Thê Tử Của Táo Thần

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 2
Tang Lễ Của Dì Ghẻ Đỗ

❊ ❊ ❊

Cách đây hai tiếng, mẹ tôi và mợ Helen đã ra ngoài trước để đến nhà tang lễ lo việc trang trí. Vì Tasha và Cleo cãi nhau rồi ném trứng vào chiếc áo sơ mi và cà vạt lành lặn duy nhất của Phil, nên lúc này Phil và tôi đành phải đi dự tang lễ của dì Đỗ muộn một chút. Khi chúng tôi dọc theo đại lộ Clement để tìm mua quần áo thay thế, Phil nói rằng chúng ta không nên dẫn lũ trẻ đến đám tang.

"Chúng sẽ làm hỏng chuyện mất," anh ấy nói, "hơn nữa, có lẽ chúng không thích nhìn thấy người chết."

Tasha nhe răng cười khúc khích, dùng giọng điệu đều đều nói: "Bố đang nói một từ hư đốn."

"Hay là anh cứ dẫn tụi nhỏ ở trong xe không vào nữa vậy." Phil nói.

"Tụi nó sẽ ổn thôi," tôi bảo anh ấy, "Em đã hỏi mẹ tôi xem quan tài có đậy nắp không, mẹ nói là có. Em cũng đã giải thích với lũ trẻ rồi, lần này cũng giống như lần trước chúng ta dự đám cưới của Stephen và Johnny vậy—phải cư xử như người lớn. Phải không mấy đứa?"

"Hôm đó chúng con còn được ăn bánh kem nữa." Cleo nói.

"Được rồi," Phil nói, "Nhưng tang lễ vừa kết thúc là chúng ta phải tìm cớ chuồn về nhà ngay lập tức đấy."

"Đương nhiên rồi."

Hai giờ hai mươi phút, bốn người chúng tôi bước vào đại sảnh nhà tang lễ. Người em họ Frank của tôi phát cho mỗi người chúng tôi một dải băng đen. Khi tôi cài dải băng đen lên cánh tay, tôi cảm thấy hơi tội lỗi vì sự đau buồn giả tạo này. Phải đến tận lúc này tôi mới nhận ra mình gần như chẳng biết gì về dì Đỗ, chỉ nhớ mang mang dì toàn mùi băng phiến, lúc nào cũng lấy từ trong chiếc hộp sắt rỉ sét chất đống trên đỉnh tủ lạnh ra những viên kẹo Trung Quốc cũ kỹ cùng thịt bò khô có vị ngọt để nhét vào miệng tôi.

Bảo Bảo cũng ở đó đón tiếp chúng tôi. Cậu ta cười ha hả nói: "Hai, mừng quá, cuối cùng mấy người cũng quyết định đến đấy chứ." Cậu ta nhét vào tay mỗi người chúng tôi một viên kẹo gói giấy bạc và một phong bao lì xì đựng tiền mừng tuổi.

"Chúng ta phải làm gì với mấy thứ này đây?" Phil thì thầm bên tai tôi, "Mang chúng tặng dì Đỗ nhé?" Cậu ta rút một đồng xu hai lăm xu từ trong phong bao lì xì ra.

"Làm sao tôi biết được?" Tôi cũng nhỏ giọng đáp, "Tôi chưa từng tham dự tang lễ theo Phật giáo, hay nhìn thấy khung cảnh nào đại loại thế này bao giờ."

"Mẹ tôi bảo, cái này giống như bảo hiểm đề phòng trường hợp anh chọn nhầm một cái đàn điện tử hỏng ở đây vậy," Bảo Bảo nói, "anh ăn viên kẹo này thì sẽ có vận may, dùng số tiền này thì có thể mua được nhiều vận may hơn nữa."

"Em muốn ăn phần của em ngay bây giờ cơ." Tasha nói.

Cleo lắc lắc viên kẹo giục tôi bóc vỏ giúp con bé: "Mẹ ơi, con cũng muốn, con cũng muốn!"

Phil búng ngón tay vào đồng xu của mình: "Nói vậy, nếu tôi dùng số tiền này mua kẹo cao su để nhai, thì vận may của tôi có kéo dài hơn chút nào không?"

Chúng tôi rẽ vào đại sảnh chính, bất ngờ bị ánh đèn sân khấu chói lọi chiếu đến mức không mở nổi mắt. Tôi kinh ngạc nhìn Tasha trông giống như một cô dâu thích làm hàng, đang làm bộ làm tịch bước xuống hành lang, còn Cleo thì đắc ý hệt như một ngôi sao điện ảnh, liên tục tung nụ hôn gió khắp nơi. Tôi suýt không tin vào mắt mình: Cậu Henry đang đứng ở giữa hành lang để quay phim cảnh tang lễ! Sau này còn ai xem mấy cuộn băng ghi hình này nữa chứ?

Xuyên qua làn khói thuốc mịt mù, tôi mãi mới nhìn thấy mẹ tôi, bà đang vẫy tay ra hiệu cho chúng tôi qua ngồi cùng hàng ghế thứ hai với bà. Phil đã túm được lũ trẻ. Ống kính máy quay vẫn không ngừng quay, chúng tôi nhanh chóng đi qua hành lang, lướt qua hơn chục người đến viếng—Mary, Đỗ và các con của họ, cùng vài người đến từ nhà thờ, tất cả đều là người Trung Quốc. Tôi còn thấy mấy bà cụ trước đây chưa từng gặp mặt, nhìn mái tóc ngắn chưa nhuộm và chiếc áo khoác bông màu nâu lỗi mốt của họ, có vẻ như họ vừa mới di cư tới đây.

Chúng tôi rón rén ngồi vào chỗ của mình, mợ Helen quay đầu lại từ hàng ghế phía trước, mợ siết chặt tay tôi, tôi nhận thấy trong mắt mợ rưng rưng ngấn lệ. Khóe mắt mẹ tôi thì khô khốc.

"Sao lại đến muộn thế?" Bà không vui hỏi, "Mẹ đã bảo họ cứ đợi các con đến rồi mới bắt đầu cơ mà."

Đột nhiên, Cleo lớn tiếng cười vang, vừa chỉ trỏ vừa nói: "Bố ơi, nhìn kìa, có một bà cụ đang ngủ kìa! Bát cơm của bà ấy bốc cháy rồi!" Tasha cũng trừng trừng nhìn theo, đôi mắt mở to, miệng cũng há hốc.

Lúc này tôi mới nhìn thấy—Chúa ơi! Dì Đỗ nằm trong quan tài, trên khuôn mặt được trét sáp vô cảm đeo một cặp kính, phía trước quan tài là một chiếc bàn dài và thấp, trên đó chất đống thức ăn—trông giống như một bữa tiệc Trung Hoa chín món, ngoài ra còn có xoài, cam và dưa hấu cắt lát cùng đủ loại hoa quả bánh trái khác. Chắc chắn đây là những món ăn được chuẩn bị để dì Đỗ thưởng thức trên con đường đi về cõi vĩnh hằng đầy gian nan sắp tới. Xung quanh chiếc quan tài—cái bậc thang vĩnh cửu dẫn tới kiếp sau, khói của hơn chục nén hương lượn lờ bay lên, mãi không tan.

Phil trừng mắt nhìn tôi, chờ đợi tôi đưa ra lời giải thích. "Chắc chắn là nhầm lẫn rồi." Tôi thì thầm bên tai anh ấy, sau đó quay sang mẹ tôi, cố gắng giữ cho giọng mình bình tĩnh nhất có thể. "Con tưởng mẹ quyết định đậy nắp quan tài cơ mà." Tôi chậm rãi nói.

Bà gật đầu: "Con thích không? Còn quần áo thì mẹ đã mua cho dì bộ hoàn toàn mới rồi. Còn quan tài thì đành phải dùng loại này thôi. Dù chất liệu không phải là tốt nhất, nhưng thế cũng đủ tốt rồi. Đương nhiên, trước khi hạ táng, chúng ta sẽ tháo hết đồ trang sức ra."

"Nhưng con nhớ mẹ nói là quan tài sẽ đậy nắp lại cơ mà."

Mẹ tôi nhíu mày: "Mẹ không nói thế. Bằng không thì sao con nhìn thấy dì được chứ?"

"Nhưng—"

"Chúng ta nhất định phải ăn cơm ở đây sao?" Tasha sợ hãi hỏi, vừa bất an vừa rụt người lại dưới ghế. "Con không đói." Con bé thấp giọng nói. Tôi siết chặt tay nó.

Cleo gọi lớn: "Đánh thức bà này dậy đi, bảo bà ấy không được ngủ gục trên bàn ăn. Như thế là không ngoan đâu."

Tasha vỗ vỗ đùi Cleo: "Im lặng đi Cleo, bà ấy không phải đang ngủ đâu, bà ấy chết rồi, giống như con mèo Portia ấy."

Đường viền môi dưới của Cleo trề xuống, trông vô cùng đáng sợ. "Đừng nói mấy chuyện này với tớ!" Con bé hét lên, rồi đẩy vai Tasha. Tôi đang định nói gì đó để dỗ dành lũ trẻ thì đã quá muộn rồi. Chúng bắt đầu xô đẩy lẫn nhau, vừa la vừa hét: "Dừng lại!" "Cậu dừng trước đi!" "Cậu động tay trước cơ mà!" Mẹ tôi nhìn cảnh tượng này, đứng chờ xem tôi xử lý thế nào. Nhưng tôi cảm thấy toàn thân mềm nhũn như tê liệt, hoàn toàn lực bất tòng tâm, chẳng biết phải làm sao mới phải.

Phil đứng dậy, dắt hai đứa trẻ ra ngoài: "Anh dẫn chúng đi tiệm kem Columbus mua chút kem, một tiếng sau sẽ quay lại."

"Bốn mươi lăm phút là đủ rồi." Tôi nhỏ giọng nói, "Đừng quá giờ nhé, em đợi anh ở cửa chính."

"Bố ơi, con được ăn kem sô-cô-la không?"

"Trên rắc thêm chút hạt dẻ cười nữa nhé?" Tasha nói thêm.

Tôi thở phào một hơi, nghĩ đến cảnh bọn chúng quay về chắc chắn sẽ là một bãi chiến trường lộn xộn, chẳng còn chút cảm giác thèm ăn nào mà tay chân lại còn dính nhem nhuốc. Ở đầu bên kia hàng ghế, con trai của Mary là Michelle đang làm mặt quỷ, tôi lườm cậu ta một cái, rồi phát hiện ra cậu Henry vẫn đang vác máy quay đi tới đi lui.

Sau khi Phil và lũ trẻ rời đi, tôi cố gắng lấy lại bình tĩnh, mắt nhìn thẳng về phía trước, tránh ánh mắt của mẹ tôi và cậu Henry. Tôi tự nhủ, cãi nhau cũng chẳng ích gì, chuyện gì xảy ra thì cứ để nó xảy ra đi.

Phía trước hàng ghế treo một bức ảnh rất lớn của dì Đỗ, trông có vẻ như được phóng to từ bức ảnh hộ chiếu chụp cách đây năm mươi năm. Người trong ảnh không thể nói là còn trẻ, nhưng phần lớn răng chắc chắn vẫn còn nguyên vẹn vào thời điểm đó. Tôi nhìn dì Đỗ đang nằm trong quan tài, miệng dì hóp lại, khuôn mặt gầy gò hệt như một con chim chết. Dì trông vô cùng bình thản, nhưng tôi có cảm giác tất cả mọi người đang chờ đợi điều gì đó xảy ra, bởi vì dì Đỗ sẽ đột ngột đầu thai chuyển thế, biến thành hồn ma hiện về.

Điều này làm tôi nhớ đến một chuyện hồi xưa, khi tôi mới chỉ lên năm, cái tuổi mà bất cứ chuyện gì bạn tưởng tượng ra cũng đều có thể xảy ra. Tôi chằm chằm nhìn vào đôi mắt nhấp nháy của một con quái vật được khắc từ quả bí ngô, chờ đợi yêu ma bay ra ngoài. Tôi càng đợi lâu thì càng tin chắc chuyện đó sẽ xảy ra. Cho đến tận ngày hôm nay, tôi vẫn có thể nhớ như in cảnh tượng con ác quỷ nhe nhởn cười bay ra khỏi cái miệng bí ngô, tôi sợ hãi hét toáng lên, mẹ tôi lao vào phòng, tôi lúng búng nói rằng mình nhìn thấy hồn ma. Nhưng mẹ tôi không hề an an ủi ủi tôi, cũng không chế nhạo rằng tất cả chỉ là do tôi tưởng tượng ra, ngược lại còn hỏi: "Ở đâu?" rồi lục lọi khắp phòng.

Đương nhiên, sau đó bố tôi nói với tôi rằng, hồn ma duy nhất tồn tại là Thánh Linh, mà Thánh Linh thì tuyệt đối không bao giờ đến dọa tôi cả. Sau đó ông lại dùng phương pháp khoa học để chứng minh cho tôi thấy, cái tôi nhìn thấy chẳng qua chỉ là ảo giác do làn khói tạo ra khi ngọn nến bên trong quả bí ngô sắp cháy hết mà thôi. Câu trả lời của ông chẳng thể khiến tôi dễ chịu hơn chút nào, bởi vì lúc đó mẹ tôi đang trừng trừng nhìn tôi, cứ như thể tôi đã phản bội bà, khiến bà trở thành một kẻ ngốc vậy. Toàn bộ sự việc là thế đấy. Bà luôn muốn áp chế những niềm tin không tương thích với đạo Thiên Chúa của bố tôi, mặc dù vậy, đôi khi chúng vẫn cứ bất ngờ nhảy xổ ra ngoài.

"Sủi cảo, mẹ đã làm xong rồi đấy," lúc này mẹ tôi đang nói chuyện với tôi, "Hồi trước dì Đỗ toàn bảo sủi cảo mẹ làm là ngon nhất." Tôi gật đầu, nhân tiện khen ngợi đĩa sủi cảo đang bốc nghi ngút khói trên chiếc bàn dài. Bà quả thực làm sủi cảo ngon nhất, chỉ tiếc là những chiếc sủi cảo này chỉ dùng để làm đồ cúng mà thôi.

"Mợ Helen làm món gà và mấy món có ớt," bà nói, thấy tôi gật đầu, bà lại nói thêm, "Trông có vẻ khô khốc." Tôi lại gật đầu một cái, không biết dì Đỗ có thích ăn những món ngon được làm ra để tưởng nhớ mình này không. Tôi đảo mắt nhìn lướt qua những lễ vật khác, thấy chiếc bánh kem được dọn xuống từ bữa tiệc tối qua cũng nằm trong số đó.

Trên bức tường phía trên quan tài dán một băng rôn bằng giấy trắng dày dài đến mười thước, trên đó viết những chữ Hán màu đen rất lớn, kết thúc bằng một dấu chấm than, giống như khẩu hiệu chính trị mà tôi từng nhìn thấy trên một tờ họa báo ở Trung Quốc một lần.

"Trên đó viết gì thế ạ?" Tôi khẽ hỏi mẹ.

"'Chúc vạn thọ phú quý ở kiếp sau', chẳng có gì đặc biệt cả." Mẹ tôi đáp, "Không phải mẹ viết đâu. Là họ hàng nhà họ Khúc tặng, nói không chừng Helen còn cho họ tiền ấy chứ."

Tôi nhìn thấy tất cả các vòng hoa đều đã được bày lên. Tôi tìm vòng hoa của mình, đang định hỏi mẹ nó được đặt ở đâu thì chợt thấy cậu Henry lại xoay ống kính hướng về phía này, bắt đầu quay dì Đỗ đang nằm ở giữa, cậu ta vẫy vẫy tay về phía người nào đó bên trái.

Một lúc sau, tôi nghe thấy tiếng gõ cộp cộp rỗng tuếch của gỗ, kèm theo tiếng "đinh-đinh-đinh" liên hồi không dứt, giống như có ai đó thiếu kiên nhẫn bấm chuông gọi phục vụ ở hành lang vậy. Những âm thanh này còn hòa lẫn với giọng nói của hai người, miệng lẩm bẩm đọc chú, có vẻ như đều là bốn âm tiết, lặp đi lặp lại hết lần này đến lần khác, tôi dám cá là cuộn băng ghi âm nào đó bị kẹt rồi.

Lúc này, từ một căn phòng nhỏ bên trái bước ra hai nhà sư, đầu đều cạo trọc, mặc cà sa màu cam. Nhà sư lớn tuổi hơn và cao to hơn thắp một nén nhương rất dài, cúi lạy thi hài ba cái, sau đó cắm nén hương vào lư hương rồi lùi sang một bên; nhà sư nhỏ tuổi hơn thì gõ mõ, sau đó cả hai người bắt đầu chậm rãi đi từ hành lang xuống, miệng niệm: "A-di-đà-phật, A-di-đà-phật." Khi vị đại sư đi ngang qua người tôi, tôi nhìn thấy một bên mặt của ông ta phẳng một cách kỳ lạ, và cái tai ở cùng bên đó cũng bị biến dạng nghiêm trọng.

"Ông ấy chắc chắn đã gặp tai nạn xe hơi nghiêm trọng rồi." Tôi thì thầm với mẹ tôi.

"Cách mạng Văn hóa." Bà nói.

Vị tiểu hòa thượng kia, lúc này tôi cũng nhìn rõ rồi, hoàn toàn không phải là nhà sư, mà là một người phụ nữ, một ni cô, trên đỉnh đầu có ba bốn vết sẹo nhỏ do thọ giới để lại.

"Cô ấy chắc chắn cũng từng trải qua 'Cách mạng Văn hóa'." Tôi nói với mẹ.

Mẹ tôi nhìn thoáng qua, đoán chừng: "Cô ta còn trẻ thế này cơ mà, chắc là bị bọ chét cắn thôi."

"A-di-đà-phật, A-di-đà-phật." Họ niệm. Lúc này, đám bà cụ mặc áo khoác bông lỗi mốt kia bắt đầu oà khóc nức nở, vừa dùng tay đấm thùm thụp lên không trung như thể đau buồn lắm vậy, cậu Henry vội vàng chĩa ống kính về phía họ.

"Họ là bạn của dì Đỗ ạ?" Tôi hỏi mẹ.

Bà nhíu mày. "Không phải bạn, nói không chừng là người Trung Quốc vượt biên từ Việt Nam sang. Họ đến từ sớm, sau đó thấy người đến viếng dì Đỗ bên mình ít quá nên đã nói với mợ Helen, mợ ấy liền cho họ vài đô-la. Họ đang khóc lóc thảm thiết theo lUật cũ đấy, cứ như thể họ không muốn người chết rời đi vậy, cho nên con phải tỏ ra cung kính vào đấy."

Tôi gật đầu. Cung kính.

"Mấy bà cụ này nói không chừng mỗi ngày phải chạy sô ba bốn cái đám tang ấy chứ," mẹ tôi nói thêm, "kiếm được vài đô-la thế này cũng sống khá giả chán, còn hơn là đi dọn nhà thuê cho người ta."

"Vâng." Tôi đáp. Tôi không biết mẹ tôi nói câu này là mang vẻ khinh miệt hay chỉ đơn thuần là nói lên một sự thật.

Tiếng mõ và tiếng chuông lại vang lên, ngày càng dồn dập. Đột nhiên, bức băng rôn giấy trắng trên tường rơi phịch xuống, câu chúc phúc sống lâu may mắn trên băng rôn lượn lờ rơi xuống, vừa vặn phủ lên ngực dì Đỗ, trông hệt như một lá cờ đẹp trong hội thi vậy. Mẹ tôi và mấy bà cụ khác đều dậm chân khóc lớn: "Ôi chao!" Con trai của Mary hét lên: "H hạ cánh hoàn hảo!" rồi cười phá lên đầy vẻ cuồng loạn. Vị sư thầy và ni cô kia vẫn điềm nhiên tự chủ tụng kinh của mình. Nhưng mẹ tôi thì vô cùng tức giận: "Tệ quá đi mất!" Bà lầm bầm lẩm bầm, đứng dậy bước ra khỏi phòng.

Một lát sau, bà quay trở lại, đi theo sau là một thanh niên người da trắng trẻ tuổi, tóc vàng hoe lơ thơ, mặc comple đen, chắc chắn là người của nhà tang lễ. Có thể thấy mẹ tôi đang quở trách cậu ta, bởi vì bà cứ chỉ tay vào bức băng rôn bị rách. Tiếng bàn tán xôn xao trong phòng vang lên một mảng, mấy bà cụ kia vẫn đang làm bộ làm tịch khóc lóc, đấm ngực dậm chân; sư thầy và ni cô thì vẫn mặc kệ tiếp tục tụng kinh.

Chàng trai tóc vàng nhanh chóng bước lên phía trước, mẹ tôi sát nút theo sau, cậu ta cúi lạy thi hài dì Đỗ ba cái, sau đó dịch chuyển chiếc quan tài của dì, phía dưới quan tài có lắp bánh xe đẩy nên trượt về phía trước rất nhẹ nhàng. Tiếp đó cậu ta lại cúi lạy một cái, vô cùng trang nghiêm kéo tấm băng rôn trên ngực dì Đỗ xuống, kẹp gọn vào giữa hai tay như thể nó là áo cà sa vậy. Khi cậu ta dán lại bức băng rôn lên tường, mẹ tôi vẫn giận dữ không thôi: "Góc này này, xích qua một chút nữa! Xích qua một chút nữa! Sao cậu lại để vận may của dì ấy rơi xuống thế hả!"

Làm xong xuôi, chàng trai kia đẩy quan tài trở về vị trí ban đầu, rồi lại cúi lạy thi hài ba cái, cúi lạy người mẹ vẫn đang hầm hầm tức giận quay đầu lại của tôi, sau đó chuồn thẳng một mạch. Tôi không biết cái cúi lạy của cậu ta là biểu hiện thành tâm bày tỏ lòng kính trọng đối với người đã khuất, hay chỉ là vì khách hàng của mình—những người đến viếng là người Trung Quốc, nên đành phải làm theo mẫu mà hành sự?

Frank bắt đầu phát cho mỗi người một nén hương đã được thắp sáng. Tôi nhìn xung quanh, muốn tìm hiểu xem phải làm gì với nó. Mọi người lần lượt đứng dậy, đi theo sư thầy ni cô niệm: "A-di-đà-phật, A-di-đà-phật!"

Chúng tôi đi vòng quanh quan tài hết vòng này đến vòng khác, không biết đã đi bao lâu. Tôi cảm thấy hơi ngớ ngẩn khi tham gia vào một nghi lễ chẳng có chút ý nghĩa gì đối với mình. Điều này làm tôi nhớ đến lần tôi và mấy người bạn đến trung tâm Thiền tông, lúc đó chỉ có mình tôi mang gương mặt của người châu Á, cũng chỉ có mình tôi là cảm thấy mất kiên nhẫn với việc đi vòng tròn, lúc nào cũng nghĩ không biết khi nào sư thầy mới tới, khi nào thì buổi giảng kinh mới bắt đầu. Nhưng tôi lại không biết rằng trước khi tôi đến, tất cả những người khác đã ngồi đợi trong yên lặng suốt hai mươi phút và đang bước vào trạng thái thiền định rồi.

Mẹ tôi lúc này đang cúi lạy dì Đỗ, bà cắm nén hương vào lư hương, sau đó nhẹ nhàng lẩm bẩm: "Ôi! Ôi!" Những người khác cũng làm theo y như vậy, có người bật khóc, mấy bà cụ người Việt Nam kia thì cất tiếng kêu la thảm thiết. Giờ đến lượt tôi cúi lạy. Tôi cảm thấy hơi tội lỗi, cảm giác tội lỗi này trước đây tôi cũng từng có—khi bố tôi làm lễ rửa tội cho tôi, tôi không tin mình có thể được cứu rỗi, khi tôi nâng chén thánh lên, tôi không tin rượu vang chính là máu của Chúa Ki-tô, khi tôi cùng những người khác cầu nguyện xin phép màu chữa khỏi bệnh cho bố tôi, tôi có cảm giác ông đã chết từ lâu lắm rồi.

Đột nhiên, cổ họng tôi nghẹn đắng lại một tiếng, khiến tất cả mọi người xung quanh giật mình thon thót, ngay cả bản thân tôi cũng vô cùng kinh ngạc. Tôi vội vã muốn kìm nén lại, nhưng tất cả đều sụp đổ, trái tim tôi vỡ vụn, nỗi bi phẫn trào dâng mãnh liệt, tôi chẳng thể ngăn cản nó lại được nữa.

Khóe mắt mẹ tôi cũng ươn ướt, bà mỉm cười nhìn tôi qua làn nước mắt. Bà biết rằng nỗi đau buồn này không phải dành cho dì Đỗ, mà là dành cho bố tôi. Bởi vì để có được tiếng khóc này, bà đã đợi rất lâu rất lâu, tính từ ngày tang lễ của bố tôi, tròn trĩnh hai mươi lăm năm.

Năm đó tôi mười bốn tuổi, ngập tràn sự phẫn nộ đầy tính hoài nghi đời sống. Tôi cùng mẹ và em trai ngồi trong phòng khách, chờ đợi nghi lễ cầu nguyện sẽ bắt đầu sau nửa tiếng nữa. Mẹ tôi đang trách mắng tôi, bởi vì tôi cự tuyệt đi đến bên quan tài để nhìn thi hài bố tôi lần cuối.

"Samuel đã nói lời tạm biệt rồi, Samuel đang khóc kìa." Bà nói.

Tôi không muốn tưởng niệm người đàn ông đang nằm trong chiếc quan tài kia, người bệnh nhân đã gầy gò biến dạng đến mức chẳng còn ra hình người ấy, ông rên rỉ, suy yếu bất lực, cho đến tận lúc lâm chung vẫn dùng ánh mắt đáng sợ tìm kiếm mẹ tôi. Ông chẳng giống bố tôi chút nào cả: Bố tôi vô cùng cuốn hút, cường tráng, nhân hậu, lúc nào cũng hào phóng, tiếng cười rộn rã, bất kể xảy ra chuyện gì ông cũng đều giải quyết vô cùng ổn thỏa. Trong mắt bố tôi, tôi hoàn toàn hoàn hảo, chính là "viên ngọc trai" của ông, thế mà tôi và mẹ tôi lúc nào cũng cãi vã không ngừng.

Mẹ tôi sụt sịt hắt hơi một cái: "Con cái kiểu gì thế này, đứng trước mặt bố ruột mà đến một giọt nước mắt cũng không khóc nổi sao?"

"Người đàn ông đang nằm ở đây không phải bố tôi." Tôi sầm mặt nói.

Mẹ tôi vừa nghe thấy câu này liền nhảy dựng lên, tát tôi một cú giáng trời. "Đồ tồi tệ!" Bà hét lên. Tôi chết sững, đây là lần đầu tiên bà ra tay đánh tôi.

Mày không khóc được chứ gì, tao dạy cho mày khóc." Bà tát tôi hết cái này đến cái khác. "Khóc đi! Khóc đi!" Bà gào thét như phát điên. Nhưng tôi vẫn ngồi ì ra đó như một khối đá.

Cuối cùng, mẹ tôi ý thức được mình vừa làm gì, cắn lên mu bàn tay, lầm bầm vài câu tiếng Trung, sau đó dắt tay em trai tôi, bỏ mặc tôi mà đi.

Thế là tôi cứ ngồi lì một mình ở đó, trong lòng hầm hầm tức giận, đồng thời lại có một thứ cảm giác đắc thắng, dù chẳng biết rốt cuộc mình đã chiến thắng cái gì. Có lẽ vì không biết nên tôi thấy mình đang bước về phía quan tài. Tôi thở hổn hển tự nhủ rằng mình đúng, người sai là bà. Tôi hạ quyết tâm không khóc, mà chưa từng nghĩ bản thân sẽ có cảm giác gì.

Nhưng đúng lúc này, tôi nhìn thấy ông, sắc mặt tái nhợt, gầy gò yếu ớt. Ông không hề bình thản an nghỉ trong vòng tay Chúa, khuôn mặt ông vô cùng nghiêm nghị, như thể vẫn đang đấu tranh đau đớn trong cơn hấp hối.

Hơi thở của tôi dồn dập hẳn lên, tôi cố gắng lùi lại phía sau, cố nhịn không để bản thân khóc nấc lên, đến mức cảm thấy nghẹt thở. Tôi lao khỏi phòng, chạy ra ngoài, hít thở thật sâu không khí trong lành. Tôi hầm hầm tức giận, mặt đầm đìa nước mắt chạy lên đại lộ Columbus, cứ chạy thẳng ra tới vịnh, mặc kệ những du khách đang trân trân nhìn mình. Kết quả là tôi đã lỡ mất tang lễ.

Kể từ dạo đó, mối quan hệ giữa tôi và mẹ tôi vẫn luôn căng thẳng như vậy. Cả hai chúng tôi đều thắng, mà cũng đều thua. Cho đến nay tôi vẫn không thể chắc chắn rốt cuộc chúng tôi cãi nhau vì cái gì. Mẹ tôi không ngừng nhắc đến bố tôi, nhắc đến bi kịch của ông, nhưng chưa từng nhắc đến bản thân tang lễ. Cho đến tận hôm nay, tôi chưa từng khóc trước mặt mẹ, cũng chưa từng nhắc đến tình cảm của mình dành cho bố.

Ngược lại, tôi cố gắng hết sức để che giấu những hồi ức về ông đi—nụ cười của ông, chiếc áo khoác ông từng mặc, phong thái của ông khi đứng trên bục giảng v.v.. Nhưng lúc đó tôi không ngờ rằng những ký ức của mình chẳng qua chỉ là hình ảnh trên những bức ảnh chụp mà thôi. Thực ra, thứ tôi nhớ rõ nhất chính là những lúc ông đổ bệnh. "Viên ngọc trai," ông yếu ớt gọi tôi từ trên giường bệnh, "có muốn bố giúp làm bài tập về nhà không?" Tôi lắc đầu. "Viên ngọc trai," ông gọi tôi từ trên ghế sofa, "giúp bố ngồi dậy nào." Nhưng tôi làm bộ như không nghe thấy.

Cho đến tận hôm nay, tôi vẫn thường xuyên mơ thấy bố tôi. Trong giấc mơ của tôi, ông luôn trốn trong một bệnh viện có hàng trăm căn phòng, hàng trăm chiếc giường bệnh nằm đầy bệnh nhân. Tôi bước đi dọc theo những hành lang dài, tìm kiếm bóng dáng ông, trong quá trình này, chắc chắn tôi đã nhìn thấy từng gương mặt, từng loại bệnh trạng, phải chịu đựng mọi nỗi sợ hãi có thể xảy ra với cả thể xác lẫn tâm hồn. Mỗi một lần, người tôi nhìn thấy đều không phải là bố tôi, niềm tin của tôi sụp đổ.

Giấc mơ này còn có rất nhiều biến thể khác nhau. Thực ra, cách đây không lâu tôi vừa mới mơ một giấc, trong giấc mơ này, tôi đến bệnh viện để khám tổng quát, xem bệnh xơ cứng rải rác có tiến triển gì không. Một vị bác sĩ còn chưa giải thích gì đã đẩy tôi vào một phòng bệnh chuyên dành cho bệnh nhân đặc biệt nguy kịch, tôi hét lên: "Ông không thể đối xử với tôi như vậy được! Ông phải giải thích rõ ràng chứ!" Tôi hét hết lần này đến lần khác, hét mãi hét hoài, thế nhưng chẳng có ai thèm đếm xỉa đến.

Đúng lúc này tôi nhìn thấy ông, ông đang ngồi trên một chiếc giường bạt bẩn thỉu ngay trước mặt tôi, mặc một bộ đồ ngủ dính đầy bùn đất. Ông già quá, gầy quá, gầy đến mức lạnh cả người. Sau ngần ấy năm chờ đợi và bị ngơ ngơ ngác ngác phớt lờ, tóc ông đã điểm bạc. Tôi ngồi xuống bên cạnh ông, nhẹ nhàng gọi ông: "Bố ơi?" Ông ngẩng đôi mắt cô độc yếu ớt đang tìm kiếm ấy lên. Khi nhìn thấy tôi, ông bật khóc nức nở trong sự kinh ngạc—rồi ông khóc, khóc mãi, khóc một cách thật hạnh phúc!—cuối cùng tôi vui vẻ đưa ông về nhà.

Tang lễ của dì Đỗ cuối cùng cũng kết thúc. Tất cả chúng tôi đều đứng ở bên ngoài, gió ở vùng vịnh bắt đầu thổi mạnh, luồn lách vào những chiếc áo khoác mỏng manh của chúng tôi, váy vạt cũng bị thổi bay lật phật. Mắt tôi cay xè, cảm thấy toàn thân mệt mỏi rã rời.

Mẹ tôi lặng lẽ đứng bên cạnh tôi, chốc chốc lại liếc nhìn tôi một cái. Tôi hiểu bà muốn nói chuyện với tôi về chuyện vừa xảy ra, không phải về chuyện xui xẻo trong tang lễ, mà là về vấn đề tôi khóc.

"Vẫn ổn chứ?" Mẹ tôi nhẹ nhàng hỏi.

"Con không sao," tôi đáp, cố gắng tỏ ra bình thường hết sức có thể, "Phil và lũ trẻ chắc đến rồi đấy." Mẹ tôi rút một chiếc khăn tay từ trong tay áo len ra, không nói một lời đưa cho tôi, rồi chỉ vào mắt của chính mình, nhắc nhở tôi là mascara bị nhòe rồi.

Đúng lúc này, Bảo Bảo đi tới. "Mấy người ơi, chuyện này đúng là hơi quái dị thật," cậu ta nói, "nhưng tôi đoán, bà cụ chắc là muốn có một cái đám tang kiểu thế này đấy, bà ấy lúc nào cũng có chút gì đó gọi là..." Nói xong, cậu ta dùng ngón tay gõ gõ vào đầu mình hai cái.

Mẹ tôi nhíu mày: "Cái gì mà cái gì gọi là?"

Bảo Bảo cười cợt nhả nói: "Ý cô là, ừm, khác người, không tầm thường ấy mà—đúng là một bà cụ tuyệt vời!" Cậu ta nhìn tôi, nhún vai. Sau đó, trên mặt lộ ra vẻ mặt trút được gánh nặng, "Oa! Mimi ở trên xe rồi, sắp lái đi kìa, nhà cô có đi ra nghĩa trang không?"

Tôi lắc đầu. Mẹ tôi kinh ngạc nhìn tôi.

Bảo Bảo đi về phía một chiếc xe Camaro màu đen sáng bóng, Mimi đã chui vào trong để cậu ta lái xe. "Tôi không còn cách nào khác. Mẹ bắt tôi phải làm người khiêng quan tài." Cậu ta duỗi duỗi cánh tay. "Sở trường của tôi là thổi kèn đấy." Cậu ta vặn đài trên xe lên, nhún nhảy theo nhịp điệu bài hát. "Được rồi, rất vui được gặp lại cô, Pearl nhé. Hẹn gặp lại sau, dì nhé." Nói xong, chiếc xe con vù một tiếng phóng đi vút.

Lúc này tôi nghe thấy tiếng mợ Helen truyền đến từ phía sau. "Pearl! Pearl!" Mợ lật đật bước tới, vừa dùng khăn tay lau mắt vừa nói. "Mấy đứa có đi nghĩa trang không? Lát nữa qua nhà mợ nhé, nhà bếp tuyệt lắm, có rất nhiều đồ ăn ngon, bánh niên cao do mẹ cháu làm, gà do mợ làm nữa. Mary và Đỗ cũng ở đó đấy. Cháu đến nhé."

"Bọn cháu không đi được rồi. Ngày mai phải đi làm, phải lái xe đoạn đường xa lắm ạ."

"Ạ, mấy đứa nhỏ các cháu đấy," mợ vừa nói vừa dang hai tay ra, làm ra vẻ tiếc nuối vì chuyện tốt hỏng bét, "lúc nào cũng bận rộn như thế! Thôi được, khi nào rảnh thì sang thăm mợ ngay nhé, đừng đợi mợ mời. Cháu đến đi, chúng ta có thể trò chuyện."

"Vâng ạ." Tôi nói dối một câu.

"Wynnie à!" Mợ Helen lúc này cất cao giọng gọi mẹ tôi, mặc dù giữa họ chỉ cách nhau có năm thước. "Cậu đi nghĩa trang cùng bọn tớ đi, Henry đang lùi xe kìa."

"Pearl phải đưa tôi về nhà." Mẹ tôi đáp. Tôi đứng chôn chân tại chỗ, cố gắng tìm hiểu xem rốt cuộc tại sao lần nào bà cũng che chở cho tôi.

Mợ Helen bước đến bên mẹ tôi, vẻ mặt đầy lo lắng. Mợ nhanh chóng hỏi bằng tiếng Trung: "Không đi nữa à? Bệnh à?"

Tôi không thể nghe hiểu hoàn toàn tiếng Trung, chỉ nghe được ý đại khái. Hình như mẹ tôi đang nói, bà không muốn người khác phải bận tâm vì mình, không có chuyện gì đâu, chỉ là ở đây thấy hơi khó chịu một chút—bà chỉ chỉ ngực mình—bởi vì có chuyện gì đó cứ khiến bà phiền lòng mãi. Chuyện bà nói hình như chính là chuyện bức băng rôn rơi xuống, kể từ lúc xảy ra chuyện đó đến nay, toàn thân bà cứ đau nhức mãi không thôi.

Mợ Helen vỗ vỗ lưng mẹ tôi. Mợ bảo với mẹ tôi rằng, đợi khi cái gì đó bình tĩnh lại, không còn vo ve quay cuồng ở cái chỗ đó nữa, mợ sẽ sang thăm dì Đỗ. Sau đó mợ Helen cười nói với mẹ tôi rằng, dì Đỗ nhất định sẽ đợi bà, đương nhiên sẽ đợi bà đến thăm rồi, dì ấy chẳng còn sự lựa chọn nào khác đâu. Mẹ tôi đùa cợt đáp lại một câu, nói không chừng dì Đỗ vì chuyện xảy ra hôm nay mà tức điên lên rồi, đã sớm bay đi xó xỉnh nào đó rồi, chẳng thèm qua lại với một cái gia đình điên khùng thế này nữa đâu.

Họ cười lớn đến mức cuồng loạn, cười đến độ nước mắt cũng văng ra, thở không ra hơi. Mẹ tôi dùng tay che miệng, cười khúc khích không ngừng hệt như một nữ sinh trung học.

Cậu Henry đánh xe tới, lúc mợ Helen trèo lên xe còn không quên ra vẻ nghiêm túc nhắc nhở mẹ tôi phải uống nhiều trà nóng vào. Còi xe kêu lên hai tiếng, chiếc xe phóng đi.

"Mẹ không thấy khỏe ạ?" Tôi hỏi mẹ.

"Hả?"

"Mẹ vừa nói với mợ Helen là mẹ không thể đi nghĩa trang vì mẹ bị ốm cơ mà."

"Mẹ có nói bị ốm đâu. Mẹ chỉ nói không muốn đi thôi. Mẹ đã hoàn thành trách nhiệm của mình, đưa dì Đỗ lên thiên đường rồi. Giờ đến lượt mợ Helen của con làm tròn trách nhiệm, đưa dì ấy xuống mồ chứ."

Đó không phải là những gì họ vừa nói, mặc dù tôi không dám chắc mình có nghe hiểu phần lớn đoạn hội thoại của họ hay không, nhưng rõ ràng vẫn còn rất nhiều tình hình liên quan đến mẹ tôi và mợ Helen mà tôi vẫn chưa hề hay biết.

Chúng tôi đi xuyên qua cả thành phố để đến nơi ở của mẹ tôi. Phil nói: "Anh chỉ hy vọng kịp lên làn đường nhanh để về nhà trước khi dòng xe cộ giờ cao điểm kéo đến thôi."

Mẹ tôi cứ nói huyên thuyên không ngừng, bà kể cho tôi nghe chuyện Bảo Bảo sắp mất việc tới nơi rồi. Tin tức này bà nghe được ở bàn ăn từ cậu Louis, mà cậu ấy lại nghe được từ con trai mình. Bà còn kể cho tôi nghe chuyện Frank bây giờ đang làm bảo vệ, làm ca ngày, nhưng cậu ta khiến mợ Helen đau lòng chết đi được, bởi vì cậu ta nướng sạch toàn bộ thời gian rảnh rỗi và tiền bạc vào các sàn khiêu vũ ở đại phố Geary.

Khi đến gần căn nhà của bà, mẹ tôi chỉ vào siêu thị Lucky trên đại lộ Clement, đây là nơi bà thường xuyên lui tới để mua tạp hóa. Đây là một khu chợ điển hình kiểu châu Á, người ta đứng túm tụm ở bên ngoài mặc cả trả giá, trái cây và rau củ chất cao như núi, những bao gạo nặng cả trăm cân xếp chồng sát cửa sổ hệt như những tảng đá lớn vậy.

"Đậu phụ nhà mấy người bán thế nào?" Mẹ tôi hỏi. Có thể thấy rõ, bà rất muốn dùng mức giá hời ở đây để áp đảo tôi, nói cho tôi biết mua đồ ở chỗ bà có thể tiết kiệm được hai ba mươi xu đấy.

Nhưng tôi không thể dùng sự phỏng đoán để làm thỏa mãn bà được. "Con không biết. Con có bao giờ mua đậu phụ đâu."

"Ồ." Trông bà có vẻ vô cùng thất vọng. Một lát sau, bà lại nhớ ra điều gì đó: "Giấy vệ sinh loại bốn cuộn, bao nhiêu tiền?"

"Một đồng sáu mươi chín xu." Tôi đáp mà không cần suy nghĩ.

"Xem kìa!" Bà nói, "Ở chỗ mẹ chỉ có chín mươi chín xu thôi, mà lại là hàng hiệu nữa chứ. Lần tới mẹ mang cho con ít, quay đầu con trả tiền cho mẹ sau cũng được."

Chúng tôi rẽ trái vào đường số 8, phi thẳng đến phố Anza. Mợ Helen và cậu Henry sống ở khu phố tiếp theo, đường số 9. Những ngôi nhà ở khu này trông đều y hệt một khuôn đúc, đều là những căn nhà hai tầng được xây dựng từ những năm hai mươi, điểm khác biệt duy nhất chỉ là màu sơn, cùng với việc có dùng xi măng cát sần, mái ngói sợi amiăng hay đá hoa cương nhân tạo hay không. Phil cứ thế lái xe thẳng vào đường lái xe của mẹ tôi. Mặt tiền nhà bà được sơn màu hồng phấn, đây là kết quả bất hạnh sau khi bà đạt được một thỏa thuận đặc biệt với một khách hàng cũ, cũng là một nhà thầu sơn. Do bức tường bên ngoài sử dụng lớp xi măng cát sần lồi lõm gập ghềnh, toàn bộ hiệu ứng trông chẳng khác nào một tràng lòng lợn màu hồng phấn đổ lên bát sữa chua vậy. Tuyệt vời hơn nữa là mẹ tôi không hề hài lòng với bất cứ thứ gì trong việc sửa sang nhà cửa, duy chỉ có màu sơn của ngôi nhà là bà chưa từng phàn nàn câu nào. Bà thực sự cho là màu sơn này khá đẹp đấy chứ.

"Khi nào mẹ mới gặp lại con đây?" Bà vừa trèo ra khỏi xe vừa hỏi.

"Ồ, sớm thôi ạ." Tôi nói.

"Sớm như cái cách con nói với mợ Helen ấy hả?" Bà nói.

"Vâng, rất nhanh, thật đấy."

Bà khựng lại một nhịp, như thể không tin lời tôi lắm: "À, dù sao thì, tháng sau mẹ cũng sẽ gặp con ở đám cưới của Bảo Bảo thôi."

"Gì cơ? Tháng sau tổ chức đám cưới luôn á? Sao con không nghe ai nói gì nhỉ."

"Nhanh lắm đấy." Mẹ tôi vừa nói vừa gật đầu, "A-na người ở nhà thờ của chúng ta bảo nó nghe được từ con gái nó đấy. Mimi làm tóc ở cái tiệm làm đẹp kia kìa, Mimi kể cho con gái của A-na nghe, bọn chúng phải kết hôn gấp. A-na còn bảo với mẹ, nhỡ đâu là vì còn có chuyện khác phải giải quyết nữa. Mợ Helen của con vẫn còn đang bị giấu tẻm đi kìa, đừng nói cho mợ ấy biết nhé."

Hèn chi mợ Helen lại bảo, bởi vì mợ ấy sắp chết rồi nên Bảo Bảo mới vội vã muốn kết khối thành hôn. Mọi chuyện phát triển theo đúng logic thuận suôi mát mái, chứ không phải cái khối u trong đầu mợ Helen đang làm rối tung lên đâu.

Mẹ tôi chui tọt ra khỏi xe, quay đầu lại để Tasha hôn má mình một cái, rồi đến lượt Cleo hôn. Mẹ tôi vốn không thích người khác thơm má mình, nhưng bà biết chúng tôi đã dạy lũ trẻ, khi gặp bố mẹ Phil phải làm như vậy.

"Tạm biệt ngoại!" Hai đứa trẻ đồng thanh nói, "Bọn con yêu ngoại."

"Lần tới các cháu đến," mẹ tôi bảo tụi nhỏ, "ngoại làm bánh nếp ngọt cho các cháu ăn. Các cháu còn được ăn cả bánh trung thu mừng năm mới của Trung Quốc nữa." Bà rút chiếc khăn tay từ trong ống tay áo ra, lau mũi cho Cleo, lại vỗ vỗ đầu gối Tasha, "Chịu không nào?"

"Chịu ạ!" Tụi nó đồng thanh hét lên.

Chúng tôi nhìn mẹ bước lên bậc thềm, đi về phía cửa chính. Mọi người vẫy tay chào tạm biệt bà. Bà bình an bước vào trong, nhìn chúng tôi qua khung cửa sổ, chúng tôi lại vẫy tay với bà một lần nữa. Sau đó chúng tôi rời đi.

"Oa!" Phil thở dài một tiếng. "Về nhà thôi." Tôi cũng trút bỏ được gánh nặng thở dài thườn thượt. Cuối tuần này thực sự quá mức khó khăn, nhưng rốt cuộc thì chúng tôi cũng đã kiên trì vượt qua được rồi.

Vừa qua khỏi tấm biển trạm xe buýt đầu tiên, Tasha đã gọi lên:

"Mẹ ơi."

"Sao thế con yêu?"

"Mẹ ơi," con bé thì thầm, "con muốn đi vệ sinh."

"Con cũng muốn," Cleo nói, "con muốn tè, chết mất thôi."

Lúc chúng tôi quay xe lại, mẹ tôi đã đứng chờ ở bên ngoài rồi.

"Mẹ muốn đuổi theo các con, nhưng các con chạy nhanh quá." Tôi vừa chui khỏi xe con là bà đã nói ngay. "Mẹ đoán là con cứ nhớ ra cái gì là sẽ quay lại ngay mà." Tasha và Cleo đã lao tót lên bậc thềm rồi.

"Nhớ ra cái gì cơ ạ?"

"Món đồ mà dì Đỗ để lại cho con ấy chứ, còn nhớ không? Hai ba ngày trước mẹ đã nhắc con đừng quên rồi cơ mà, hôm qua mẹ lại nói nữa, đừng có quên đấy. Quên rồi à?"

"Không, không ạ." Tôi nói, "Đồ ở đâu thế ạ?"

"Ở phía sau, trong phòng giặt ủi ấy," bà nói, "nặng lắm đấy, tốt nhất là bảo chồng con vào khiêng." Tôi có thể tưởng tượng ra được, chắc chắn là mấy thứ đó rồi: Hoặc là chiếc ghế nằm cũ kỹ mà dì Đỗ hay dùng để gác chân, hoặc là một bộ bát đĩa không vỡ. Chúng tôi đợi Phil dẫn lũ trẻ qua, mẹ đưa cho tôi một cốc trà, tôi bảo không cần, bà xua tay nói: "Pha sẵn rồi, con không uống thì chỉ có đường đổ đi thôi."

Tôi nhấp vài ngụm nhỏ. "Ngon thật đấy." Tôi nói thật lòng đấy, tôi chưa từng uống loại trà nào thế này bao giờ, trà vừa non vừa thơm, uống một ngụm là nghiện ngay lập tức.

"Trà này là của dì Đỗ đấy." Mẹ tôi giải thích, "Dì ấy tự mua cho mình từ mấy năm trước rồi, tận một trăm đô-la một cân cơ đấy."

"Mẹ đùa con à." Tôi lại nhấp một ngụm, vị trà này càng lúc càng ngon hơn.

"Dì ấy từng nói với mẹ thế này: 'Nếu tao tự mua trà rẻ tiền để uống, thì chẳng khác nào bảo cả cuộc đời tao chẳng có gì đáng nói cả.' Cho nên dì ấy quyết định tự mua cho mình loại trà ngon nhất, như vậy lúc ngồi uống ở nhà, dì ấy sẽ thấy mình giàu sụ hệt như một bà hoàng đại phú hộ vậy."

Tôi không nhịn được phì cười.

Tiếng cười của tôi lại càng làm mẹ hăng hái hơn. "Nhưng ngẫm lại dì ấy lại nghĩ, nếu mình chỉ mua một chút xíu thôi, thì chẳng khác nào bảo cuộc đời tao sắp đi đến hồi kết rồi. Thế là dì ấy mua một lượng trà đủ để uống cho cả kiếp sau luôn, tận ba cân! Con tưởng tượng nổi không?"

“Thế thì tốn tận ba trăm đô-la còn gì!” Tôi kêu lên. Dì Đỗ là người biết cách sống vén khéo nhất trong số những người tôi từng quen biết, "Mẹ còn nhớ không, dì ấy cứ giữ rịt mấy hộp quà Giáng sinh mà chúng ta tặng để dành lại từng cái một, ngoài miệng thì cứ bảo mấy viên kẹo này ngon quá, tiếc chẳng dám ăn. Thế nhưng một năm sau, dì ấy lại dùng nó làm quà Lễ Tạ ơn để đáp lễ lại chúng ta, chỉ là thời gian để lâu quá—"

Mẹ tôi gật đầu, đã cười thành tiếng rồi—

"Mọc đầy lông trắng!"

"Lại còn có cả giòi nữa chứ!" Mẹ tôi nói thêm.

"Cho nên dì ấy mới để lại trà cho mẹ trong di chúc ạ?"

"Đưa cho mẹ từ mấy tháng trước rồi. Dì ấy biết mình sống chẳng còn lâu nữa, dì ấy không nói ra, nhưng bắt đầu chia đồ đạc rồi, toàn đồ tốt thôi chứ không phải phế phẩm đâu. Có một lần chúng ta đến thăm dì ấy, lúc uống trà mẹ đã buột miệng khen một câu: 'À, trà ngon quá!' giống như bình thường thôi. Thế nhưng lần này, dì Đỗ lủi thủi đi vào nhà bếp, rồi bê trà ra. Dì ấy bảo với mẹ rằng: 'Syauning, trà này cho cậu đấy.' Kể từ ngày chúng ta quen biết nhau đến nay, dì ấy toàn gọi mẹ như thế thôi, 'Syauning', có nghĩa là đứa tiểu nhân đấy."

"Mẹ bảo là: 'Không, không! Ý tôi không phải thế.' Dì ấy bảo: 'Tiểu nhân, cậu cứ cầm lấy đi, nhân lúc tao hãy còn sống, có thể nhìn thấy cái vẻ mặt vui mừng hớn hở khi nhận quà của cậu.' Mẹ từ chối thế nào được chứ? Đương nhiên, mỗi lần đi thăm dì ấy, mẹ đều mang trà của dì ấy về rồi."

Phil và Cleo đã quay lại, Tasha đi sát phía sau, lúc này tôi thực sự cảm thấy áy náy vì chúng tôi phải đi rồi.

"Chúng ta lên đường thôi." Phil nói, tôi đặt cốc trà xuống.

"Đừng quên đấy," mẹ tôi dặn Phil, "còn món quà mà dì Đỗ cho ở trong phòng giặt ủi cơ mà."

"Quà ạ?" Cleo nói, "Có phần của con không?"

Phil kinh ngạc nhìn tôi.

"Không nhớ á?" Tôi nói dối, "Em chẳng bảo với anh rồi còn gì—trong di chúc của dì Đỗ có để lại đồ cho chúng ta mà."

Anh ấy nhún vai, mọi người đi theo mẹ tôi ra phía sau.

"Tất nhiên rồi, chỉ là mấy món đồ cũ thôi mà." Mẹ tôi vừa nói vừa bật đèn lên, thế là tôi nhìn thấy món đồ đó, được bày trên máy sấy quần áo, chính là chiếc bàn thờ Thần Tài mà dì Đỗ dùng để thờ cúng, trông hệt như một bức tượng Chúa Giáng sinh kiểu Trung Quốc vậy.

"Oa!" Tasha hét lên, "Một cái nhà đồ chơi bằng Trung Quốc kìa."

"Con không nhìn thấy! Con không nhìn thấy!" Cleo la oai oái. Phil khiêng bàn thờ từ trên máy sấy quần áo xuống, mang vào trong nhà bếp. Kích thước của bàn thờ xấp xỉ một chiếc ngăn kéo nhỏ dựng đứng, được sơn một lớp sơn mài màu đỏ thẫm, trông có hơi giống một sân khấu tuồng cũ thu nhỏ của Trung Quốc. Phía trước có hai cột trụ trang trí, lại có thêm hai ngọn nến điện làm bằng nhựa hai màu vàng đỏ, trên đỉnh mỗi cột đều có một chiếc bóng đèn đỏ trên cây thông Noel làm ánh nến, trên tấm ván gỗ hai bên sân khấu có khắc chữ Trung Quốc dát vàng.

"Trên đó viết gì thế ạ?"

Bà vươn ngón tay ra, chỉ vào từng chữ một. "Cát tường như ý. Chữ đầu tiên có nghĩa là 'may mắn', chữ thứ hai là một cách nói khác của từ may mắn, hai chữ đằng sau có nghĩa là 'mọi chuyện đều theo ý nguyện của con'. Đủ mọi loại may mắn, mọi chuyện đều theo ý nguyện của con."

“Thế ai ở trong đó, người đàn ông vẽ trên tranh là ai ạ?” Bức tranh trông giống như phim hoạt hình vậy, người đàn ông trong tranh rất cao lớn, đường bệ ngồi trang nghiêm ở bên trong, một tay cầm một chiếc bút lông ngỗng, một tay cầm một tấm bảng viết chữ, hai bên má ông rủ xuống hai chòm râu dài, được chải chuốt mượt mà hệt như chiếc roi ngựa màu đen mềm mại vậy.

“Ồ, chúng ta gọi ông ấy là Táo quân. Trong mắt mẹ, ông ấy chẳng phải vị thần lớn lao gì cho cam, không giống Phật tổ, cũng chẳng giống Quan Âm nương nương, vị nữ thần từ bi—không có địa vị cao như thế, thậm chí còn chẳng bằng Thần Tài nữa, nói không chừng ông ấy giống như một quản lý cửa hàng vậy, tuy quan trọng nhưng bên trên vẫn còn rất nhiều ông chủ lớn cơ mà.”

Phil nghe cách giải thích mang phong cách Mỹ của mẹ tôi về cấp bậc của các vị thần tiên Trung Quốc, không nhịn được phì cười ha hả. Tôi không biết trong lòng bà thực sự nghĩ như vậy, hay là vì nghĩ cho chúng tôi nên mới dùng cách ẩn dụ này.

“Táo quân trông như thế nào ạ?” Tasha hỏi, “Con có thể có một ông không?”

“Chỉ là một câu chuyện thôi mà.” Mẹ tôi đáp.

“Một câu chuyện cơ á!” Cleo hét lên, “Con muốn nghe.”

Khuôn mặt mẹ tôi bừng sáng, bà xoa đầu Cleo: “Cháu còn muốn nghe ngoại kể chuyện nữa cơ à? Tối hôm qua nghe chưa đủ ghiền à?”

“Chúng ta về nhà thôi,” Phil nói với Cleo, “Giờ này ngoại mệt lắm rồi, không kể chuyện cho cháu nghe được nữa đâu.”

Nhưng mẹ tôi có vẻ như chẳng thèm nghe thấy lời Phil nói chút nào. “Đây là một câu chuyện rất đơn giản,” bà ân cần nói với Cleo, “kể về việc ông ấy biến thành Táo quân như thế nào đấy. Chuyện là thế này.”

Khi mẹ tôi bắt đầu kể, tôi bị một thứ cảm xúc quen thuộc đánh động, tựa hồ như tôi chính là Cleo, mới chỉ lên ba tuổi, đang khao khát tin vào tất cả những gì mẹ tôi kể.

“Ngày xửa ngày xưa, ở Trung Quốc,” mẹ tôi nói, “có một người nông dân giàu có họ Trương, vận may của ông ta rất tốt, cá sẽ nhảy tõm lên trong sông của ông ta, lợn sẽ tự chạy đến mảnh đất của ông ta, vịt sẽ bay lượn quanh sân nhà ông ta, dày và nhiều hệt như những đám mây vậy. Ông ta có phúc khí lớn như vậy là vì ông ta có một người vợ họ Cao vô cùng chăm chỉ, bà ấy giúp ông ta đánh cá, cho lợn ăn, chăn vịt, khiến tài sản của ông ta năm này qua năm khác càng lúc càng nhiều. Trương muốn cái gì là có cái đó, dù là dưới nước, trong đất, hay là trên trời.”

“Nhưng Trương lòng tham không đáy, hắn ta để mắt đến một người phụ nữ họ Lý xinh đẹp, lẳng lơ. Thế là có một ngày hắn ta mua người phụ nữ xinh đẹp đó về nhà, bảo vợ mình nấu ăn cho cô ta. Sau đó, người phụ nữ họ Lý kia đã đuổi vợ hắn ra khỏi nhà, còn hắn ta thì không thèm đuổi theo, cũng chẳng thèm gọi một tiếng: ‘Về đi em, người hiền thê của tôi ơi, về đi.’”

“Cứ như vậy, hắn và người phụ nữ họ Lý kia có thể tha hồ quấn lấy nhau như cá với nước, tự do tự tại. Bọn chúng tiêu tiền như nước. Tụi chúng giết sạch cả đàn vịt để thỏa mãn cái sự thèm ăn của mình. Chưa đầy hai năm, ruộng đất của Trương trống không, trái tim hắn cũng trống rỗng. Tiền bạc tiêu sạch sành sanh, thế là người phụ nữ họ Lý kia liền bỏ theo người đàn ông khác.”

“Trương biến thành một kẻ ăn mày, mặc chiếc áo rách chắp vá chồng chất vá, bò lê bò lết dưới đất, đi xin ăn từng nhà từng nhà một, miệng không ngừng hét lớn: ‘Cho tôi xin chút thức ăn thừa cho lợn chó với!’”

“Một ngày nọ, hắn ngã vật xuống đất, ngửa mặt lên trời, chuẩn bị chờ chết. Hắn mơ màng, mơ thấy mình đang ăn những đám mây bay lơ lửng trên trời, hắn mở bừng mắt ra lần nữa, phát hiện ra những đám mây đã biến thành khói. Ban đầu hắn còn tưởng mình rơi xuống địa ngục, nhưng khi đứng dậy nhìn lại, hóa ra mình đang ngồi trong một nhà bếp, ngay sát chiếc bếp lò ấm áp, cô gái nhóm lửa bảo với hắn rằng người chủ nhà thấy hắn đáng thương nên mới mang hắn về nhà—cô ấy vẫn luôn đối xử như vậy với tất cả mọi người, dù là người già, người bệnh hay những người gặp khó khăn trong nhà.”

“‘Đúng là một người vợ tuyệt vời làm sao!’ Trương hét lên, ‘Bà ấy ở đâu, tôi có thể cảm ơn bà ấy không?’ Cô gái chỉ tay ra cửa sổ, thế là Trương nhìn thấy một người phụ nữ đang đi trên đường. Ái chà! Người phụ nữ này chẳng phải ai khác, chính là người hiền thê Cao của hắn chứ còn ai vào đây nữa!”

“Trương chồm dậy, muốn tìm một chỗ để trốn trong nhà bếp, vợ hắn vừa bước vào nhà, hắn liền nhảy tót vào trong bếp lò.”

“Bà vợ hiền Cao muốn dùng nước mắt để dập tắt ngọn lửa, nhưng chẳng ăn thua gì! Trương mang theo sự hổ thẹn bốc cháy hừng hực, đương nhiên, vẫn là do ngọn lửa đang bùng cháy dữ dội ở phía dưới, bà trơ mắt nhìn chồng mình mang theo ba làn khói đen bay vút lên tận trời xanh.”

“Ngọc Hoàng Thượng Đế trên thiên đình sau khi nghe toàn bộ câu chuyện của người mới đến này liền phán: ‘Đã có dũng khí thừa nhận lỗi lầm của mình,’ Ngũ Đế tuyên bố, ‘Ta bổ nhiệm ngươi làm Táo quân, giám sát hành vi của tất cả mọi người. Hàng năm ngươi phải báo cáo với ta, ai đáng được hưởng vận may, ai đáng bị giáng vận rủi.’”

“Kể từ đó, tất cả người Trung Quốc đều biết Táo quân đang dán mắt theo dõi bọn họ. Ông ấy chằm chằm nhìn mọi hành vi tốt xấu từ mọi ngóc ngách trong mỗi căn phòng, mỗi cửa hiệu: Dù là hào phóng hay keo kiệt, rộng rãi hay bủn xỉn. Mỗi năm một lần, vào bảy ngày trước năm mới, Táo quân sẽ bay từ bếp lò trở về thiên đình, báo cáo với Ngọc Hoàng vận mệnh của ai sẽ thay đổi, vận may biến thành vận rủi, vận rủi biến thành vận may.”

“Hết rồi!” Cleo mãn nguyện hét lên.

“Nghe có vẻ hơi giống ông già Noel nhỉ.” Phil hứng khởi nói.

“Hừ!” Giọng điệu của mẹ tôi ngầm ám chỉ Phil dùng từ không chuẩn xác. “Ông ấy không phải ông già Noel đâu, giống điệp viên hơn—của FBI, của CIA, của xã hội đen, còn tệ hơn cả cục hồ sơ tình báo ấy chứ, chính là cái loại nhân vật này này! Ông ấy không cho quà các ngươi đâu, ngược lại còn bắt các ngươi phải biếu quà cho ông ấy nữa cơ. Các ngươi phải bày tỏ lòng kính trọng với ông ấy quanh năm suốt tháng—dâng trà và cam quýt cho ông ấy. Khi năm mới của Trung Quốc sắp đến, các ngươi bắt buộc phải đưa cho ông ấy những thứ tốt hơn ngày thường—nói không chừng phải cho ông ấy uống u-uy-ki (whisky), hút xì gà, nhai kẹo cao su ấy chứ. Các ngươi phải bảo đảm miệng ông ấy lúc nào cũng ngọt ngào thơm phức, đầu óc lúc nào cũng say mèm men say, như vậy khi ông ấy đi gặp đại đại boss (đại lão bản) của mình, nói không chừng sẽ thay các ngươi nói vài lời tốt đẹp. Gia đình này vẫn luôn rất tốt, ông ấy sẽ nói như vậy, năm sau hãy cho bọn họ chút vận may đi.”

“Nói vậy, muốn có vận may thì dễ ợt còn gì,” tôi nói, “còn rẻ hơn cả mua vé số ấy chứ.”

“Không!” Mẹ tôi hét lên, dọa chúng tôi giật mình thon thót, “Các ngươi không hiểu đâu. Có những lúc, gặp lúc tính khí ông ấy không tốt, ông ấy sẽ nói, tao không thích gia đình này đâu, cho bọn chúng chút vận rủi đi. Đến lúc đó, các ngươi có rắc rối to, chẳng có cách nào giải cứu nổi đâu. Sao mẹ lại phải để cho một kẻ như thế đến phán xét mẹ chứ, một người đàn ông vô ơn bạc nghĩa với vợ mình? Vợ hắn thì đúng là một người tốt thật, nhưng hắn thì không.”

"Vậy sao dì Đỗ lại phải giữ gìn nó làm gì chứ?" Tôi hỏi.

Mẹ tôi nhíu mày, suy nghĩ một lát: "Mẹ nghĩ là thế này, bất cứ chuyện gì con đã bắt đầu thì lại sợ dừng lại. Dì Đỗ từ hồi còn nhỏ đã từng thủ thỉ tâm sự gì với ông ấy, gia tộc của dì ấy ở Trung Quốc mấy đời đều tôn sùng Táo quân."

"Tuyệt quá nhỉ!" Phിലി nói, "Vậy bây giờ bà ấy lại truyền thứ này cho chúng ta. Cảm ơn nhé, dì Đỗ, chỉ là chẳng có cách nào để cảm ơn nữa thôi." Anh nhìn đồng hồ, có thể thấy anh đang rất sốt ruột muốn về nhà.

"Đây là món quà dì Đỗ tặng con mà," mẹ tôi nói bằng giọng điệu buồn bã, "Sao bà ấy lại biết thứ này không tốt cơ chứ? Bà ấy chỉ muốn cho con một số thứ tốt đẹp, những thứ tốt nhất của bà ấy."

"Biết đâu lũ trẻ sẽ dùng cái bàn thờ này làm nhà đồ chơi thì sao." Tôi nói. Tessa gật đầu, Cleo cũng gật đầu. Mẹ tôi nhìn bàn thờ, không nói một lời.

"Từ trước đến nay mẹ vẫn luôn nghĩ thế này," cuối cùng bà nói, trên môi hiện lên vẻ mặt trầm ngâm suy nghĩ, "Con cứ cầm cái bàn thờ này đi, mẹ sẽ tìm cho con một vị thần may mắn khác bỏ vào đây để thay thế vị này." Bà lấy bức tượng Táo quân ra, "Vị này mẹ sẽ mang đi, dì Đỗ sẽ hiểu thôi. Con không cần loại may mắn này. Như vậy con sẽ không phải lo lắng nữa."

"Chốt vậy nhé!" Phിലി vội vàng nói, "Chúng ta gói ghém lên đường thôi."

Nhưng lúc này, tôi lại thấy lo lắng. "Mẹ chắc chứ?" Tôi hỏi mẹ tôi. Bà đã nhét chiếc chân nến bằng nhựa vào một chiếc túi giấy đã qua sử dụng. Thực ra tôi không mê tín cho lắm, tôi từ trước đến nay vốn ghét việc nhận thư dây chuyền — Mary cứ hay gửi cho tôi mấy bức thư kiểu này, tôi chẳng bao giờ làm theo hướng dẫn là photocopy thư ra để phòng khi cần thiết, nhưng tôi cũng chẳng bao giờ vứt bỏ bức thư gốc đi.

Phിലി cầm bàn thờ lên, Tessa xách chiếc túi giấy đựng chân nến. Mẹ tôi đã dẫn Cleo lên lầu, tìm lại được chiếc vớ nylon mà con bé bỏ quên trong phòng vệ sinh. Khi mẹ tôi và Cleo quay lại, bà đưa cho tôi một chiếc túi đựng tạp vật rất nặng, sờ vào có vẻ như nhét đầy cam, kẹo Trung Quốc, hoặc những thứ đại loại thế.

"Cả trà của dì Đỗ nữa, mẹ cũng bỏ vào cho con một ít rồi," mẹ tôi nói, "Đừng dùng nhiều quá, cho một ít vào nước là được, hương thơm lúc nào cũng sẽ ngấm ra thôi."

Rời khỏi nhà mẹ tôi được một khắc thì lũ trẻ đã ngủ thiếp đi. Phിലി đã lên làn đường cao tốc số 286, con đường này ít khi bị tắc nghẽn, khoảng cách giữa các trạm kiểm soát tốc độ cũng xa hơn. Từ nhà đi ra, tốc độ của chúng tôi vẫn là ba mươi lăm cây số một giờ.

"Chúng ta không thực sự muốn cái bàn thờ này chứ?" Phിലി nói. Câu này giống một lời tuyên bố hơn là một câu hỏi.

"Ừ."

"Nó xấu thật đấy," anh nói thêm một câu, "Nhưng anh nghĩ có thể để lũ trẻ chơi một thời gian, cho đến khi chúng chơi chán thì thôi."

“Ừ.” Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ xe, trong lòng thầm nghĩ, mẹ tôi sẽ cho tôi vị thần may mắn nào đây? Chúng tôi lướt qua từng tấm biển báo trên đường cao tốc, vượt qua từng người lái xe vào ngày chủ nhật đang chạy ở làn đường chậm. Tôi nhìn đồng hồ đo tốc độ, gần đến tám mươi cây số một giờ.

"Sao lại chạy nhanh thế?" Tôi hỏi.

Phിലി giảm tốc độ lại, rồi hỏi: "Có gì ăn không?"

Lúc này tôi mới nhớ đến chiếc túi đựng tạp vật mà mẹ đưa cho, nó đang đặt ngay trên đùi tôi. Tôi liếc nhìn vào bên trong, ở đó có mấy quả cam, một cuộn giấy vệ sinh, một hộp trà của dì Đỗ, và cả di ảnh của bố mà tháng trước tôi đã vô tình làm vỡ, phần kính đã được lắp lại rồi.

Tôi nhanh chóng đưa cho Phിലി một quả cam, rồi quay mặt ra ngoài cửa sổ để anh không nhìn thấy những giọt nước mắt của mình. Tôi ngắm nhìn phong cảnh vụt qua ngoài cửa sổ: hồ nước, những ngọn đồi nhấp nhô, và cả những ngôi nhà giống hệt nhau mà tôi đã đi qua hàng trăm lần, chưa từng biết bên trong rốt cuộc có những ai sinh sống. Hết chặng đường này đến chặng đường khác, mọi thứ vừa quen thuộc lại vừa xa lạ, chính khoảng cách này nằm giăng mắc giữa tôi và mẹ, chia cắt chúng tôi ra.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Đàm Ân Mỹ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.