Thê Tử Của Táo Thần

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 10
May Mắn Lạc Dương

❊ ❊ ❊

Thế rồi chiến tranh bùng nổ, và tôi hoàn toàn mù tịt về điều đó. Bây giờ cậu phải tưởng tượng mẹ cậu lúc ấy ngốc nghếch thế nào—đến cả chuyện chiến tranh đã bắt đầu mà cũng chẳng hề hay biết.

Nhưng cậu phải biết rằng, không chỉ riêng tôi mù tịt về chiến tranh, mà rất nhiều người cũng vậy—không phải ngốc, mà là thiếu hiểu biết. Hồi đó hoàn toàn chẳng có ai bảo cho cậu biết, cậu cũng chẳng biết đi đâu để nắm bắt tin tức chính thức, hay nên hỏi ai. Chồng chúng tôi cũng chẳng nói gì với chúng tôi, chúng tôi chỉ nghe ngóng tin đồn nhảm từ người này sang người khác.

Cho dù cậu có đọc được chút tin tức trên báo, thì cũng không thể tin là thật, không thể tin một trăm phần trăm được. Những gì đăng trên báo đều là những điều chính phủ muốn cậu nghe, chỉ có chút ít thế thôi, nói về phe ta thì lúc nào cũng hay, nói về phe địch thì lúc nào cũng tệ. Tôi không có ý bảo ngày nay Trung Quốc vẫn y nguyên như thế. Vào thời kỳ chiến tranh, thậm chí ngay cả trước chiến tranh đã là vậy rồi, để cho người dân thường rơi vào trạng thái mù tịt, giống như một thứ phong tục kỳ lạ nào đó, mặc dù chẳng ai gọi nó là thế.

Thế nên phần lớn tin tức chúng tôi nhận được đều là tin vịt, truyền từ miệng người này sang miệng người khác. Chúng tôi ít khi bàn chuyện đánh giặc. Chúng tôi chỉ bàn về những chuyện có liên quan trực tiếp đến mình, giống như những gì cậu đang bàn ở đây vậy—chẳng hạn như cổ phiếu lên hay xuống, vật giá tăng hay giảm, cậu không mua nổi món đồ ấy nữa, v.v.

Đương nhiên, bây giờ nghĩ lại, tôi biết thế chiến đã bùng nổ như thế nào rồi. Cậu tưởng nó bắt đầu từ châu Âu à? Cậu thấy đấy, nói không chừng cậu cũng là kẻ mù tịt đấy. Thế chiến bắt đầu ở Trung Quốc, vào lúc nửa đêm hôm ấy, tiếng súng vang lên ở phía bắc Bắc Kinh, có vài người thiệt mạng, nhưng quân Nhật đã bị đánh lui.

Cậu không biết chuyện này ư? Tôi thì biết từ lâu rồi. Đương nhiên, lúc nghe tin, tôi không suy nghĩ nhiều đến thế. Những cuộc giao tranh nhỏ như vậy đã diễn ra trên lãnh thổ Trung Quốc mấy năm nay rồi, thế nên trông nó chỉ giống như một sự thay đổi nhỏ nhặt, tựa như cảm giác mới bước vào mùa hè, ban đầu chúng ta chỉ càu nhàu vì buổi sáng trời nóng hơn ban ngày trước kia mà thôi. Tôi nhớ lúc chiến tranh mới bắt đầu cũng y như vậy, chỉ là thời tiết, nóng đến mức khiến người ta lười biếng chẳng muốn động đậy.

Hồi ấy, Hồ Lan và tôi chẳng nghĩ ngợi gì khác, chỉ chăm chăm nghĩ xem ăn món gì mới có thể làm mát cơ thể từ bên trong. Chúng tôi bận rộn quạt mát, hoặc dùng vỉ đập ruồi để đập ruồi. Ban ngày, chẳng làm việc gì cả, chỉ uống trà nóng, tắm nước lạnh, ngủ một giấc thật dài vào buổi trưa, hoặc là ngồi ở hành lang, di chuyển chiếc ghế theo ánh nắng dịch chuyển, cố gắng ngồi vào chỗ râm mát nhất.

Tôi cứ hay ốm vặt, lười nói chuyện, còn Hồ Lan thì luyên thuyên không ngừng giống như chim khách. Cô ấy bảo, cô ấy biết tại sao tôi lại cảm thấy khó chịu: "Thức ăn họ mang tới không tươi, cái nào cũng có vị chua lè."

Thấy tôi không phản ứng gì, cô ấy lại bắt đầu cằn nhằn chuyện khác, "Cậu nhìn xuống dưới kìa," cô ấy chỉ tay ra phía trong thành, "còn tệ hơn nữa, hệt như cái phòng tắm có lũ trùng nhỏ ấy, vừa ẩm ướt, vừa hôi hám lại dơ bẩn. Mùi hôi thối bốc lên từ cống ngầm có thể khiến mũi người ta tẹt dí lại." Những lời này nghe xong càng khiến bụng dạ tôi thêm khó chịu.

Chập tối, các phi công và huấn luyện viên sẽ quay lại miếu để ăn tối. Tất cả chúng tôi đều ăn chung một đại sảnh. Nhưng người Mỹ thì ăn thực phẩm riêng của họ, nhồi nhét những thứ béo ngậy vào bát của họ. Những người còn lại chúng tôi đều lầm bầm phàn nàn, trời nóng thế này mà ăn những thứ béo ngậy như vậy, bản thân tôi chỉ nhìn lướt qua thôi đã thấy buồn nôn rồi.

Hồ Lan, Gia Quốc ăn cùng với tôi và Văn Phúc. Chúng tôi đã cùng nhau ăn cơm như thế này rất nhiều lần rồi. Tôi nhớ lúc đó mình từng nghĩ, chồng của Hồ Lan và chồng tôi khác biệt nhau biết bao. Anh ta lớn tuổi hơn Văn Phúc, có lẽ lớn hơn phải mười tuổi. Bởi vì anh ta là cấp trên của Văn Phúc, là phu cơ trưởng, đương nhiên quyền lực cũng lớn hơn. Nhưng anh ta lại không phải kiểu người như thế.

Có một buổi tối, chúng tôi nghe thấy Hồ Lan đang quở trách Gia Quốc, nói rằng dạ dày anh ta kém, món này cũng không ăn, món kia cũng không đụng đũa. Lại có một buổi tối cô ấy nói, cô ấy đã tìm hộ anh ta một cuốn sách bị vứt nhầm chỗ do lơ đễnh. Lại có lần, cô ấy bảo cô ấy mất toi cả ngày để giặt đống quần áo bẩn anh ta thay ra, nhưng vết bẩn trên quần anh ta thì vẫn không giặt sạch được.

Nghe thấy tất cả những điều này, Văn Phúc và tôi đều nhìn sang Gia Quốc xem anh ta nổi giận thế nào. Văn Phúc từng nói với tôi, Gia Quốc có tính khí giống như quả bom xịt, chạm vào là nổ. Có một hôm anh ta ném thẳng một chiếc ghế về phía một phi công khác, suýt chút nữa thì trúng đích. Nhưng mỗi lần bị Hồ Lan quở trách, Gia Quốc hình như chẳng bao giờ tức giận, cũng chẳng cảm thấy lúng túng xấu hổ. Tôi có cảm giác anh ta chỉ đơn giản là không thèm để ý đến cô ấy. Hồ Lan cằn nhằn mãi không thôi, anh ta vẫn mặc kệ tự lo việc ăn uống của mình, miệng đáp: "Ừ, ừ, ừ."

Tôi tin chắc rằng, nếu Văn Phúc mà có thể cấm tôi đi gặp Hồ Lan, thì anh ta nhất định sẽ làm thế. Nhưng sao anh ta lại có thể bảo tôi không được thân thiết với vợ của cấp trên mình chứ? Ngược lại, anh ta thường xuyên nói xấu Hồ Lan sau lưng. "Loại phụ nữ này," anh ta nói, "đơn giản là sự kết hợp giữa kỹ nữ và hồ ly tinh. Thà tôi cưới một thây ma về làm vợ còn hơn là lấy loại đàn bà này."

Tôi không lên tiếng, nhưng trong lòng lại âm thầm ghen tị với Hồ Lan, mặc dù cô ấy chẳng phải là một người vợ tốt, thế mà chồng cô ấy vẫn đối xử với cô ấy khoan dung đến vậy. Đồng thời, tôi cũng chẳng coi trọng Gia Quốc. Tôi thấy thương hại anh ta, toàn bộ nhược điểm của anh ta đều phơi bày trước thanh thiên bạch nhật. Đương nhiên, khi đó tôi vẫn chưa biết rõ sự tình thực sự trong cuộc hôn nhân của họ, không biết tại sao anh ta lại để cô ấy làm càn như vậy.

Sau bữa tối, tất cả đàn ông, bất kể là người Trung Quốc hay người Mỹ, đều ở lại phòng khách chơi bài poker. Nếu bọn phụ nữ chúng tôi ra ngoài hóng gió, muỗi sẽ lập tức hào hứng bay tới — vo ve vo ve! vo ve vo ve! — đuổi chúng tôi quay vào trong nhà. Thế nên Hồ Lan, một vài người phụ nữ khác và tôi thường chỉ đành ở trong nhà. Chúng tôi ngắm đàn ông đánh bài giữa bầu không khí ngập mùi xì gà, mồ hôi Tây và rượu whisky Trung Quốc.

Nhìn vào khung cảnh đánh bài ấy, có thể nhận ra chồng tôi rất được lòng những người đàn ông khác. Có một người đàn ông thường xuyên chừa lại cho anh ta vị trí gần quạt trần nhất. Một người đàn ông khác thì thường xuyên đưa thuốc lá rót nước cho anh ta. Văn Phúc thường bật cười lớn, một tràng cười rất sảng khoái, một tay đập bàn, những người đàn ông khác cũng bắt đầu cười theo, vỗ tay theo.

Có lần, tôi thấy Văn Phúc đứng phắt dậy, tuyên bố rằng, "Các cậu có muốn biết hôm nay huấn luyện viên người Mỹ đã dạy tôi thế nào không?" Thế là có hai người đàn ông hò reo hưởng ứng, anh ta ưỡn ngực, hai tay chống hông, lắc lư mông qua lại bước vài bước, hú hét mấy tiếng, thế rồi tất cả liền cười lớn, cười đến mức trào cả nước mắt.

Tôi nhìn thấy sự táo bạo của anh ta, thái độ phất lờ tất cả ấy, đã trở thành tấm gương để những người đàn ông khác bắt chước. Từng cử động của anh ta trông cứ như đã là một người hùng rồi: cho dù nguy hiểm đến đâu, cũng chưa từng thất bại. Những người khác chắc chắn đã tin rằng, chỉ cần làm bạn đồng hành với anh ta, chỉ cần khi anh ta cười họ cũng cười, thì cảm giác anh hùng ấy mới trào dâng trong lồng ngực họ.

Nhưng anh ta cũng dọa dẫm họ, khiến họ cảm thấy sự đáng sợ của anh ta, trường hợp này tôi cũng từng chứng kiến một lần. Có một lần, anh ta bất ngờ chồm dậy khỏi bàn, vẻ mặt đằng đằng sát khí, khiến tất cả mọi người giật mình thon thót. Anh ta gầm lên với một thanh niên ngồi đối diện, vỗ vỗ vào quân bài mà người nọ đã lật sẵn trên bàn, lặp đi lặp lại hỏi rằng: "Chơi trò này với tôi à? Đây thực sự là bài của cậu đấy à?" Thanh niên đó — thực ra là tất cả mọi người — đều sợ đến mức ngây như phỗng, lắng nghe chồng tôi gầm thét. Thế rồi ngay khi anh ta đứng đó, hai tay tì lên mặt bàn, anh ta bỗng bật cười.

"Được thôi, thế thì," anh ta vứt hết số bài trong tay lên — "vù" — anh ta đã thắng. Mọi người nhìn trân trân vào nhau, rồi bùng lên một tràng cười, mọi người vỗ vỗ lưng anh thanh niên vừa bị mắng, miệng nói chồng tôi biết đùa thật khéo.

Hồ Lan, Gia Quốc, và tất cả những người đàn ông trong căn phòng này — ai nấy đều thấy Văn Phúc thông minh, thú vị, đáng mến. Tôi cũng bật cười, một nụ cười mang chút hơi hướng thần kinh. Tôi nhìn thấy thủ đoạn vừa đấm vừa xoa của chồng tôi, không chỉ dùng với tôi, mà còn dùng với cả bạn bè của anh ta. Tôi cảm thấy anh ta làm thế là sai, là tàn nhẫn, nhưng hình như chẳng ai nhận ra điều đó cả.

Thế nên có lẽ tôi không đến nỗi quá mù tịt. Các phi công khác đều rất thông minh, đều là những người tốt, nhưng những thứ họ không phát hiện ra thì tôi đã phát hiện ra rồi. Anh ta vừa mắng mỏ, vừa hành hạ, vừa gầm thét, vừa đe dọa, ngay vào lúc cậu không biết phải làm sao nữa, thì anh ta lại gạt bỏ mối nguy hiểm đi, trở nên dịu dàng, bao dung, cười sảng khoái, vui vẻ trở lại. Anh ta lật đi lật lại diễn đi diễn lại trò này, lúc thế này lúc thế khác.

Đương nhiên, tất cả chúng tôi đều bị anh ta làm cho quay mòng mòng, đều bị anh ta dắt mũi, ai nấy đều tưởng rằng chúng tôi đang muốn lấy lòng anh ta. Nếu không làm được điều đó, chúng tôi sẽ cố gắng vớt vát lại tâm trạng tốt của anh ta, chúng tôi sợ rằng nếu không có thứ đó thì chúng tôi sẽ chẳng sống nổi.

Những buổi chiều mùa hè, bầu trời thường xám xịt, rồi tiếng sấm ì đùng lại vang lên. Hồ Lan và tôi hễ nghe thấy tiếng động này là vội vàng thu dọn giỏ đựng thức ăn nhỏ, những thứ đang thêu dở, những vật đại loại như thế, cảm giác này giống như một cuộc phiêu lưu vậy.

Chúng tôi nhanh chóng chạy lên con đường nhỏ sau miếu, trèo lên ba bậc thềm, bước vào một cái chòi nhỏ nằm trên sườn núi, từ phía sau đó có thể nhìn thấy những quả đồi xanh ngắt, hồ nước dưới chân núi và thành phố huyên náo ở đằng xa. Trong thế giới nhỏ bé này, chúng tôi phóng tầm mắt ngắm nhìn thế giới đang được mưa gột rửa, cho đến khi bức rèm mưa xám xịt hoàn toàn bao trùm lấy chúng tôi, chẳng thể nhìn thấy thành phố và đồi núi nữa.

Cái chòi nhỏ này khiến tôi nhớ tới nhà kính trên đảo Sùng Minh, khiến tôi dấy lên nỗi nhớ nhà — cho dù không phải là nhớ ngôi nhà mà chú, mợ cả, mợ hai từng ở. Tôi khao khát được quay trở lại cái nơi mà tôi từng trốn, cái nơi mà tôi giả vờ mất tích, cái nơi mà tôi tưởng tượng có người đến tìm mình. Tôi cũng nhớ tới những món đồ sưu tầm nhỏ bé rách nát đáng thương của mình: bức chân dung của mẹ, một cặp cánh bướm đã hóa thành tro bụi, một lọ hoa héo úa mà ngày nào tôi cũng tưới nước, với hy vọng nó có thể biến thành một nàng tiên, chơi đùa cùng tôi.

Đương nhiên tôi chẳng kể những suy nghĩ trẻ con ấy cho Hồ Lan nghe. Chúng tôi cứ thế im lặng ngồi trong chòi, tựa như hai người vợ đoan trang vậy. Nhưng tôi nghĩ cả hai chúng tôi đều đắm chìm trong hồi ức, cố gắng nhớ lại thời thiếu nữ đã trôi qua nhanh chóng đến thế.

Tôi nhớ rõ nhất là có một buổi chiều chúng tôi ngồi trong thế giới nhỏ bé ấy, chớp giậtì đùng, mưa trút xuống ào ào, càng lúc càng lớn, cứ như thể không có điểm dừng. Chưa từng có trận mưa nào lớn thế này, kéo dài lâu thế này. Hai tiếng đồng hồ trôi qua, chúng tôi bắt đầu thấy hơi căng thẳng, mặc dù cả hai đều cố gắng không biểu lộ ra ngoài.

"Chúng ta phải mau chóng quay về thôi," Hồ Lan nói, "cho dù trời có mưa mãi không ngừng đi nữa."

"Ừ, thế thì phải làm sao đây? Có vội vàng thế nào đi nữa, trời cũng có tạnh đâu." Tôi nói.

"Ai mà vội chứ? Người đang ngồi cạnh cậu đây cả đời đối phó với lũ lụt, tớ còn chưa kịp nghĩ đến việc nhấc cái chén trà khỏi bàn, thì nước lũ đã ngập đến thắt lưng rồi."

Mấy hôm trước tôi tình cờ tìm thấy một tờ báo cũ của Thượng Hải ở đại sảnh, trong lúc chờ mưa tạnh, tôi bèn mở ra xem có tin tức gì không. Tin tức thú vị rất nhiều: một nữ minh tinh vướng vào một vụ bê bối lớn, một ca sĩ người Do Thái gốc Nga vừa đến Thượng Hải từ Mãn Châu Quốc để biểu diễn từ thiện, một ngân hàng vừa bị trộm hai tuần trước lại tiếp tục bị trộm lần nữa, một con ngựa đua Anh mang tên "Chân Tốc" đã giành chiến thắng trong một giải đấu cách đây một tuần, một quảng cáo tuyên bố một thứ gọi là "Hoàng Dược" có thể chữa khỏi căn bệnh đầu óc hỗn loạn, tư tưởng bi quan, sợ hãi lo lắng, phản ứng chậm chạp, mợ hai từng mua cho chú một lọ.

Tin tức về chiến tranh thì không nhiều lắm, chỉ có một bản tuyên bố do Tưởng Giới Thạch đưa ra, nói rằng Trung Quốc quyết không đầu hàng Nhật Bản, quyết không từ bỏ một tấc đất nào.

Vừa đọc báo, tôi vừa thò tay với lấy giỏ thức ăn lúc đầu đựng đầy ắp. Có lẽ vì chiến tranh khiến tinh thần tôi căng thẳng, sự thèm ăn của tôi giảm sút, thường là đến lúc đói rồi mà vẫn chẳng biết ăn gì ngon. Chốc thì muốn ăn cái này, chốc thì đến một miếng cũng nuốt không trôi, chốc sau lại đói, lại muốn ăn món khác! Thế nên tôi đã gói rất nhiều món ăn vặt ngon lành, mỗi thứ ăn một chút, dựa theo nhu cầu của cái lưỡi và cái dạ dày, chốc chốc lại nếm một miếng. Nào là cá lát khô, thịt bò khô, dưa góp chua ngọt, dưa muối, cứ nhét liên tục vào miệng, cho đến khi nhét đến mức trào cả nước mắt. Ở chỗ các cậu gọi những thứ này là món ăn vặt đấy.

Khi những món ăn đủ mọi hương vị khác nhau này cũng không thể thỏa mãn được sự thèm ăn của tôi, tôi bèn hỏi Hồ Lan mang theo món gì ngon không, có thứ gì vừa giòn vừa mặn không, và cũng chính vào lúc này, Hồ Lan nói với tôi rằng, tôi đã mang thai rồi.

"Tớ biết mà," giọng điệu cô ấy nói cứ như thể đã đỡ đẻ cho một trăm đứa trẻ rồi vậy, "chắc chắn là cái sinh linh trong bụng cậu đang đói, muốn nếm trải đủ mọi vị cay đắng ngọt bùi của cuộc đời rồi đây. Nhìn cái sức ăn khủng khiếp của cậu thế này, phỏng chừng còn là con trai nữa cơ."

Lúc cô ấy nói thế, tôi còn chẳng tin. Tôi mới mười lớn tuổi, bản thân còn đang trong giai đoạn phát triển cơ thể cơ mà. Hồ Lan nhỏ tuổi hơn tôi, sao cô ấy lại có thể biết chứ? Tôi chồm dậy, chống hai tay lên hông, căng quần áo ra, cúi xuống nhìn bụng mình, không có, chẳng có đứa bé nào thò đầu ra khỏi rốn tôi cả. Nhưng tôi có cảm giác bên trong có thứ gì đó, đói cào ruột gan, muốn nuốt chửng lấy tôi.

Lúc ấy tôi đã nghĩ, không, đây chỉ là sự bất hạnh của tôi mà thôi, những gì cuộc đời ban tặng, nó vốn chẳng bao giờ thỏa mãn cả, nó luôn muốn có nhiều hơn nữa. Mợ cả từng nói với tôi, mẹ tôi trước khi qua đời cũng thế này, "Cái chỗ này quá tham lam," mợ chỉ chỉ vào bụng, "lúc nào cũng không thấy đủ, trong tay rõ ràng đã có mười quả mận để chọn rồi, thế mà vẫn cứ muốn đòi thêm một quả lê nữa."

"Chỉ là dạ dày tớ thích ăn đồ chua thôi," tôi bảo Hồ Lan, "điều này chứng tỏ tớ sắp gặp vận đen rồi."

"Tớ nói cho cậu biết, là có hỉ đấy." Hồ Lan nói.

Tôi lắc đầu.

"Một đứa bé." Cô ấy vừa nói, vừa gật đầu.

“Hừ, cậu tưởng tự tớ mà không biết cơ thể mình chắc!”

"Vậy thì, nói cho tớ nghe xem," cô ấy bảo, "lần kỳ kinh trước của cậu là khi nào?"

Khuôn mặt tôi bỗng chốc nóng bừng lên! Âm thanh cô ấy thốt ra từ này lại lớn đến thế, cứ như đang nói về chuyện hoúng hoắng ho, đau đầu, hay bụi bay vào mắt vậy.

"Cái này thì liên quan gì đến chuyện sinh em bé chứ?" Tôi nói. Hồ Lan mím chặt môi dưới, cố gắng nhịn cười.

"Chẳng lẽ mẹ cậu chưa từng nói với cậu à?" Cô ấy hỏi.

Tôi vắt óc nhớ lại, vào buổi sáng ngày kỳ kinh nguyệt đầu tiên ghé thăm, mợ cả đã nói với tôi những gì.

Sau khi tỉnh dậy, tôi cảm thấy nửa thân dưới dính dớp, rồi tôi bèn tốc chiếc váy ngủ lên, nhìn vào giữa hai chân mình. "Có ai đó vừa chém tôi một nhát!" Tôi lầm bầm với Hoa Sinh, cứ tưởng mình đang mơ.

Hoa Sinh vừa nhìn thấy máu liền hét toáng lên. Con bé chồm dậy khỏi chiếc giường hai đứa nằm chung, cắm cổ chạy thẳng ra khoảng sân. "Nhanh lên!" Nó hét lớn, "Vân Vân bị người ta giết rồi, giống hệt mẹ cậu ấy. Cậu ấy chết rồi! Cứu mạng với, cứu mạng với!"

Mợ cả xồng xộc lao vào phòng, tiếp theo là mợ hai, hai người hầu, mấy đứa anh em họ, phụ bếp cầm theo một con dao thái rau chạy theo sau họ. Mợ cả bước lên trước, liếc nhìn tôi một cái, vẻ mặt hoàn toàn dửng dưng. Mợ xua xua tay, bảo những người khác ra ngoài hết.

"Đừng khóc nữa." Chờ trong phòng chỉ còn lại hai người chúng tôi, mợ cả mắng. Mợ hai và Hoa Sinh lại bước vào phòng, Hoa Sinh mở trừng trừng đôi mắt to nhìn tôi.

"Nhìn kìa, con bé có sao đâu." Mợ hai vừa nói vừa đưa cho tôi vài mảnh vải.

"Nghe cho kỹ đây, hai đứa tụi bay," đại mợ cả nói, "chảy máu là một điềm báo. Khi một đứa con gái trong lòng có những ý niệm dơ bẩn thì cơ thể nó nhất định phải tự gột rửa sạch sẽ, đó là lý do tại sao lại có từng ấy máu chảy ra. Sau này, nếu con gái gả vào một gia đình gia giáo do người lớn chọn cho, nếu nó trở thành một người vợ hiền mẹ tốt, yêu thương chồng, thì sẽ không bị chảy máu nữa." Hồi đó mợ cả đã nói với tôi như thế đấy. Quả nhiên đúng như mợ nói, một khi tôi trở thành một người vợ tốt, máu liền ngừng chảy.

"Phi!" Hồ Lan nghe tôi kể xong đoạn này, nhổ bọt xuống đất một cái, "Toàn lời nhảm nhí."

Ngoài chòi mưa vẫn rơi không dứt. Chiều hôm đó, Hồ Lan kể cho tôi nghe rất nhiều chuyện xa lạ khó mà tin nổi. Sao tôi phải tin cô ấy chứ? Cô ấy là kẻ hay tin nhất vào những ý niệm kỳ quái. Cô ấy bảo, bụng phụ nữ mỗi tháng phải làm một cái ổ một lần. Chẳng thể nào có chuyện đó! Cô ấy bảo, em bé chui ra từ cái chỗ mà thứ của đàn ông đi vào, chứ không phải chui ra từ rốn. Đúng là một lũ nhảm nhí!

Rồi cô ấy kể cho tôi nghe tại sao cô ấy lại biết tất cả những chuyện này. Cô ấy bảo có lần cô ấy từng đỡ đẻ cho một cô gái. "Tớ nói toàn là sự thật thôi," Hồ Lan nói, "tớ thấy em bé chui ra từ đâu mà. Tớ nhìn thấy vào năm ngoái đấy."

Cô ấy kể, cô gái đó đem lòng yêu một phi công ở Lạc Dương, lúc bấy giờ gia đình Hồ Lan đang sống ở một ngôi làng gần đó.

"Cô gái đáng thương ấy chỉ đang tìm kiếm một cơ hội có thể thay đổi vận mệnh của mình mà thôi," Hồ Lan nói, "rất nhiều cô gái đều như thế, hy vọng lấy được một người chồng có thể đưa cô ấy rời khỏi đây. Cô ấy cũng giống như tất cả các cô gái trong ngôi làng này, dung mạo không được xinh đẹp cho lắm, số phận đã định sẵn phải lấy một lão nông dân, hoặc lấy một gã thợ hàn nồi độc nhãn ven đường, vất vả an phận sống hết cả đời, đừng hồng mong hưởng phúc gì cả. Thế nên, hễ cô gái đó vừa gặp được một phi công, đương nhiên liền đem toàn bộ thân mình trao hết cho anh ta — đây chính là một cơ hội, cho dù chỉ là một cơ hội nhỏ nhoi đi nữa, cũng phải nắm thật chặt lấy chứ."

Hồ Lan nhìn ra tôi không tin lời cô ấy. "Tớ biết, cậu rất khó tưởng tượng ra," cô ấy nói, "hoàn cảnh của cậu khác. Cậu biết chắc chắn mình sẽ lấy được một người tốt, chẳng cần phải lo lắng thế này." Giọng điệu cô ấy nói cứ như đang trách móc tôi vậy. Điều này ngược lại khiến tôi thầm nghĩ, nói không chừng cô ấy cũng từng làm chuyện y như cô gái đó, đem thân mình trao cho Gia Quốc như một cơ hội. Cô ấy thật may mắn, cơ hội này đã thành toàn cho cuộc hôn nhân của cô ấy.

"Vào lúc cô gái ấy sắp sinh con," Hồ Lan kể tiếp, "cô ấy bắt tớ đi cùng cô ấy đến chỗ phi công đó. Bụng cô ấy đau dữ lắm, dọc đường chúng tôi cứ phải đi đi dừng dừng. Cuối cùng cũng đến được doanh trại, gã phi công nhìn thấy cô ấy thì vô cùng tức giận, anh ta lôi đình giận dữ, quát thấu đuổi những người đàn ông khác ra ngoài hết. Tuy tớ đứng ở bên ngoài, nhưng những gì hai người họ nói tớ đều nghe thấy hết.

"Cô ấy cầu xin phi công cưới mình. Anh ta không chịu. Cô ấy cam đoan sinh ra sẽ là con trai. Anh ta bảo anh ta không thèm quan tâm. Cô ấy bảo anh ta có thể coi cô ấy là vợ lẽ, cưới thêm một người vợ lớn nữa. Anh ta vẫn không đồng ý. Thế là cô ấy bật khóc, chẳng màng đến thể diện gì nữa, nổi giận đùng đùng. Cô ấy gào khóc bảo anh ta rằng đời này cô ấy hết hy vọng rồi, cô ấy đã đặt cược tất cả lên người anh ta rồi. Cô ấy bảo, bây giờ cô ấy không thể gả đi đâu được nữa, người trong làng ai cũng biết cô ấy là một con tiện nhân, người nhà cũng không thèm nhận cô ấy nữa, đứa con của cô ấy đời này cũng chẳng còn cơ hội, chẳng còn tương lai nào nữa.

"Rồi cô ấy phát điên lên, vừa hét vừa khóc lóc. Tớ xồng xộc xông vào phòng, cô ấy đang ôm lấy bụng mình, chửi hắn: 'Anh thà giết hai mẹ con tôi ngay bây giờ còn hơn là để chúng tôi chết đói từ từ. Nhưng chúng tôi mà chết, anh cũng đừng hòng sống nổi, hai mẹ con tôi sẽ kéo anh từ trên trời xuống dưới này.'

"Gã phi công nghe thấy lời nguyền rủa hắn đi chết của cô ấy thì tức giận vô cùng. Hắn giáng cho cô ấy một cái tát trời giáng, cô ấy liền ngã quỵ xuống, bụng đập trúng tay vịn ghế, người lăn xuống sàn nhà. Cái tát này không giết chết cô ấy, tay vịn ghế cũng không giết chết cô ấy. Nhưng ngay vào khoảnh khắc cô ấy lăn nhào xuống sàn nhà ấy, em bé bắt đầu chui ra. Cô ấy thét chói tai, rên rỉ, giãy giụa bò ngược lại như con cua. Cô ấy vừa khóc vừa thét vào đứa con của mình, 'Đừng chui ra! Chưa đến lúc đâu!'

"Phi công và tớ lao tới. Tớ xốc váy cô ấy lên, nhìn thấy đỉnh đầu của em bé, rồi cả cái đầu chui ra ngoài, cổ còn quấn một dải băng, khuôn mặt xanh lét như sắt, đôi mắt nhắm nghiền. Tớ muốn kéo em bé ra, tháo dải băng đó ra. Tớ liều mạng kéo, nhưng cô ấy giãy giụa dữ quá. Gã phi công quát lên với cô ấy, 'Nằm yên đừng nhúc nhích.' Cô ấy túm lấy tóc hắn, không cho hắn đi.

"Bây giờ cả ba chúng tôi đều gào khóc la lối, ai nấy đều đau đớn khôn cùng. Đứa bé lôi cả những thứ bên trong bụng cô ấy ra ngoài, tớ thì kéo đứa trẻ, cô ấy thì túm chặt tóc gã phi công không buông. Sau đó có vẻ như cả ba chúng tôi đều trụ không nổi nữa. Cô ấy ngả người ra đằng sau rồi co giật, lăn lộn dưới đất. Toàn thân cô ấy run rẩy, liều mạng hít khí vào, lại liều mạng thở ra, cứ như không đủ không khí để thở vậy. Cô ấy thở ra một hơi, lại hít sâu một hơi vào, rồi, chẳng còn hơi thở nào nữa. Thảm thương làm sao! Một người chưa kịp sinh ra, một người đã chết. Đầu đứa trẻ và cơ thể cô ấy dính liền vào nhau, từ màu xanh chuyển sang màu đen, rồi tắt thở."

Hồ Lan dừng lại. Cô ấy bấu chặt lấy vạt áo, mím chặt môi, tôi cứ ngỡ câu chuyện của cô ấy đến đây là kết thúc.

"Thảm thương thật đấy," tôi nói, "cậu nói đúng, tụi mình coi như là may mắn rồi."

Nhưng Hồ Lan vẫn chưa kể xong, cô ấy bật khóc, "Tớ đến nay vẫn không biết, đứa bé đã chết ấy là con trai hay con gái," cô ấy nói, "mẹ tớ cũng không mổ bụng con bé ra để xem thử, bà không muốn con gái mình mang một cái bụng rách xuống Âm Phào, cũng không muốn đưa đứa cháu ngoại đầu lòng không có đầu xuống Âm Phào, thế nên cha mẹ tớ đã chôn cất con bé, cùng với đứa trẻ một nửa ở bên ngoài, một nửa vẫn còn nằm bên trong ấy."

Hồ Lan nhìn tôi. "Đúng vậy," cô ấy vừa nói vừa khóc, "con bé chính là chị gái tớ, còn gã phi công chính là Gia Quốc, vì hắn sợ lời nguyền của chị gái tớ, nên mới cưới tớ."

Tôi nhìn cô ấy, nói không nên lời. Cuối cùng, Hồ Lan lại cất lời, lần này, giọng điệu của cô ấy bình thản hơn một chút, "Tớ biết hắn cưới tớ là để xua bớt nỗi sợ hãi trong lòng, để chị ấy không quay về, kéo máy bay của hắn từ trên trời xuống. Nhưng tớ gả cho hắn là để trả thù cho chị gái. Đương nhiên, cha mẹ tớ rất tức giận, không tin lời tớ. Tớ vẫn luôn nói với họ, tớ gả cho hắn chính là muốn hắn đời này không được yên ổn, muốn hắn nhớ đến chị tớ, nhớ đến tội ác mà hắn đã gây ra."

“Nhưng sao tớ có thể ngờ được Gia Quốc bây giờ lại trở thành một người tốt, một người tốt đến thế cơ chứ? Cậu biết điểm này mà, cậu hiểu tính cách của anh ta. Anh ta vô cùng hối hận, vô cùng đau buồn. Anh ta đối xử với tớ rất tốt, mua quần áo đẹp cho tớ, uốn nắn hành vi của tớ, chưa từng chế nhạo tớ. Sao tớ có thể biết anh ta lại tốt đến vậy chứ?”

Hồ Lan nhìn ra bên ngoài, trời vẫn mưa rơi không dứt. "Đôi khi, tớ vẫn nổi giận với anh ta," cô ấy bình thản nói, "nhưng đôi khi nghĩ lại tớ lại thấy, dẫu sao thì người cũng không phải do anh ta giết. Cho dù có kết hôn hay không, cô ấy sinh con, vốn dĩ cũng sẽ chết. Đôi khi tớ nghĩ chắc là chị gái tớ rất tức giận với tớ, chị ấy vắt đứa bé trên chân, miệng nguyền rủa tớ, gả cho một người đàn ông đáng lẽ phải là chồng của chị ấy."

Tôi và Hồ Lan cứ thế bắt đầu kể cho nhau nghe bí mật của bản thân, rồi lại cùng nhau giữ bí mật. Tôi kể trước cho cô ấy nghe về sự thiếu hiểu biết của tôi đối với cơ thể mình. Sau đó cô ấy liền kể cho tôi nghe ước nguyện muốn có được niềm vui thông qua con đường trả thù của cô ấy. Chiều hôm đó, tôi còn kể cả chuyện của Hoa Sinh cho cô ấy nghe, tôi nói với cô ấy lẽ ra Hoa Sinh mới là người gả cho Văn Phúc.

"Cứ đà này, cả hai chúng ta đều xoay chuyển vận mệnh kịp thời. Tụi mình đúng là gặp may rồi!" Hồ Lan kêu lên. Tôi chẳng nói gì cả. Tôi chỉ kể một nửa bí mật cho cô ấy nghe rốt cuộc tôi có được tính là may mắn hay không.

Mãi cho đến tận tối, tôi mới kể chuyện mang thai với Văn Phúc. Chúng tôi đang chuẩn bị lên giường, anh ta vươn tay sang.

"Bây giờ chúng ta phải cẩn thận rồi," tôi nói, "tớ có thai rồi."

Anh ta nhíu mày. Cứ thế, thoạt đầu anh ta còn chẳng tin. Thế là tôi kể cho anh ta nghe gần đây dạ dày tôi không khỏe, lúc nào cũng cảm thấy buồn nôn, những triệu chứng này đều là dấu hiệu mang thai. Nhưng anh ta vẫn im lìm không nói một lời.

Có lẽ Văn Phúc chẳng biết nói gì cho phải, anh ta cũng chẳng biểu lộ cho tôi biết rốt cuộc trong lòng anh ta nghĩ thế nào. Có lẽ phần lớn đàn ông sẽ đi vòng quanh giống như những con gà trống, đi khoe tin vui với mọi người. Nhưng Văn Phúc chỉ thốt ra một câu, "Thật á, hử?" rồi tự mình cởi quần áo.

Đột nhiên, anh ta nhào tới ôm chầm lấy tôi, áp môi lên trán tôi, thổi phì phì vào tai tôi. Lúc đó tôi cứ tưởng anh ta đang nói cho tôi biết, anh ta thực sự rất vui mừng vì có một đứa con. Lúc ấy tôi thực sự cảm thấy cuối cùng mình cũng được anh ta yêu thích rồi, tôi hoàn toàn tình nguyện sinh cho anh ta một bầy con.

Nhưng cảm giác này chỉ kéo dài trong chốc lát. Văn Phúc mơn trớn đùi tôi, giật phăng quần áo tôi ra. Sao anh ta còn có thể nghĩ đến chuyện này chứ? Tôi nhẹ nhàng đẩy anh ta ra, nhưng điều này chỉ khiến anh ta càng thêm không kiên nhẫn, anh ta muốn bẻ hai chân tôi ra.

Tôi nói, "Bây giờ trong bụng em đã có con rồi. Chúng ta không thể làm chuyện đó nữa."

Đương nhiên tôi nói câu này là do vô tri. Nhưng anh ta hoàn toàn không hiểu, hoàn toàn chẳng thông cảm cho tôi, anh ta chỉ cười lớn, gọi tôi là cô nhặt nhà quê ngốc nghếch.

"Anh chỉ muốn làm cho rõ xem có phải con trai hay không thôi." Anh ta nói. Sau đó anh ta đẩy ngã tôi lên giường, đè lên người tôi.

"Dừng lại!" Tôi nói. Sau đó tôi nói to hơn, "Dừng lại! Dừng lại!" Văn Phúc khựng lại, nhíu mày nhìn tôi. Tôi chưa từng lớn tiếng với chồng bao giờ, có lẽ là vì trong bụng đã có con rồi, có lẽ là vì nó muốn tôi phải bảo vệ chính mình. Nhưng anh ta cứ trừng mắt nhìn tôi bằng ánh mắt đáng sợ ấy, thế là cuối cùng tôi thốt lên một câu, "Em xin lỗi." Anh ta không nói một lời, hoàn thành nốt chuyện mà tôi đã cầu xin anh ta đừng làm.

Hôm sau, tôi lại kể chuyện riêng tư này với Hồ Lan. Tôi cứ ngỡ cô ấy sẽ lắng nghe tôi tâm sự giống như chị em vậy, thế là tôi kể cho cô ấy nghe chồng tôi có "dục vọng bất thường", "dương khí quá thịnh", thậm chí sau khi tôi bảo anh ta là tôi đã mang thai rồi, tối nào anh ta cũng vẫn đòi hỏi tôi, tôi rất lo lắng, rất không vui — đây chính là cái cớ đáng thương để tôi lại dùng rắc rối của mình đi làm phiền cô ấy.

Hồ Lan nhìn tôi, trên mặt chẳng có chút biểu cảm nào. Có lẽ tôi nói quá thẳng thừng, khiến cô ấy kinh ngạc. Cuối cùng cô ấy cất lời, "Hừ! Đây mà là vấn đề gì chứ? Cậu nên vui mừng mới phải, chẳng phải cậu nhờ thế mà mang thai hay sao?" Giọng điệu của cô ấy mang theo chút mỉa mai, "Dục vọng này sẽ không làm hại đứa bé đâu, chỉ là hơi bất tiện cho cậu một chút mà thôi. Sao cậu không chịu chiều chồng vụ ấy? Anh ta còn cần cậu, cậu nên mừng mới phải! Nếu anh ta mất hứng thú với cậu, anh ta sẽ chạy sang với phụ nữ khác, đến lúc đó cậu mới hiểu thế nào là thực sự không vui đấy."

Bây giờ đến lượt tôi há hốc mồm kinh ngạc. Tôi vốn tưởng cô ấy sẽ đồng cảm với tôi, nào ngờ lại bị cô ấy quở trách cho một trận. Hơn nữa cô ấy còn cằn nhằn mãi không thôi. "Sao cậu lại cứ biến chuyện tốt thành chuyện xấu vậy?" Cô ấy nói, "Cậu mà đã đinh ninh một món ăn nấu không ngon, thì đương nhiên sẽ chẳng nếm ra được hương vị ngon lành rồi."

Cậu chưa từng thấy mặt này của mợ Helen bao giờ phải không? Bây giờ cậu biết rồi đấy, mợ ấy mà hung dữ lên thì cũng ghê gớm lắm đấy! Mợ ấy chỉ hung dữ với mỗi mình tôi thôi, tôi cũng chẳng biết tại sao nữa, có lẽ chỉ ở trên người tôi mợ ấy mới có thể bộc lộ mặt này ra được.

Cậu biết tôi nghĩ gì không? Tôi có cảm giác sở dĩ cô ấy hung dữ với tôi như vậy, là bởi vì chính cô ấy gặp phải rắc rối gì đó, nhưng cô ấy lại không thể nói ra, cô ấy muốn trở nên hung dữ một chút để che giấu chuyện đó. Hôm đó, sau khi cô ấy nói với tôi những lời này, đương nhiên tôi cảm thấy bị tổn thương. Cô ấy khiến tôi cảm thấy mình thật nhỏ bé, chẳng tích sự gì. Mấy năm sau, tôi mới biết tại sao cô ấy lại thốt ra những lời đó, trong lòng cô ấy có một bí mật, chỉ là nhân cơ hội trút giận mà thôi. Nhưng chuyện này để mai mốt hãy nói.

Khoảng một tuần sau, chính ngay trong cái chòi nhỏ này, tôi mới chính thức biết chắc chắn rằng chiến tranh đã bùng nổ.

Sau bữa trưa, Hồ Lan đã ngủ thiếp đi. Một cơn dông sét kéo đến, tôi quyết định một mình đi đến cái chòi nhỏ đó để viết thư cho Hoa Sinh. Tôi viết về những điều vui vẻ: phong cảnh thú vị mà tôi nhìn thấy, những con thuyền nhỏ trên Tây Hồ, ngôi chùa mà tôi từng đến. Tôi bảo có lẽ chẳng mấy chốc chúng ta có thể về nhà, có lẽ phải đợi thêm mấy tháng nữa. Tôi bảo tôi hy vọng chúng ta có thể về Thượng Hải ăn Tết, đến lúc đó sẽ cho mọi người xem em bé của tôi.

Đúng lúc này, tôi nhìn thấy Hồ Lan chạy về phía chòi, quần áo của cô ấy bị mưa làm ướt sũng, dính sát vào thân hình mập mạp trông vô cùng khó coi.

"Họ sắp bay đi rồi! Đang chuẩn bị nhổ quân rồi kìa!" Cô ấy vừa chưa bước vào chòi đã la oai oái rồi. Chennault đã đến căn cứ không quân, những lãnh đạo người Trung Quốc khác đến từ miền nam và miền bắc cũng đã tới. Tất cả các phi công tập hợp chờ lệnh. Ai nấy đều đang bàn tán cùng một chuyện: không còn thời gian chuẩn bị nữa rồi, thời khắc nhổ quân đã đến.

Tôi và Hồ Lan lập tức quay về miếu, chẳng màng thay bộ đồ ướt sũng ra, vội vàng thu dọn hành lý cho chồng. Tôi cẩn thận nhét chiếc áo sơ mi sạch sẽ, quần, tất của Văn Phúc và một chiếc chăn lông mới cao cấp vào vali. Tay tôi run lẩy bẩy, tim đập thình thịch. Trung Quốc đánh nhau rồi, Văn Phúc sẽ chết mất, có lẽ tôi sẽ chẳng thể gặp lại anh ta nữa. Tôi không biết bản thân có thực sự yêu Văn Phúc hay không, chỉ vào giây phút này tôi mới cảm nhận được điều đó.

Một chiếc xe tải bấm còi inh ỏi, báo hiệu đã đến lúc phải đi đến căn cứ không quân rồi. Tôi chạy sang phòng Hồ Lan báo cho cô ấy. Cô ấy vẫn chưa chuẩn bị xong, lúc thì lục tung ngăn kéo tủ đựng đồ, lúc thì vò đầu bứt tai, trông hoàn toàn quẫn trí, vừa khóc vừa lẩm bẩm một mình: "Mang bức ảnh đẹp nào đi đây? Mang bùa hộ mệnh gì đây? Cuốn sách mà anh ta cứ hay quên vứt ở đâu rồi nhỉ?"

Đến sân bay rồi, cũng chẳng có ai nói với chúng tôi là chồng chúng tôi sẽ đi đâu. Nhưng xuyên qua làn mưa, chúng tôi có thể nhìn thấy bầu trời xanh mây trắng, chúng tôi phấn khích hẳn lên, tự hào hẳn lên. Lát sau, có người dẫn chúng tôi vào một căn phòng nhỏ ẩm ướt, nhìn ra từ ô cửa sổ kính nhỏ đã vỡ, vạn vật bên ngoài đều trở nên nhỏ bé và nguy hiểm. Mưa ào ào trút xuống đường băng chật hẹp, các phi công đều đứng dưới cánh máy bay. Có người chỉ vào cánh quạt, có người xách vali chạy đi. Gia Quốc chạy từ chiếc máy bay này sang chiếc máy bay khác, tay cầm một bản vẽ lớn, có lẽ là bản đồ, gió thổi thốc từ dưới mặt đất khiến nó lật phật bay lên bay xuống.

Rồi chúng tôi nhìn thấy cánh quạt bắt đầu quay, tiếng gầm rú của động cơ ngày một lớn hơn. Tôi liều mạng nhịn không nhìn người khác, không nói chuyện, sợ rằng cổ họng sẽ thốt ra những lời xui xẻo nào đó, khiến mọi người gặp tai vạ. Tôi có cảm giác ai nấy đều giống nhau, thần sắc điềm tĩnh trang nghiêm, tương lai không thể đoán trước.

Nhưng theo chiếc máy bay dần bay xa, Hồ Lan giơ tay vẫy vẫy. Nước mưa, hơi nước và khói mù quyện vào làm một, chiếc máy bay trông giống như đang bay về phía trước trong một giấc mơ bất an. Cánh tay của Hồ Lan vẫy càng lúc càng điên cuồng, nước mắt cũng trào ra. Máy bay tăng tốc phi thẳng trên đường băng. Hồ Lan giống như một chú chim nhỏ bị thương, kịch liệt điên cuồng vẫy cánh tay, tựa như những nỗ lực ấy và tất cả những lời chúc nguyện, tất cả hy vọng của cô ấy sẽ bay thẳng lên chín tầng mây, an toàn nâng từng chiếc máy bay cất cánh, đưa chúng bay về phía chiến thắng.

Đương nhiên, sáng hôm sau chúng tôi đã nghe được tình hình thực tế diễn ra như thế nào.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Đàm Ân Mỹ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.