và Hồ Lan sau khi gặp gỡ ở căn phòng tắm chứa trà đó thì thường xuyên cùng nhau ra ngoài đi bộ. Toàn là ý tưởng của Hồ Lan, nói là để ngắm nhìn những thứ kỳ lạ nhất. Cô ấy thường nhắc đến việc cô ấy nghe được từ một người vợ khác, không thì là nghe được từ một phi công hoặc một ông chủ cửa hàng trong trấn kể về danh lam thắng cảnh nào đó. Cô ấy hình như rất thích nói chuyện với mọi người, hỏi xem ở đâu có thể nhìn thấy những thứ kỳ lạ. Có một lần, cô ấy nghe nói có một con suối thần.
"Nước trào ra từ con suối này ấy mà," cô ấy nói, "nặng như vàng, ngọt như mật, lại trong vắt như thủy tinh. Cậu nhìn vào trong hồ, có thể nhìn thấy hình bóng phản chiếu của mình, giống như trong gương vậy. Cậu mà xoay hướng khác đi, thì có thể nhìn thấy đáy hồ, toàn là những viên đá màu đen. Nghe nói, thả một viên đá vào một cốc nước đầy, nước cũng không hề tràn ra một giọt nào. Con suối này kỳ lạ thật đấy. Tất cả những chuyện này đều do một nhà sư kể cho tôi nghe đấy."
Nhưng khi chúng tôi đến bên con suối đó, ở đó chỉ có một quán trà, uống một cốc trà ngon có hương thơm kỳ lạ phải tốn không ít tiền đâu. Hồ Lan uống cốc trà này, nói thật là kỳ lạ, nước trà chảy qua mạch máu của cô ấy, đi vào tim và gan, khiến cô ấy cảm thấy hoàn toàn bình lặng. Nhưng tôi cho rằng cô ấy chẳng qua chỉ vì trưa nào cũng quen ngủ gật nên hơi lơ mơ mà thôi.
Lại có một lần, cô ấy nói cô ấy biết trong thành phố có một nơi bán loại mì nước gọi là "tai mèo", tủ kính của quán cơm này còn treo nửa tá tai mèo bị cắt xuống nữa chứ, điều này chứng minh quán cơm này bán những thứ hàng thật giá thật. Nhưng chúng tôi chưa từng tìm thấy nơi này. Mãi sau này tôi mới biết, cái gọi là "tai mèo" chẳng qua chỉ là cách gọi của người địa phương đối với món súp hoành thánh mà thôi.
Tôi bắt đầu nghĩ, tất cả mọi người đều coi Hồ Lan là đồ ngốc, bịa ra mấy lời nói dối kỳ quái để lừa cô ấy, rồi nhìn cái bộ dạng tré mỏ của cô ấy mà cười sau lưng cô ấy. Tôi cảm thấy hơi có lỗi với cô ấy, bởi vì tôi không muốn trở thành người đầu tiên nói cho cô ấy biết sự thật rằng mọi người đang đem cô ấy ra làm trò tiêu khiển. Nhưng sau đó, tôi cảm thấy hơi bực bội, tôi cho rằng cô ấy chẳng qua chỉ đang giả vờ ngốc nghếch, giả vờ ra vẻ rất dễ bị lừa gạt mà thôi. Người ta bảo đi xem một con rắn hóa thành phụ nữ, cô ấy cũng tin; người ta bảo đi xem một cái hang động biết thổi tiêu, cô ấy cũng tin. Hễ cô ấy đến rủ tôi đi cùng, tôi bắt đầu kiếm cớ, nói rằng tôi mệt, hoặc dạ dày khó chịu, hoặc chân bị đau quá không thể đi đường dài được. Những cái cớ mà tôi tìm ra, sau này đều biến thành sự thật, đây chính là cái suy nghĩ xui xẻo.
Mối quan hệ giữa Hồ Lan và tôi chính là như thế đấy. Cô ấy có thể vun trồng một hạt giống tưởng tượng thành cả một cánh đồng hy vọng. Nhưng tôi không ngờ rằng, lý do tôi tìm những cái cớ ấy, thực ra là vì tôi đã mang thai.