Thê Tử Của Táo Thần

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 14
Đôi Mắt Hỏng

❊ ❊ ❊

Bây giờ tôi muốn kể cho bạn nghe vận may của tôi bắt đầu chuyển biến từ lúc nào, và trở nên tồi tệ hơn ra sao. Anh thử nói xem đây có phải lỗi của tôi không.

Khi đến Côn Minh, tôi đã mang thai được khoảng tám tháng. Cái bụng của tôi rất lớn, tôi có cảm giác mỗi lần xe xóc nảy là đứa bé như muốn nhảy thốc ra ngoài. Bây giờ, khi chúng tôi đã ra khỏi vùng núi, bác sĩ hình như càng muốn phóng nhanh hơn. Lão ta cứ thế lái vút đi dọc theo con đường cái thẳng tắp, ô tô xóc nảy dữ dội khiến tôi buộc phải ôm chặt lấy bụng mình.

"Ái chà!" Gia Quốc quát lên với hắn, "Anh lái nhanh thế này, muốn đưa thẳng chúng tôi đến chỗ quỷ vương chắc?" Lão Mã quay đầu lại phang một câu: "Muốn nhanh hơn nữa cơ à?" Hắn hạ thấp giọng gầm lên, rồi cười trừ. Còn chưa để Gia Quốc kịp đáp lời, chiếc xe tải đã gầm rú vang dội hơn, mã lực cũng được tăng lên mạnh mẽ.

Chuyện này thực ra cũng chẳng sao, ai nấy đều muốn đến chốn phồn hoa mới của chúng ta cho sớm một chút, đỡ phải trèo lên xe tải vào mỗi buổi sáng, cũng khỏi phải ghé vào những ngôi làng nhỏ ăn đồ ăn hỏng.

Tuy hãy còn trong mùa đông, nhưng ngọn gió thổi vào mặt đã không còn lạnh buốt nữa. Mọi người đều cảm thấy mình đã đặt chân đến một nơi có khí hậu hoàn toàn khác biệt, một nơi bốn mùa như mùa xuân.

Hồ Lan quay đầu lại nói với tôi, "Nhìn kìa, Côn Minh y như tranh vẽ vậy, non xanh nước biếc. Thời tiết lúc nào cũng quang đãng thế này."

Đương nhiên, lúc bấy giờ chúng tôi nào hay biết rằng mình chỉ đang ở vùng ngoại ô Côn Minh. Đi tiếp một đoạn nữa, những cảnh đẹp ấy liền biến mất.

Chiếc xe giảm tốc độ, tài xế liên tục bấm còi, chúng tôi đi qua đoàn người đông đúc tấp nập, ai nấy đều mang theo túi xách trên lưng và trông vô cùng mệt mỏi. Văn Phúc quát lớn vào mặt họ: "Tránh ra! Tránh ra!" Thấy họ không lập tức nhảy tránh đi, hắn liền chửi mắng họ — "Lũ tiểu tốt!" Lời này dùng để chỉ những thứ đê tiện, đem những con người đáng thương ấy đánh đồng với những thứ nhỏ mọn như dế mèn hay kiến cỏ.

Đi đến đâu cũng bắt gặp những công nhân đang đập đá trên đường, chất chúng vào những chiếc xe cút kít. Đi được một quãng, chúng tôi bắt gặp một chiếc xe quân sự, rồi lại thêm một chiếc nữa, cứ thế nối tiếp nhau không dứt. Lần nào Văn Phúc cũng vẫy tay chào họ, chỉ vào ngực mình và hô lớn: "Không quân, Hàng Châu, ban thứ hai!"

Sau đó chúng tôi tiến vào trong thành phố. Thành phố này lớn hơn tôi tưởng tượng, vừa đông đúc lại vừa hỗn loạn. Chúng tôi đi qua nhà ga xe lửa, lái thẳng vào một con đại phố. Những tòa nhà trên phố mang một màu xám xịt, chẳng ra lối cổ kính, cũng chẳng giống kiểu hiện đại. Đi tiếp về phía trước thì đường càng lúc càng hẹp lại, con đường ngoằn ngoèo chật ních người là người, xe cút kít và xe đạp, cứ cách vài giây là tài xế lại phải bấm còi một lần. Không khí ô uế và khó ngửi đến mức đầu óc tôi đau nhức. Tôi nhìn thấy rất nhiều ngôi nhà làm bằng đất nện chen chúc nhau, có những căn tương đối sạch sẽ được quét vôi trắng, lại có những căn rách nát tả tơi chẳng hiểu vì sao vẫn chưa sụp đổ. Rất nhiều người quay đầu lại nhìn chúng tôi, khuôn mặt họ hoàn toàn không phải gương mặt của người Hán, họ là những người dân tộc thiểu số vừa từ trên núi xuống thành. Nhìn là biết họ không phải người bản địa, bởi vì thứ họ mặc không phải loại áo khoác và quần màu nâu đất mà người nghèo Vân Nam vẫn mặc, cũng chẳng phải áo dài của thương nhân, hay loại sơ mi và quần âu kiểu Tây của trí thức; thứ họ mặc là những chiếc váy rực rỡ sắc màu, trên tay áo có dải lụa sặc sỡ vô cùng bắt mắt, trên đầu quấn nhiều vòng khăn hoặc đội thứ mũ rơm úp chặt trông như cái bát.

Dù có phải người Hán hay không, dọc đường đi, những con người chúng tôi nhìn thấy đều trừng trừng dòm chúng tôi bằng ánh mắt sầm sì. Họ nhìn chăm chú và im lặng làm sao — giờ đây tất cả mọi dấu hiệu chiến tranh đã kéo đến ngay trước cửa nhà họ. Thành phố vốn chìm trong yên lặng suốt bao nhiêu thế kỷ này, giờ đây đâu đâu cũng tràn ngập tiếng ồn ào.

Chúng tôi chuyển đến một quán trọ ở tạm vài ngày trong lúc một số nhân viên không quân tìm kiếm nhà cửa phù hợp cho chúng tôi. Cuối cùng, chúng tôi dọn đến một tòa nhà hai tầng nằm giữa cửa Đông và cửa Bắc. Ngoài một cặp vợ chồng khác mà chúng tôi chạm mặt vào ngày dọn vào ở, Gia Quốc và Hồ Lan cũng sống ở đó.

Người phụ nữ đó lớn tuổi hơn cả Hồ Lan lẫn tôi, ả ta rất hống hách. Chồng ả tuy không phải phi công, chỉ là một thanh tra quản lý giao thông vận tải, cầu đường, xa lộ và đường sắt, nhưng cũng có mối quan hệ với không quân.

Lần đầu tiên đi xem nhà, Hồ Lan nói: "Cơn kìa bức tường gỗ dài của nó, lại còn hai cái cửa sổ lớn nữa — y như hai con mắt đang nhìn ra ngoài vậy." Tất cả những ngôi nhà trên con phố ấy đều y hệt nhau, đều là nhà gỗ hai hoặc ba tầng, chúng tôi gọi chúng là nhà kiểu Tây, tức là nhà theo phong cách nước ngoài.

Phía trước nhà không có sân, không có thứ gì ngăn cách giữa đường lớn và ngôi nhà cả, chỉ cần bước xuống ba bậc thềm — bập! — là bạn đã đặt chân xuống vỉa hè, phơi bày ngay trước mắt thiên hạ. Bù lại, chúng tôi có một cái sân sau được vây quanh bởi hàng rào. Nó không phải là một nơi thích hợp để tiếp khách, không phải kiểu sân vườn dùng để thưởng ngoạn, mà chẳng qua chỉ được tráng một lớp bê tông rồi tiện tay trồng dăm khóm cây bụi để làm cảnh. Ở một góc hàng rào có một chiếc máy bơm nước và một cái máng dài để giặt giũ, bên trên giăng vài sợi dây phơi quần áo, bên cạnh còn có một cối đá dùng để xay gạo hoặc mè gì đó.

Hàng rào có một cánh cửa hậu thông ra một con hẻm nhỏ, bề rộng chỉ vừa vặn cho xe cút kít chở phân đi qua. Từ ngõ nhỏ rẽ trái, có một con đường mòn hai bên mọc đầy cây bụi dẫn đến một hồ nước nhỏ trong thành phố. Nghe nói hồ này trông rất đẹp, có lẽ trước kia đã từng là như vậy. Nhưng những gì tôi thấy là những người nghèo khổ nhất trong thành phố đều tập trung cả ở đó để tắm giặt, thậm chí còn làm cả những chuyện không thốt nên lời.

Như tôi đã nói, ngôi nhà này thoạt nhìn bên ngoài thì mang phong cách Tây Âu, nhưng bên trong thì vẫn y nguyên kiểu cũ của Trung Quốc. Tầng trệt có hai gian phòng lớn dùng chung, một gian là nhà bếp rộng lớn với hai chiếc lò bếp đắp bằng đất sét cùng rất nhiều nhiên liệu nấu nướng. Lại có thêm một chiếc bồn rửa tích hợp rãnh thoát nước, nhưng không có nước máy mà chỉ có người hầu. Kiểu này cũng đậm chất Trung Hoa, đầu bếp và người hầu phải đến chiếc máy bơm ở sân sau để gánh những thùng nước vừa nặng vừa to lên, có lẽ họ còn phải khiêng qua cả các bậc thềm nữa, giờ thì tôi không nhớ rõ lắm. Vì bản thân bạn chưa từng phải làm những việc này, nên bạn sẽ chẳng bao giờ nghĩ đến việc người khác làm nó ra sao.

Tóm lại, chắc chắn là có người gánh nước, bởi vì ngày nào cũng vậy, dù là sáng hay tối, tôi đều có nước nóng sạch sẽ để rửa mặt và lau người — buổi sáng lau nửa thân trên, buổi tối lau nửa thân dưới. Đứa bé trong bụng tôi quá lớn, không thể lau sạch một lượt toàn thân được. Mỗi ngày, người hầu đều phải đến đổ nước trong chậu rửa mặt và chậu ngâm chân, lại còn phải đổ bô nữa, thế nên những thứ đồ đạc ấy có lẽ đều được mang ra cái ngõ nhỏ kia để cọ rửa.

Lại có một phòng lớn dùng chung làm nơi ăn uống và tiếp khách, trong đó có một chiếc bàn lớn, rất nhiều ghế ngồi, hai chiếc ghế sô-pha rẻ tiền, cùng một chiếc máy hát đĩa quay tay kiểu cũ do Văn Phúc tìm được khi mới đến thành phố này. Không phải vì không có điện nên chúng tôi mới dùng cái máy quay tay này, mà bởi vì đang trong thời chiến, biết kiếm đâu ra một chiếc máy hát kiểu mới? Đương nhiên, nói thật lòng thì hầu hết người dân ở đây vẫn chưa được dùng điện, họ sống trong những ngôi nhà đất nện hoặc nhà tranh kiểu cũ. Nhưng trong ngôi nhà của chúng tôi, trên con phố của chúng tôi, nhà nào nhà nấy đều có điện, dù là ở lầu trên hay lầu dưới. Khi cả thành phố chìm trong một mảng tối thui và tĩnh mịch, chỗ chúng tôi vẫn bật đài thu thanh, mở quạt điện, đánh mạt chược thâu đêm suốt sáng.

Chúng tôi luôn sẵn sàng chớp lấy từng khoảnh khắc để vui chơi hưởng lạc. Chúng tôi thích tưởng tượng mình là những con người ở Berlin. Chúng tôi nghe nói đó là một nơi điên cuồng, người ta ở đó chẳng màng gì đến chiến tranh, chỉ biết tận dụng từng ngày để ăn chơi đùa giật — đánh bạc này, uống rượu này, lượn lờ hộp đêm này. Chúng tôi chính là kiểu người như thế, khát khao một cuộc sống cuồng nhiệt tương tự. Dương nhiên, đây chẳng phải Berlin, chúng tôi đang ở Côn Minh. Thế nên, khi đã nghe đến phát ngán thứ âm nhạc rạo rực phát ra từ chiếc máy hát, khi chiếc đài thu thanh đã phát xong chương trình, khi chẳng còn ai để trò chuyện, khi đôi tay đã mỏi nhừ chẳng còn đủ sức sờ đến quân mạt chược nữa, thì còn việc gì để làm đây? Chúng tôi chẳng có hộp đêm nào để đi, đành lên giường đi ngủ.

Vì Gia Quốc là phi công trưởng, phần tốt nhất trong ngôi nhà này là hai gian phòng lớn ở tầng trệt đã thuộc về anh ta và Hồ Lan. Những người còn lại chúng tôi đành lên ở các phòng trên lầu. Đối với tôi mà nói, điều này thực sự vô cùng bất tiện, đi đứng mà tôi chẳng thể nhìn thấy đôi chân của mình, chỉ nhìn thấy cái bụng vượt mặt, thế nên mỗi lần lên lầu tôi đều phải cẩn trọng vô cùng, dò dẫm từng bước một trên bậc thang.

Vừa mới chuyển đến đó, Văn Phúc và tôi được phân cho căn phòng tồi tàn nhất, hướng của cả hai gian đều chẳng mấy tốt đẹp gì. Cách duy nhất để giường ngủ quay về hướng cát tường là kê đầu giường áp sát vào cửa nhà vệ sinh, chặn đứng cả đường ra lối vào, nhưng làm thế sao được chứ?

Đó chính là căn phòng của chúng tôi — thế mà ngặt nỗi người vợ của viên thanh tra đã chiếm mất căn phòng đẹp nhất lầu trên, ả ta vênh váo tuyên bố chức vị chồng ả lớn hơn chồng tôi. Chuyện này quả thực là sự thật. Nhưng ả hoàn toàn có thể không nói thế cơ mà, ả hoàn toàn có thể nhã nhặn thốt rằng: "Căn này đây, chị cứ chọn trước đi." Chắc chắn tôi sẽ nhường hai căn phòng hướng xấu kia để bày tỏ sự rộng lượng của mình, chứ không nhỏ mọn tầm thường như ả, ít ra thì tôi cũng sẽ chọn một căn.

Thế nên tuần đầu tiên sống trong ngôi nhà này vô cùng khó chịu. Tôi chẳng thích mấy căn phòng này chút nào, tôi càng chẳng thích người vợ của viên thanh tra, và tôi đặc biệt ghét cái cách ả ta đánh mạt chược. Mỗi lần tôi đánh ra một con bài, ả ta lại nhướng mày lên, hô lớn một tiếng: "Ù!" Ghét nhất là vào mỗi buổi tối, chúng tôi cứ phải nghe đống chuyện cãi vã của cặp vợ chồng viên thanh tra ở căn phòng vách bên cạnh.

Mới đầu chỉ nghe thấy giọng trầm đục của người chồng, tiếp theo là giọng thé lên chói tai của người vợ, chẳng mấy chốc người phụ nữ ấy lại òa khóc nức nở. Văn Phúc bèn cởi giày ném phăng vào vách tường. Nhưng cặp oan gia này chỉ im thin thít được năm phút rồi lại tiếp tục cãi cọ om sòm.

Cứ thế trôi qua ba bốn đêm, Văn Phúc bắt đầu làu bàu với người phụ nữ kia, còn Hồ Lan thì càu nhàu về những chiếc giày bị ném vào tường — "Giống như bom nổ vậy," ả ta nói, "khiếp vía chúng tôi chết đi được." Một lát sau, tất cả mọi người bắt đầu tranh cãi, bao nhiêu tính khí tồi tệ đều lòi cả ra ngoài, cho đến tận khi chẳng ai thèm nói chuyện với ai nữa, trong phòng chìm vào tĩnh lặng. Ban đêm, khi chiếc đài thu thanh ngừng phát sóng, chúng tôi đành phải giải tán, ai lại trở về phòng nấy. Không gian xung quanh tĩnh mịch đến mức có thể nghe thấy cả tiếng con ruồi va vào trần nhà.

Vấn đề này chỉ kéo dài dăm bữa nửa tháng, bởi vì viên thanh tra đã đi thị sát tiến trình thi công đường mטן (Miến Điện). Sau đó chúng tôi nghe nói muỗi ở vùng này còn nguy hiểm hơn cả lợn lội Nhật Bản, chỉ mới ba bốn ngày mà căn bệnh sốt rét đã cướp đi sinh mạng của hắn, khiến lúc chết trông hắn thảm hại vô cùng. Từ bấy trở đi, chúng tôi lại đằng đẵng mất mấy ngày phải nghe tiếng khóc lóc om sòm của vợ hắn. Dĩ nhiên là lần này chúng tôi không còn càu nhàu nữa, Văn Phúc cũng chẳng thèm ném giày, ai nấy đều đối xử với ả ta rất tốt. Đến lúc ả chuẩn bị dọn đi, tất cả chúng tôi đều có cảm giác hai bên đã trở thành tri kỷ sinh tử. Nhưng giờ thì tôi đã quên bén ả họ gì rồi, hình như họ Lưu hoặc họ Lâu thì phải.

Nói chung, sau khi ả ta đi, tôi liền dọn vào căn phòng mà họ từng ở. Đương nhiên, phải trả thêm một khoản tiền, tôi lấy ra một phần tiền hồi môn để chi trả. Lạc Hoa gửi cho tôi số tiền tôi gửi trong ngân hàng, qua đó tôi mới biết hóa ra cô ấy còn gửi bốn trăm đồng đến Nam Kinh nữa, số tiền này tôi chưa từng nhận được.

Thực ra, lúc bấy giờ phần lớn các khoản chi tiêu đều là dùng tiền riêng của tôi. Không quân không còn phái binh lính phục vụ cho chúng tôi nữa, ngay cả Hồ Lan là vợ của phi công trưởng cũng chẳng có người hầu riêng. Thỏa thuận như thế nên tôi đành tự bỏ tiền túi ra, thuê một mụ góa phụ lớn tuổi làm đầu bếp và một cô gái trẻ để dọn dẹp nhà cửa. Ngoài ra, tôi còn tự bỏ tiền thuê cho hai người bọn họ một căn phòng nhỏ từng dùng làm nhà bếp trước kia.

Bạn có thể tưởng tượng được sắc mặt của Hồ Lan khó coi đến nhường nào mỗi khi người hầu của tôi phơi quần áo hay đổ bô. Hồ Lan lúc này đã thay đổi rất nhiều, không còn là cô thôn nữ mới bước chân ra đời, lấy được một phi công không quân là đã vênh váo tận trời xanh nữa. Bạn có đoán được tôi đang nghĩ gì không? Gia Quốc thăng một cấp quân hàm, Hồ Lan cũng thăng một cấp! Trong lòng ả đinh ninh rằng địa vị của mình cao hơn tôi. Lúc nhìn thấy tôi đủ khả năng thuê người hầu trong khi ả thì không, ả tức đến mức phát điên.

Dĩ nhiên, người hầu và đầu bếp của tôi cũng giúp Hồ Lan làm không ít việc, họ dọn dẹp các phòng chung, xách nước giếng cho mọi người dùng để pha trà hoặc giặt giũ.

Thế nhưng Hồ Lan vẫn chẳng lấy làm thỏa mãn, ả ta đi lang thang khắp nơi soi mói vết dầu mỡ trên mặt đất, hễ phát hiện ra là lại cất giọng: "Ái chà! Nhìn chỗ này mà xem." Mỗi lần tôi mời vợ chồng ả ta dùng bữa, Hồ Lan bao giờ cũng ăn rất nhiều, xong xuôi lại chê bai: "Được đấy, chỉ là thịt hơi dai một chút." Lần sau ả ta sẽ lại chê: "Được đấy, có điều thịt hầm chưa đủ nhừ."

Cho nên bất kể tôi làm gì, bất kể tôi cho ả ta bao nhiêu món hời, ả ta vẫn cứ trơ ra cái vẻ khó chịu, nhất định phải làm cho tôi cũng bực bội lây giống ả mới thôi.

Đến tháng mang thai thứ chín của tôi, đứa bé trong bụng đã to lớn bằng hai đứa bình thường rồi, vậy mà nó vẫn chưa chịu ra ngoài. Tôi chẳng lo lắng gì cả, bởi vì tôi có thể cảm nhận rõ ràng nó đang bơi lội ngay trong bụng mình, thân thể nó xoay chuyển, đôi chân nó đạp phành phạch, cái đầu nhỏ cứ lắc qua lắc lại. Hễ tôi cất tiếng hát là nó lại cựa quậy. Nó vừa cử động là tôi lại có cảm giác như mình đang mộng du vậy. Tôi đi chợ mua mớ rau mình thích ăn, thế là nó lại ngọ nguậy, đứa trẻ này có sự kết nối tâm linh sâu sắc với tôi.

Ngày nào tôi cũng đan mấy chiếc chăn nhỏ cho con, hoặc đan áo len bé xíu, dùng phần tay áo nhỏ để nối ghép các mảnh áo len đã đan xong lại với nhau. Tôi còn nhớ, có một lần tôi đang ngồi may vá, đứa bé trong bụng bỗng đạp tôi túi bụi, cú đạp mạnh hơn bất cứ lần nào trước đó. Tôi tưởng tượng đứa trẻ trộm vía khỏe mạnh này sắp sửa chào đời, chạy tung tăng khắp cầu thang giống như cách nó đang chạy nhảy trong bụng tôi lúc này vậy.

"Ra đi nào, cục cưng nhỏ," tôi dỗ dành nó, "Mẹ đang gọi con ra đây này." Vừa dâng lời thì đứa bé lại tặng tôi thêm một cú đá, chiếc kéo trong tay tôi tuột rơi xuống đất, mũi kéo cắm phập thẳng xuống sàn nhà hệt như một người lính nhỏ đang chờ đợi nhận lệnh. Ban đầu tôi bật cười, nhưng chỉ một chốc sau — ối chà! — tôi chợt thấy có điều gì đó thật kỳ lạ, đứa trẻ trong bụng im bặt không cựa quậy nữa. Đây không phải do tôi tự tưởng tượng ra đâu, sự việc thực sự đã diễn ra như vậy: ngay khi chiếc kéo rơi xuống, đứa trẻ cũng ngoan ngoãn chìm vào tĩnh lặng.

Tôi muốn nhặt chiếc kéo lên khỏi mặt đất, nhưng thân hình quá nặng nề khiến tôi chẳng thể cúi người xuống được. Lúc này, tôi chợt nhớ đến lời mụ thím nọ từng nói, kéo rơi xuống đất là điềm găm xui xẻo. Tôi không nhớ rõ nguyên lý cụ thể ra sao, chỉ nhớ đại khái là có câu chuyện kể rằng, có người phụ nữ bỗng trở nên ngốc nghé, có người phụ nữ rụng sạch tóc chỉ sau một đêm, có người phụ nữ sinh được đứa con trai độc đinh nhưng đôi mắt lại bị cành cây đâm mù, mụ đau đớn đến mức dùng chính cành cây đó tự chọc mù đôi mắt của mình.

Tôi đã gây ra chuyện tày đình gì thế này, lại để rơi cả kéo xuống đất. Tôi lập tức gọi người hầu tới, bảo mụ ném con kéo này xuống hồ.

Đêm hôm đó, đứa bé vẫn bất động chẳng cựa quậy chút nào. Tôi cất tiếng hát, tôi đi đi lại lại dọc hành lang, vậy mà nó vẫn không hề có phản ứng gì. Hôm sau, tôi đến bệnh viện, các bác sĩ bận rộn xoay xở đủ cách hòng giúp đứa trẻ mau chóng ra ngoài, nhưng tất cả đã quá muộn.

Hồ Lan cũng đi theo. Ngừa bác sĩ vừa bước ra, ả ta liền thông báo với tôi rằng đứa bé rất to, có lẽ nặng phải hơn mười pa-ao (pound). Lúc này mà còn đi bàn chuyện cân nặng của đứa trẻ với tôi để làm gì chứ? Trông ả ta cứ như đang bàn về một con cá vớt được dưới biển vậy. Đứa bé gái này chưa từng cất tiếng khóc, chưa từng được hít thở một ngụm không khí nào.

Văn Phúc vỗ nhẹ lên bàn tay tôi: "Ít ra, cũng không phải con trai."

Chẳng hiểu ma xui quỷ khiến thế nào, tôi đột ngột yêu cầu y tá bế đứa trẻ lại đây. Hồ Lan và Văn Phúc đều trân trân nhìn tôi ngẩn ngơ.

"Tôi muốn nhìn con bé một cái, và đặt cho nó một cái tên thật hay," tôi nghiêm túc lên tiếng. Hồ Lan và Văn Phúc nhìn nhau trân trân.

Tôi thở dài một tiếng. "Chỉ để cho tiện thôi," tôi nói, "để đứa trẻ mang theo cái tên xuống âm phủ. Con bé sẽ lớn lên ở dưới đó. Đợi đến khi chính chúng ta cũng xuống âm phủ, chúng ta có thể gọi nó, biết đâu kiếp sau chúng ta còn phải nhờ cậy nó chăm sóc nữa chứ."

"Nghe cũng thực tế phết nhỉ." Hồ Lan đồng tình với quan điểm của tôi, đoạn cùng Văn Phúc quay lưng bước đi. Tôi đoán chắc bọn họ tưởng tôi sắp sửa òa khóc nức nở vì đứa con chết yểu nên không muốn ngồi lúng túng ở đó chứng kiến cảnh tôi khóc lóc mà thôi.

Sau khi cô y tá bế đứa bé vào, tôi không chồm dậy nhìn nó mà cứ nằm bẹp trên giường, đầu cũng chẳng buồn quay sang phía khác. Tôi muốn níu giữ chút ký ức nào đó về con bé, tôi nhớ lại những khoảnh khắc chúng tôi cùng nhau nhún nhảy, khi tôi chuyện trò với nó, nó hoạt bát biết bao. Cuối cùng, tôi vẫn rướn người bò dậy để ngắm nhìn con.

Đứa bé sinh ra rất lớn, mái tóc dày đen nhánh, đôi tai giống hệt như đúc từ một khuôn với tôi, chiếc miệng nhỏ xinh, nhưng làn da của nó — đáng thương làm sao! — lại xám ngoét như màu đá cuội. Đôi bàn tay nhỏ xíu siết chặt thành những nắm đấm, tôi muốn nới lỏng chúng ra, và chính vào khoảnh khắc ấy, tôi bật khóc nghẹn ngào. Giá như đứa bé này được sinh ra ở Thượng Hải, giá như nó không cất tiếng khóc chào đời giữa chốn khói lửa chiến tranh, giá như con kéo ban nãy của tôi không bị rơi xuống đất, thì biết mấy tốt đẹp làm sao!

Nhưng tôi nhanh chóng xua tan những ý nghĩ đau buồn ấy đi, tôi phải tự bắt mình trở nên thật mạnh mẽ. Người dân ở các vùng quê đang phải chịu cảnh đói khát, người dân trong biển lửa chiến tranh đang ngã xuống từng ngày. Con người chết vì đủ mọi nguyên nhân khác nhau, có những cái chết thậm chí chẳng có lấy một lý do. Thế nên, ít ra thì bạn cũng có thể tự an ủi bản thân rằng, đứa trẻ này vừa chào đời đã chết yểu, xem như được miễn phải chịu đựng những đày ải ở chốn trần gian.

Chiều hôm sau, chúng tôi ngồi xe đến chân núi Tây Sơn, người dân bản địa gọi nơi này là Người Đẹp Ngủ (Sleep Beauty). Dãy núi này trông hệt như một nhóm thiếu nữ đang nằm nghiêng mình ngủ say. Chúng tôi đã chôn cất con bé tại chốn này. Tôi chỉ thốt lên vài từ để tưởng niệm nó: "Nó là một đứa trẻ ngoan, nó chưa từng khóc bao giờ." Tôi lấy cái tên của hồ nước ở Nam Kinh để đặt cho nó: Mạc Sầu (Đừng Buồn), bởi vì con bé chưa từng biết thế nào là ưu sầu.

Suốt một khoảng thời gian dài đằng đẵng, tôi chẳng dám đụng đến cây kéo nào. Tôi đã kiêng cữ suốt hơn một trăm ngày trời. Lâu đến vậy mà không được đụng tay vào kim chỉ quả thực là một cực hình khó chịu. Như tôi đã nói từ trước, chốn Côn Minh này chẳng có mấy chỗ vui chơi giải trí, nhất là vào ban ngày, tuyệt đối chẳng có thứ gì đáng xem cả. Bạn không thể nào nói rằng, tôi chán ngấy rồi, chiều nay chúng ta đi xem phim đi, chán thì cũng đành phải cắm mặt ở nhà mà chịu trận thôi. Thế nên sau ngần ấy ngày tháng sống trong cảnh rảnh rỗi vô tích sự, tôi quyết định đi mua một cây kéo để nhặt lại nghề may vá.

Hồ Lan bảo tôi: "Tôi nghe nói kéo do người Vân Nam làm là tốt nhất, vừa sắc bén lại vừa bền chắc. Thật đấy, vài tuần trước tôi đã tậu được mấy cây rồi đấy."

Ả ta bảo có rất nhiều tiệm bán kéo, nhưng tốt nhất là ở bên vệ đường thuộc khu chợ khu phố cổ, có một cửa hàng bán kéo do người bản địa mở. Kéo bán ở đó chất lượng tuyệt hảo mà giá lại cực kỳ rẻ. Con đường đó và cả tiệm kéo ấy đều chẳng có biển hiệu gì sất, nhưng rất dễ tìm.

Rồi ả chỉ đường cho tôi đi thế này đây. "Đi qua cây cầu nhỏ ở góc Đông Bắc sang bờ bên kia hồ. Đến nơi thì tìm một ông lão bán canh, rồi đi đến chỗ bán cá khô, cứ thế đi thẳng cho đến khi nhìn thấy một cô gái bán giày đang quẩy chiếc giỏ đầy những đôi giày Tây cũ, sau đó thì rẽ — chỉ có duy nhất một con đường để rẽ thôi — cứ đi thẳng tiếp sẽ thấy một khúc cua. Nhà cửa ở đấy đẹp hơn ở đây nhiều, toàn bộ đều được sơn màu trắng, thỉnh thoảng còn treo một hai chiếc biển hiệu. Tìm một chỗ bán muối mỏ, đi vào con đường đối diện, rảo bước nhanh chừng năm phút là sẽ thấy khu chợ đó. Cô gái bán kéo ngồi bên một cái bàn ở ngoài trời."

Đương nhiên là tôi bị lạc đường rồi. Thế này mà gọi là chỉ đường à? Khu phố cổ đã có lịch sử nghìn năm tuổi, bước qua những con phố này, bạn sẽ có cảm giác trải qua bao nhiêu năm tháng mà thành phố chẳng hề thay đổi chút nào. Đường xá ngoằn ngoèo gấp khúc, rẽ đến chỗ nào không khéo là thành đường cụt ngay lập tức, chẳng có lấy một lý do logic nào sất. Mặt đường cao thấp nhấp nhô, những viên đá cuội ở giữa đã bị đôi chân qua lại của người đời mài mòn nhẵn nhụi. Hai bên đường toàn là những căn lều lán lộn xộn xiêu vẹo chen chúc, bóp nghẹt không gian lối đi trở nên vô cùng chật chội. Chẳng có chiếc ô tô nào có thể lái lọt vào đây nổi, điều này thì chắc chắn 100%.

Tôi đã đi lạc mất hơn một tiếng đồng hồ, vất vưởng lang thang ở khu tồi tàn nhất của phố cổ. Dù tôi ăn mặc vô cùng giản dị, những người phụ nữ khác vẫn cứ liếc xéo tôi từ đầu đến chân, trỏ trỏ trỏ trỏ vào đôi giày của tôi. Bọn trẻ con lẽo đẽo bám theo sau tôi, chìa những lòng bàn tay gầy guộc ra và la hét: "Đói quá! Đói quá!" Tôi muốn tìm ai đó để cầu cứu, ngặt nỗi chẳng tài nào tìm thấy bóng dáng ai. Những gương mặt quay lại nhìn tôi đều ngây ngô đần độn, tuyệt nhiên không tìm thấy nổi một biểu cảm thân thiện nào.

Tôi cứ thế đi mãi đi mãi, đằng sau lưng là một đám đông trẻ con nhảy nhót tung tăng, từ những ô cửa sổ dọc đường phả ra mùi cơm canh khó ngửi. Tôi nhìn thấy một người phụ nữ bước ra cửa, để ngực trần cho con bú sữa. Một ông lão ngồi trên chiếc ghế đẩu, trông thấy tôi thì cười trừ một tiếng, sau đó bắt đầu ho sặc sụa, tiếng ho dữ dội đến mức tôi cứ ngỡ lão sắp chết ngay tại chỗ. Cổ họng tôi nghẹn đắng lại, phải cố gắng gồng mình lắm mới nhịn được không khóc oà lên.

Cuối cùng thì tôi cũng lê bước ra được một con phố rộng hơn một chút, đó chính là khu chợ với người qua kẻ lại tấp nập. Bám riết lấy tôi là đám trẻ con bu quanh vòng trong vòng ngoài khiến tôi chẳng tài nào nhấc nổi chân bước đi. Tôi thọc tay vào ví, vung vãi mấy đồng tiền xu lên đầu chúng. Bọn chúng hò reo inh oỏi, nhao nhao chồm cả xuống đất để tranh giành bãi chiến trường gồm mấy đồng bạc lẻ ấy.

Tôi quyết định phải nhanh chóng tìm ai đó hỏi thăm cách bắt một chiếc xe xích lô để trở về nhà. Tôi bước đến bên một cô gái trẻ, cô gái này đi chân trần, khuôn mặt lấm lem bụi bẩn, bím tóc dày tết vội dính đầy rác rưởi, đang ngồi bên một chiếc bàn mây. Tôi vừa định cất tiếng hỏi, bỗng phát hiện trên mặt trời bày la liệt rất nhiều cây kéo. Ôi chà chà! Cảnh tượng này chẳng phải sẽ khiến bạn có cảm giác như ai đó đang chơi một vố khăm trời giáng với mình hay sao? Chẳng phải sẽ khiến bạn cảm thấy cả đời này bản thân chỉ có thể nhận được những thứ mình không muốn sao?

Những cây kéo được xếp ngay ngắn trên một tấm vải đỏ đã phai màu, từ loại lớn nhất cho đến loại nhỏ nhất, mỗi loại đều có hai kiểu dáng: một kiểu thông dụng với lưỡi kéo sắc bén nhưng cán kéo không có hoa văn trang trí; kiểu thứ hai trông vô cùng độc đáo với phần lưỡi kéo uốn cong tựa như chim hạc, hệt như những thứ bạn có thể nhìn thấy ở các cửa hàng cao cấp tại Thượng Hải. Tôi vô cùng ngạc nhiên khi lại có thể bắt gặp chúng ở chốn này, lưỡi kéo mỏng dính, trông hệt như chiếc mỏ chim dài, điểm tiếp giáp giữa hai phiến lưỡi kéo trông giống như một con mắt, còn phần tay cầm chính là đôi cánh.

Tôi chẳng hiểu họ làm ra chúng bằng cách nào, mỗi một cây kéo trông đều rập khuôn một kiểu, chỉ khác nhau về kích thước lớn nhỏ. Tôi tiện tay cầm lên một cây, bấm mở phần mỏ chim qua lại vài lần. Trông con chim này cứ như vừa muốn cất lời vừa muốn bay vút lên trời cao vậy, thật tuyệt vời, quả là lắm mưu nhiều kế!

"Những cây kéo này do ai làm vậy?" Tôi cất tiếng hỏi cô gái nhỏ.

"Là người nhà chúng tôi làm đấy ạ." Cô ta vừa đáp vừa cười mỉm. Vừa hếch miệng cười là tôi phát hiện toàn bộ hàm răng cửa của cô ta đã rụng sạch, trông bỗng chốc già đi trước tuổi đến mấy phần. Tôi chọn một cây kéo bản to, cô ta bèn rút ra một tấm vải bẩn thỉu rách rưới, giục tôi thử xem có bén không.

Một cậu bé cởi trần bước ra từ ô cửa phía sau lưng cô ta, cất giọng gọi: "Mẹ ơi!" Cô ta mắng yêu con: "Chờ đấy! Không thấy mẹ đang có quý khách ghé thăm à?" Đứa nhỏ đành lủi thủi rụt đầu quay vào.

"Không phải khoác lác đâu nhé," cô ta dùng cái miệng móm mém của mình huyên thuyên không dứt, "Chị cứ đi thử kéo ở những nơi khác trong thành phố mà xem, tìm thử xem có chỗ nào làm ra loại kéo vừa sắc bén lại vừa khít khao như nhà chúng tôi không. Đó là bởi vì người nhà chúng tôi đã làm nghề rèn kéo này từ hàng nghìn, nói không chừng là từ cả vạn năm nay rồi đấy. Chị thử cây này xem, đây là cây được làm tinh xảo nhất đấy." Cô ta đưa tấm giẻ rách sang cho tôi, ra hiệu tôi cắt thử. Cây kéo này quả thực rất bén, chỉ sạt qua một cái là đã cắt đứt lìa miếng vải.

Người phụ nữ đó xoắn xoắn mấy ngón tay, "Nghề thủ công này ai trong nhà chúng tôi cũng biết làm, đã truyền qua bao nhiêu thế hệ rồi. Tụi tôi bắt đầu dạy bọn trẻ con làm kim mắt to trước, rồi sau đó mới làm kim mắt nhỏ, cứ thế làm cho đến khi nhỏ xíu lại, cuối cùng mới dạy cách làm kéo."

"Bao nhiêu tiền thế?" Tôi nhấc một cây kéo mỏ chim lên, cất tiếng hỏi.

"Chị thấy đáng giá bao nhiêu?" Cô ta lập tức trề môi, trừng trừng đôi mắt nhìn thẳng vào mặt tôi, "Một cây kéo tốt thế này thì theo chị đáng giá bao nhiêu nào? Vật liệu làm ra hoàn toàn là thép tốt nhất cứng nhất của Mỹ đấy nhé."

Người phụ nữ này đúng là coi tôi như đồ ngốc. "Làm gì có chuyện thép Mỹ xuất hiện ở cái chốn này?" Tôi đáp, "Đến cả một nhà máy của Mỹ ở đây cũng chẳng có nổi một cái."

"Ngay ở phía tây thành phố ấy, sắt của chúng tôi toàn lấy từ chỗ đó ra, ở ngay phía dưới con đường Miến Điện." Cô ta nói, "Cứ cách một khoảng thời gian là lại có một chiếc xe tải nước ngoài lật nhào — chà chốt, sâu tới cả ngàn thước — người ta cứ mặc kệ nó ở đấy chẳng vớt lên. Lũ con trai ở các gia đình dắt díu nhau mang theo dây thừng trèo tuột xuống dưới, kéo hết xác người lẫn trang thiết bị lên, miễn là chúng chưa bị suất thành từng mảnh vụn. Phần còn lại thì họ chia cho chúng tôi, mười hộ gia đình chia nhau, hai hộ lấy đồ gỗ, hai hộ lấy ghế xe hơi với cao su các thứ, nhà chúng tôi với mấy nhà khác thì chia nhau sắt. Sau đó chúng tôi mang số sắt được chia đi lò nấu lại, đem đúc thành kéo." Cô ta cười đắc ý.

Thật sự là nghe chẳng lọt tai chút nào! — Hóa ra kéo lại được làm từ đống xe phế liệu của nước ngoài. Tôi vừa định đặt cây kéo xuống thì ả ta bỗng cất lời: "Bốn đồng. Thế nào? Đây là cái giá rẻ nhất mà tôi bán ra đấy nhé."

Tôi lắc đầu. Hừm, khoản tiền này tính ra cũng tương đương với hai đô-la rồi đấy chứ. Tôi thầm nghĩ, việc gì phải bỏ ra ngần ấy tiền để mua một cây kéo mang điềm găm xui xẻo này cơ chứ?

"Thế thì, ba đồng nhé. Chị đừng có nói lại với chồng tôi đấy, tôi tự mình quyết định đấy."

Tôi vẫn lắc đầu nguầy nguậy. Nào ngờ người phụ nữ này tưởng rằng tôi chỉ đang cố tình ép giá ả ta.

Thế là ả đành thở dài thườn thượt. "Nếu chị thực sự thích, thì cứ ra một cái giá thật lòng đi. Thôi được, hai đồng rưỡi nhé. Nhưng đừng có đi kể với ai khác đấy nhé. Thật sự là rẻ đến mức không dám tin luôn rồi đấy, hai đồng rưỡi."

Lúc này tôi bắt đầu mông lung suy nghĩ, thế thì có hề h gì đâu cơ chứ? Mức giá hai đồng rưỡi quả thực là quá rẻ. Đi đâu tìm được loại kéo nào như thế này nữa? Thế là tôi mở ví tiền, đặt tiền vào lòng bàn tay ả ta.

"Lần sau mà đến là tôi không chịu bán cho chị cái giá này nữa đâu đấy nhé." Cô ta vừa nhét tiền vừa tủm tỉm cười.

Tôi khom người xuống chọn kéo. Trong lòng đang thầm đắc ý vì khả năng mặc cả kì kèo của mình, bỗng nhiên chiếc ví trượt khỏi tay, bập một tiếng rơi trúng góc bàn. Việc xảy ra quá nhanh như chớp giật, chiếc bàn vốn đã chẳng vững chãi gì bỗng chốc lật nhào, rào một tiếng, toàn bộ bốn mươi cây kéo rơi lả tả xuống mặt đất.

Tôi đờ đẫn nhìn trân trân xuống đống kéo đó, tất cả những cây kéo mỏ chim đều há hốc miệng rộng hoác, mọi điềm găm xui xẻo đều trồi hết cả ra ngoài.

"Ái chà! Đáng sợ quá đi mất!" Tôi hét lên, "Sao tôi lại có thể làm ra cái trò mèo này cơ chứ?"

"Không sao đâu, có hỏng hóc gì đâu nào." Người phụ nữ đó vừa nói vừa khom lưng định nhặt đống kéo rơi dưới đất lên, ngặt nỗi tôi đã cắm cổ ba chân bốn cẳng chạy mất dép rồi.

"Đợi chút đã! Đợi chút đã!" Tôi nghe thấy tiếng ả ta réo gọi ở đằng sau lưng, "Kéo của chị kìa, chị quên cầm rồi này."

Tôi rảo bước thật nhanh, trong đầu chẳng màng nghĩ ngợi điều gì, cứ thế cắm cổ đi thẳng một mạch không ngoảnh đầu lại vào trong những con hẻm ngoằn ngoèo hun hút. Lúc này, mọi thứ xuất hiện trước mắt trông thì quen thuộc mà hóa ra lại vô cùng xa lạ. Tôi có cảm giác mình như đang lạc vào một cơn ác mộng, chẳng biết bản thân bây giờ đang ở xó xỉnh nào, cũng chẳng rõ mình muốn đi về đâu, trong lòng chỉ độc nhất một suy nghĩ: hễ cứ dừng chân lại là thể nào cũng sẽ bị một thứ tà khí rùng rợn nào đó tóm cổ cho bằng được.

Thế nên bạn thấy đấy, tôi đã thực hiện một vụ làm ăn tồi tệ, hệt như đang giao dịch với quỷ sứ vậy. Tại sao ư? Mãi về sau này tôi mới phát hiện ra rằng ở đâu người ta cũng mua được loại kéo mỏ chim này, thậm chí giá cả còn rẻ hơn nhiều. Rất nhiều người đang làm ra loại kéo này, không chỉ riêng ở Trung Quốc. Ngay mới dạo gần đây tôi cũng vừa mới nhìn thấy — ở Đại lộ số 5 và số 10 Stanford. Phải, bạn có tưởng tượng nổi không? Đương nhiên là tôi chẳng thèm mua rồi.

Nếu bạn cảm thấy những gì tôi nói có phần mê tín dị đoan, vậy thì tại sao ngày hôm đó tôi lại vô duyên vô cớ làm rơi đổ ngần ấy cây kéo xuống đất? Tại sao ngay sau đó lại xảy ra chuyện kinh hoàng thế cơ chứ?

Hồ Lan đang ngóng chờ tôi ở nhà. Vừa trông thấy tôi về tới nơi, ả ta lập tức chồm dậy, dùng tay che miệng lại, đoạn giục tôi mau mau chóng chóng chạy ngay đến bệnh viện. "Tai nạn xe cộ rồi!" ả ta hét hoác lên, "Văn Phúc bị thương nặng lắm, sợ là sắp không qua khỏi rồi."

Tôi hoảng hốt thét lên một tiếng kinh hoàng, "Sao có thể như thế được?" Rồi chúng tôi lập tức xuất phát, một chiếc xe quân sự đang đỗ chờ sẵn ở cửa đã đưa chúng tôi đến thẳng bệnh viện.

Nửa đường đi, Hồ Lan kể lại ngọn ngành sự việc cho tôi nghe: "Anh ta đang lái một chiếc xe Jeep quân sự, phóng thẳng đến núi Người Đẹp Ngủ. Nào ngờ một chiếc bánh xe bỗng bị văng ra, chiếc Jeep lật nhào, văng bổng cả anh ta ra ngoài."

"Trời đất ơi, tất cả đều là tại tôi, chính tôi đã gây ra chuyện này," tôi gào lên.

"Đừng có nói nhảm nữa," Hồ Lan quở trách tôi, "Sao lại là do chị gây ra được cơ chứ?"

Rồi ả ta kể cho tôi nghe, Gia Quốc đã ra lệnh đưa Văn Phúc đến một bệnh viện nhà thờ Thiên Chúa giáo Pháp do các nữ tu sĩ người Trung Quốc và nước ngoài đồng quản lý. Hồ Lan bảo, mấy bệnh viện địa phương vừa rách nát vừa đông nghẹt người, đến đó chỉ rước thêm phiền toái vào thân mà thôi. Gia Quốc quả thực là một người tốt bụng biết bao!

Tôi vừa bước chân vào hành lang bệnh viện đã nghe thấy tiếng rên rỉ và gào thét của Văn Phúc. Đó là âm thanh phát ra từ một người đàn ông đang chịu đựng sự tra tấn tột cùng, một kẻ đã hoàn toàn mất đi lý trí. Rồi tôi nhìn thấy anh ta. Toàn bộ phần đỉnh đầu đều được quấn băng trắng toát, khuôn mặt sưng phồng bầm tím. Thật sự quá ư đáng sợ, nếu như không có ai nói với tôi đây chính là Văn Phúc, có lẽ tôi đã chẳng tài nào nhận ra nổi anh ta nữa. Tôi trân trân dán chặt mắt vào gương mặt ấy, cố tìm kiếm đôi mắt, chiếc mũi và chiếc cằm quen thuộc. Rồi tôi thầm nghĩ, có khi nào bọn họ nhận nhầm người rồi không, có khi nào đây không phải là chồng của tôi.

"Văn Phúc?" Tôi cất tiếng gọi.

"Anh ta không nghe thấy chị nói đâu," bác sĩ lên tiếng, "Đại não của anh ta bị chấn thương cực kỳ nghiêm trọng. Lúc mới đưa anh ta đến đây, anh ta đã ngất lịm đi rồi. Tôi phải tiêm một mũi trợ tim thì nhịp tim của anh ta mới hồi phục được." Đương nhiên là tôi đã nói lời cảm ơn bác sĩ vì đã cứu mạng chồng mình.

Tôi lại quay đầu nhìn Văn Phúc, dịu dàng gọi tên anh. Bỗng nhiên, một bên mắt chớp mở! Hơi thở của tôi như tắc nghẽn lại, bản thân sắp sửa không tài nào kiềm chế nổi nữa rồi. Con ngươi ở giữa đôi mắt ấy vừa đen vừa to, xung quanh chằng chịt những tia máu đỏ ngầu. Ánh mắt phát ra từ con ngươi ấy vô cùng giận dữ, tuyệt nhiên chẳng có lấy một chút ôn hòa nào, toàn thân anh ta trông hệt như một con quỷ dữ.

Mấy ngày sau, khi đã chắc chắn Văn Phúc vẫn còn sống, Gia Quốc đến bệnh viện bảo tôi rằng: "Vân Vân à, tôi buộc lòng phải báo cho chị một tin xấu."

Tôi điềm tĩnh lắng nghe tất cả mọi chuyện, không hề rơi một giọt nước mắt nào. Chiều hôm đó, Gia Quốc nói cho tôi biết, anh ta có lẽ buộc phải sa thải Văn Phúc, thậm chí có thể phải tống cổ anh ta vào tù. Anh ta tiết lộ rằng chồng tôi đã không hề có giấy phép mà lại dám tự ý lái xe Jeep đi cút. Hắn ta hối lộ một tài xế, kẻ hiện đang phải chịu hình phạt. Sở dĩ gặp tai nạn không phải vì bánh xe bị hỏng, mà là do phóng quá nhanh, suýt chút nữa thì đâm sầm vào một chiếc xe tải đi ngược chiều, anh ta bẻ lái gắt một cú khiến chiếc xe lật ngửa. Tiếp theo đó, tôi lại nghe Gia Quốc nhắc đến một cô gái. Ai mà biết được cô gái này đã leo lên chiếc xe Jeep của anh ta bằng cách nào cơ chứ? Dù thế nào đi nữa, cô gái ấy đã bị kẹp bẹp dí dưới gầm xe và chết ngay tại chỗ.

Đây là lần đầu tiên tôi nghe nói chồng mình đang mèo mỡ tằng tịu với những người phụ nữ khác, mãi sau này tôi mới biết cô ta không phải là người đầu tiên. Nhưng ngặt nỗi lúc đó tôi vẫn chưa tài nào tin nổi. Có lẽ Văn Phúc đến núi Người Đẹp Ngủ là để ngắm nhìn phần mộ của Mạc Sầu chăng, có lẽ cô gái đó ngồi lên xe Jeep là để dẫn đường cho anh ta chăng, có lẽ anh ta chỉ vì bản tính tốt bụng nhìn thấy cô ta đáng thương nên mới cho lên xe, có lẽ cô gái đó vốn dĩ chẳng hề ở cùng Văn Phúc, hay có lẽ cô ta vô tình đứng ngay trên sườn núi nơi anh ta gặp nạn nên mới bị đè chết oan uổng.

Dĩ nhiên, những cái cớ này chẳng tài nào giúp tôi trút bỏ được gánh nặng trong lòng, trái lại, tôi cứ có cảm giác như đang nhìn thấy Văn Phúc đang lái xe băng băng trên con đường vòng vèo uốn lượn, một tay hôn hít một cô gái trông giống như Lạc Hoa vậy. Anh ta hát cho cô ta nghe những trích đoạn trong vở kịch opera, hai người cười nói khúc khích, anh ta phóng lên lượn xuống, phóng lên lượn xuống hệt như đang bơi lội giữa tầng mây.

Lần thứ hai đến thăm Văn Phúc, trong lòng tôi vẫn còn đang vương vấn nghĩ ngợi về chuyện này. Gương mặt anh ta không còn sưng húp như lần trước nữa, anh ta đang ngủ say. Tôi rất muốn lay anh ta tỉnh dậy, tôi muốn gặng hỏi: "Anh làm thế để làm gì cơ chứ? Giờ thì anh sắp sửa phải ngồi tù rồi, cả nhà chúng ta sắp tiêu đời đến nơi rồi." Nhưng ngay lúc tôi đang chầm chậm suy nghĩ như vậy, anh ta bỗng lẩm bẩm rên rỉ, âm thanh phát ra ê ẩm đến mức khiến trái tim tôi quặn thắt lại. Thế là tôi dịu dàng xoa trán anh ta, và trước khi anh ta kịp thốt lên lời xin lỗi nào, tôi đã tha thứ cho anh ta rồi.

Cuối cùng thì Văn Phúc cũng tỉnh lại, trông anh ta vô cùng cáu kỉnh và suy nhược. Hắn ta bất mãn với tất cả mọi thứ trên đời: giường quá cứng, cơm canh thì dở tệ, vết thương đau nhức, thái độ của y tá thì tệ hại, bác sĩ thì cứ chậm chạp rề rà. Mọi người đều hết lời an ủi anh ta. Lúc bấy giờ tôi cứ ngỡ không phải tai nạn làm anh ta thay đổi, mà chỉ vì anh ta vẫn đang phải cắn răng chịu đựng đau đớn nên mới trở nên khó ưa như vậy.

Thế nhưng sau đó thể lực của anh ta đã hồi phục, mà tính tình lại ngày một trở nên cục cằn bạo ngược. Hắn ta hất tung thức ăn vào đầu các y tá, chửi mắng họ là lũ đĩ điếm. Chửi rủa các bác sĩ đều là đồ ngu ngốc, không đáng để phí phạm sức lực cứu chữa một con chó chết. Hắn ta ném cả bô đựng nước tiểu vào người vị bác sĩ từng cứu sống mình. Hắn kiên quyết không chịu uống thuốc, đến lúc bốn tên y tá phải xông vào đè ngặt anh ta xuống để ép uống, nào ngờ hắn dồn hết toàn lực tung một cú đấm đánh ngã lăn quay một cô y tá xuống đất, đánh rụng cả chiếc răng cửa của cô ta.

Có một đêm nọ, anh ta vươn tay sờ soạng bộ ngực của một cô y tá. Đêm hôm sau, bọn họ đổi sang một y tá lớn tuổi hơn, thế nhưng hắn ta chẳng màng bận tâm, vẫn chứng nào tật nấy đưa tay sờ soạng ngực người ta như cũ.

Chẳng bao lâu sau thì chẳng còn một ai dám đến chăm sóc cho anh ta nữa. Tôi cảm thấy mất mặt vô cùng. Vết thương của anh ta đã khá lên rồi, nhưng tính tình lại càng thêm phần cộc cằn quái gở. Bác sĩ bảo thể trạng anh ta vẫn còn rất suy nhược, chưa thể xuất viện được. Một bên mắt của anh ta vẫn chưa nhìn thấy gì. Bọn họ trói nghiến anh ta lên giường, bắt tôi phải quản lý chồng mình cho cẩn thận vào.

Ngày nào tôi cũng phải nghe những lời van xin thảm thiết bắt tôi thả anh ta ra. Hắn ta bắt tôi trèo lên giường ngủ cùng, bắt tôi phải cởi sạch quần áo. Những lúc tôi không chịu hợp tác làm theo những yêu cầu này, hắn lại cất cao giọng chửi mắng tôi không tiếc lời. Hắn mắng tôi ngủ với những phi công khác, hắn gào to đến mức người ở ngoài hành lang cũng nghe thấy hết.

Tôi cố gắng duy trì sự đồng cảm dành cho anh ta, cố gắng thuyết phục bản thân rằng chính vết thương đã hành hạ anh ta đau đớn khôn cùng nên anh ta mới biến chất thành ra thế này. Nhưng tận sâu thẳm trong lòng, tôi lại thầm nghĩ, Văn Phúc sắp sửa phải vào tù đến nơi rồi, tôi đã lên sẵn kế hoạch từ lâu, hễ không cần phải chăm sóc cho hắn ta nữa, tôi sẽ âm thầm lặng lẽ sống một đời bình yên.

Thế nhưng hắn ta lại chẳng phải vào tù, Gia Quốc chẳng hề cấu kết tội danh nào mà cứ thế cho qua vụ án này. Mãi sau này tôi mới biết, chính Hồ Lan đã khuyên can anh ta đừng làm thế. Cô ta sau đó đã tiết lộ với tôi rằng sở dĩ cô ta làm vậy là vì đang nghĩ cho tôi.

"Chị mà phán tội chồng, cũng đồng nghĩa với việc phán tội vợ." Cô ta nói, "Tôi đã bảo anh ấy như thế đấy."

Tôi đã thốt lên biết bao lời cảm ơn chân thành với cô ta, tôi nói với cô ta rằng tôi cảm thấy vô cùng áy náy vì đã để cô ta phải gánh chịu quá nhiều rủi ro lớn lao chỉ để cứu tôi và chồng tôi.

"Tôi có làm gì đâu, Gia Quốc cũng chẳng làm gì cả." Cô ta đáp, "Chị mau quên chuyện này đi cho rồi." Miệng cô ta thì nói vậy, nhưng tôi thừa biết trong lòng cô ta tuyệt đối sẽ không bao giờ quên. Và tôi cũng thế, cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn nợ cô ta một ân tình to lớn.

Dương nhiên, Hồ Lan chẳng hề hay biết bản thân thực ra đã làm những gì, cũng không biết lòng tốt mà cô ta ban phát cho tôi khiến tôi cảm thấy tiếc nuối đến nhường nào. Trong lòng tôi vô cùng bức bối khó chịu, nhưng lại ngậm đắng nuốt cay tỏ vẻ biết ơn. Chuyện này khiến tôi nhớ lại hồi còn nhỏ, vào ngày sinh nhật của tôi, mụ thím hỏi tôi thích con gà nào nhất trong sân, tôi liền chỉ tay chọn ngay con gà do chính tay mình nuôi dưỡng. Chiều hôm đó, mụ thím liền làm thịt nó nấu chín rồi dọn lên cho tôi ăn.

Dù thế nào đi nữa, tôi cũng chỉ đành hết lần này đến lần khác bày tỏ lòng biết ơn với Hồ Lan. Tôi bảo đầu bếp của mình nấu những món cô ta thích ăn, làm theo đúng cách thức cô ta ưa chuộng, đem rau củ hấp đến nhạt nhẽo vô vị. Hồ Lan chẳng nói gì cả, đây là điều hiển nhiên, chẳng cần phải bận tâm đến lời cảm ơn của tôi làm gì. Tôi sai người hầu dọn dẹp thật sạch sẽ phòng của vợ chồng Hồ Lan và Gia Quốc. Hồ Lan cũng chẳng nói câu nào. Vài ngày sau, tôi lại cho cô ta kha khá những sấp vải vóc đẹp đẽ, bảo rằng loại màu sắc này không hợp với làn da của tôi.

Đương nhiên, đây chẳng phải lời thật lòng, tôi cố tình lựa chọn loại vải này đấy chứ, bởi vì nó cực kỳ tôn da của tôi. Đây là một loại vải vô cùng đẹp đẽ, mang màu hồng đào, trong thời chiến cực kỳ khó kiếm và đắt cắt cổ.

"Tôi mặc màu này không đẹp lắm đâu." Hồ Lan nhíu mày, nhưng mấy ngón tay đã nhanh nhẹn xoa xoa sấp vải.

"Cầm lấy đi, cầm lấy đi," tôi nói, "Tôi chẳng có thời gian rảnh rỗi để may vá, dạo này tôi còn phải bận chăm lo cho chồng."

Thế là Hồ Lan cũng chẳng khách sáo từ chối nữa, cầm lấy xấp vải rồi rời đi. Cô ta thừa biết cuộc hôn nhân của tôi bất hạnh đến nhường nào, thế mà vẫn mặc nhiên để tôi dùng một tấm vải đẹp đẽ để che đậy nó đi.

Lúc chồng tôi được đón về nhà, tôi đã chuẩn bị sẵn một căn phòng riêng biệt dành cho anh ta. Sức khỏe của anh ta vẫn còn rất yếu, chưa thể tự ngồi dậy được, thế nên tôi lại phải lặn lội thuê riêng một y tá đến chăm sóc cho anh ta, thay băng gạc, đút cơm nước, và lắng nghe những lời làu bàu cáu bẳn của anh ta. Cô gái này ở lại đúng một ngày rồi cuốn gói ra đi. Cô y tá thứ hai chắc trụ được tầm hai ngày. Cuối cùng chẳng còn cách nào khác, tôi đành phải tự mình lăn xả ra chăm sóc anh ta.

Gia Quốc và Hồ Lan tất nhiên ngày nào cũng ghé sang thăm hỏi, bởi vì họ và chúng tôi cùng sống chung một tòa nhà. Có một hôm, ba gã phi công tới chơi. Tôi dẫn họ vào phòng của Văn Phúc, bọn họ tôn sùng anh ta như một vị anh hùng cái thế vậy. Họ nói rằng, chỉ cần Văn Phúc tái xuất bầu trời xanh thẳm, Trung Quốc chắc chắn sẽ lập tức giành chiến thắng trong cuộc chiến tranh này, và dăm ba câu xã giao đại loại như thế.

Nhưng trong lòng ai nấy đều thừa hiểu, Văn Phúc vĩnh viễn không thể nào bay lượn trên bầu trời xanh được nữa, anh ta chỉ còn lại một con mắt thì lái máy bay kiểu gì nổi? Thế nhưng đám phi công vẫn cứ thốt ra những lời hào phóng mang tính khích lệ ấy, và Văn Phúc cũng rất thích được nghe những lời lẽ như vậy.

Họ đều tốt bụng biết bao, tôi cất lời mời họ ở lại dùng bữa tối, thầm nghĩ chắc chắn Văn Phúc cũng sẽ muốn tôi nói thế. Hắn ta luôn thích thể hiện sự hào phóng của mình với các đồng nghiệp phi công theo cách này. Thực tế đúng là như vậy, Văn Phúc thực sự đã lên tiếng: "Ở lại đi, xin hãy ở lại nhé. Vợ tôi nấu ăn rất ngon đấy." Tôi thầm nghĩ, có lẽ anh ta đang nhớ lại khoảnh khắc tôi làm một nghìn cái sủi cảo ở Dương Châu năm nào. Đám phi công lập tức vui vẻ nhận lời. Thế là tôi lật đật chạy xuống lầu dặn dò đầu bếp ra phố mua chút thịt gà tươi vừa mới mổ xong.

Sau bữa tối, nhóm phi công, Hồ Lan, Gia Quốc và tôi tiếp tục ngồi quanh bàn trà trò chuyện rôm rả, người hầu bước vào dọn dẹp bàn ghế. Ban đầu bầu không khí tương đối yên ắng, vì sợ đánh thức Văn Phúc. Tôi vẫn nhớ chúng tôi đã dùng giọng điệu nghiêm túc để bàn luận về chiến tranh, vâng, chúng tôi tin tưởng rằng, chỉ cần có thêm nhiều nguồn vật tư viện trợ hơn nữa, Trung Quốc nhất định sẽ giành được thắng lợi.

Một phi công cho biết anh ta nghe nói Trung Quốc đã ký kết một hợp đồng mua máy bay quân sự do Mỹ sản xuất, số lượng hình như lên tới một nghìn chiếc, được vận chuyển từ Ấn Độ sang, dư sức để đối phó với lũ lùn Nhật Bản rồi. Người khác lại bảo, khắp nơi trên đất Trung Quốc đang xây dựng các nhà máy chế tạo máy bay, nói không chừng Côn Minh sẽ có ngay một nhà máy trong thời gian sớm thôi. Tất cả chúng tôi đều cho rằng đây là một chuyện tốt, sản xuất máy bay ngay tại Trung Quốc mới có thể đảm bảo chất lượng, không bị trục trặc mãi như mấy loại máy bay kiểu cũ của Nga hay kiểu mới của Ý. Đồ do Trung Quốc chế tạo là tốt nhất, dù là máy bay ném bom hay máy bay chiến đấu đều có tốc độ bay cực nhanh, hơn nữa lại có thể cất cánh bay lượn trong mọi điều kiện thời tiết.

Nhưng chúng tôi đều biết rõ những lời này chẳng qua chỉ nói cho sang miệng, là những câu chuyện nhai đi nhai lại nhàm chán mà thôi. Thế nên chỉ một lát sau, chúng tôi lại bắt đầu hoài niệm về những ngôi làng mà mình từng đi qua dọc đường, những câu chuyện đủ mọi thể loại diễn ra ở những chốn đó, bầu không khí trò chuyện dần trở nên vui vẻ trở lại. Rồi chúng tôi bắt đầu cất tiếng hát. Chúng tôi luân phiên nhau ngân nga những khúc điệu dân gian ngớ ngẩn mà người ta thường hát trong những dịp uống rượu hoặc mừng lễ hội.

Có một anh phi công biết hát giọng giả thanh, nghe y hệt như giọng phụ nữ, thế là tất cả mọi người đều hùa nhau cất cao một khúc dâm tình ngớ ngẩn, vừa cười ha hả vừa ca hát rôm rả: "Vạn đám mây bay, ngàn cánh chim, ngàn cánh chim bay, trăm giọt lệ, đôi mắt tôi ngước nhìn bầu trời, chỉ thấy mỗi em, đôi mắt tôi —"

Đột nhiên, chúng tôi nghe thấy tiếng bước chân nặng nề, rồi — uỳnh — thứ gì đó rơi sập xuống. Tôi giật mình chồm phắt dậy khỏi ghế, liền trông thấy Văn Phúc, đầu quấn băng trắng toát, tay chống một chiếc gậy batoong. Sắc mặt anh ta tái xanh mét, mồ hôi vã ra đầm đìa, trông hệt như một con quỷ dữ. Hắn ta mặc một chiếc áo khoác quân dụng khoác hờ bên ngoài bộ đồ ngủ.

"Anh đang bệnh thì đừng có cử động!" Tôi thét lên, lao bổ tới định đỡ anh ta quay lại giường, Gia Quốc và những gã phi công khác cũng đồng loạt đứng phắt dậy.

Văn Phúc khua khoắng chiếc gậy batoong múa may quay cuồng trong không trung. "Sao cô dám hát bài này hả?" Hắn gầm lên thét ra lửa, "Tôi là một gã đàn ông tàn tật bệnh hoạn, còn cô là một ả đàn bà khỏe mạnh! Tôi là anh hùng, còn cô là con đĩ điếm! Đôi mắt cô toàn liếc đưa tình với những gã đàn ông khác!"

Tôi ngẩn người chẳng hiểu hắn đang sảng bậy bạ gì nữa. "Chắc anh lại gặp ác mộng rồi," tôi dịu giọng an ủi, "Anh đang nói sảng đấy. Quay về giường nằm nghỉ đi."

"+Đồ lừa đảo!+" Hắn gào lên, bước tới vài bước, dùng cây gậy đập phăng tất cả thức ăn thừa mứa trên bàn rơi rào rào xuống đất, "Tất cả là tại cô đấy. Quỳ sụp xuống đây cho tôi, dập đầu tạ tội, van xin tôi tha thứ mau. Quỳ xuống!" Hắn dùng gậy batoong đập liên hồi xuống mặt bàn đến nát bét.

Tôi ngước lên nhìn khuôn mặt của hắn. Con ngươi bên con mắt còn lành lặn bắn ra tia nhìn hung ác đằng đằng, hệt như một kẻ say rượu. Gương mặt hắn trở nên méo mó đáng sợ — tôi thực sự không thể hiểu nổi sao mình lại đi lấy một người đàn ông như thế này chứ? Sao lại để cho những chuyện quái gở này xảy ra cơ chứ?

Văn Phúc chắc hẳn đã nhìn thấu tận tâm can tôi qua con mắt hỏng huyết đó, bởi vì hắn ta lập tức lao bặm bổ đến trước mặt tôi, giáng thẳng cho tôi một bạt tai, ngay trước mặt bao nhiêu con người, giáng cho tôi một cái tát trời giáng. Tôi gần như nghẹt thở ngất lịm đi. Tôi hoàn toàn không cảm thấy đau đớn, chỉ thấy nhục nhã ê chề không biết giấu mặt đi đâu cho hết, hai gò má nóng bừng rát buốt. Tất cả mọi người đều trân trân nhìn vào, nhưng chẳng một ai dám lú đầu ra can ngăn.

"Quỳ xuống!" Hắn lại gầm lên một tiếng, giơ cao chiếc gậy batoong, đúng lúc ấy Hồ Lan lao bổ tới, ấn mạnh bả vai tôi xuống.

"Quỳ xuống đi, quỳ xuống đi." ả ta réo lên. Tôi không tài nào kìm chế được bản thân, đành khuỵu gối quỳ sụp xuống đất. "Nghe lời anh ấy một lần đi, nói một câu xin lỗi thì có mất mát gì đâu cơ chứ?"

Cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn khắc ghi cảnh tượng này: tất cả những gã đàn ông có mặt ở đó, cùng với cả Hồ Lan nữa — chẳng một ai đứng ra khuyên can lấy một lời. Bọn họ cứ trân trân trố mắt nhìn vầng trán tôi chạm sát xuống mặt sàn nhà. Bọn họ chẳng nói một câu nào, chẳng làm một hành động nào, mặc cho chồng tôi ra lệnh: "Xin lỗi đi, tôi sai rồi, cô mới là người đúng, xin hãy rộng lượng tha thứ cho tôi." Khi hắn ta hết lần này đến lần khác bắt tôi phải quỳ gối van xin sự xót thương của hắn, bọn họ không hề lên tiếng phản đối, không hề nói với Văn Phúc một câu rằng: "Thế là quá đủ rồi đấy."

Khi tôi dập đầu lạy lục, cất lời van xin sự tha thứ, nức nở đập đầu xuống nền nhà, trong lòng tôi thầm nghĩ, tại sao không một ai chịu ra tay giúp đỡ tôi vậy? Tại sao bọn họ đều đứng ngây ra đó, cứ làm như tôi thực sự là kẻ có tội tày đình vậy?

Ngày hôm nay tôi không oán trách những việc làm của Hồ Lan lúc bấy giờ nữa. Cô ta cũng giống như bao người khác, đã sợ hãi đến mất mật rồi. Thế nhưng tôi vẫn không tài nào quên nổi những gì cô ta đã làm, những gì những kẻ khác đã gây ra — tất cả đều sai trái, đều vô cùng nguy hiểm, chính nó đã nuôi dưỡng ngọn lửa khí thế của Văn Phúc, khiến hắn ta càng lúc càng trở nên phách lối ngông cuồng.

Thế nhưng ngày hôm nay nếu tôi đem chuyện cũ này ra ôn lại với cô ta, chắc chắn cô ta sẽ chẳng tài nào nhớ nổi nữa, hệt như việc cô ta không nhớ tấm vải màu hồng đào mà tôi từng tặng vậy. Mới dạo gần đây thôi, chúng tôi có ghé qua một khu chợ vải vóc, tôi bảo: "Này, tấm vải này trông rất giống tấm vải mà tôi từng tặng cô ở Trung Quốc đấy nhỉ?"

"Vải vóc gì cơ?" Cô ta ngẩn người hỏi.

"Chính là tấm vải đó đấy! Là tấm vải đó còn gì!" Màu hồng đào, có thêu những đóa hoa đỏ rực. Tôi gợi nhắc lại, "Tôi đã tặng nó cho cô đấy, bởi vì cô đã khuyên Gia Quốc đừng tống giam Văn Phúc. Cô thừa biết anh ta đã gây ra những chuyện gì, chiếc xe Jeep của anh ta đã đè chết cô gái tội nghiệp đó. Cô đã dùng tấm vải đó để may một chiếc áo sơ mi đấy thôi. Vào cái ngày tuyên bố đình chiến, cô đã phấn khích phát cuồng lên — nhớ ra chưa nào? — cô đã nhảy cẫng lên và xé toạc cả chiếc áo đó ra đấy."

Ây da, tấm vải đó à," cuối cùng cô ta cũng nhớ ra được, "Đâu phải do chị tặng đâu, là tự tôi bỏ tiền ra mua đấy chứ. Khu phố cổ có một cửa hàng vải sắp đóng cửa, thế là tôi mua lại tấm vải này từ tay một cô gái đang đứng bên chiếc bàn. Phải rồi, tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ như in đây này. Cô ta hét giá cao ngất ngưởng, chính một tay tôi đã kỳ kèo ép giá xuống đấy."

Cho nên bạn thấy đấy, có gì để mà đôi co tranh cãi với một kẻ có trí nhớ tồi tệ như Helen cơ chứ? Những gì cô ta cho là sự thật chỉ tồn tại trong một góc lú lẫn mờ mịt nào đó trong đầu cô ta mà thôi, cô ta chỉ sẵn lòng tin vào tất cả những điều tốt đẹp trên đời.

Thỉnh thoảng tôi cũng thực sự cảm thấy ganh tỵ với cô ta. Thỉnh thoảng tôi lại ước gì bản thân chưa từng tặng cô ta tấm vải ngày ấy.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Đàm Ân Mỹ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.