Thê Tử Của Táo Thần

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 19
Sự Yếu Mềm Và Kiên Cường

❊ ❊ ❊

Tôi đã kể cho anh nghe những ngày đầu mới kết hôn của tôi, để anh có thể hiểu tại sao tôi vừa yếu mềm lại vừa kiên cường. Có lẽ trong tâm trí người Mỹ các anh, một con người không thể đồng thời mang hai điều mâu thuẫn ấy. Nhưng nhìn từ cuộc sống của chính mình, tôi buộc phải có cả hai, chỉ có thế tôi mới sống nổi.

Sự tình là thế này: Vào cuối thời kỳ chiến tranh, tôi sống một cuộc sống không có hy vọng. Nhưng dù không có hy vọng, tôi lại không còn tuyệt vọng nữa. Tôi không còn chống lại cuộc hôn nhân của mình, nhưng tôi cũng chẳng thuần phục. Cuộc sống của tôi chính là như thế, mọi thứ cứ lơ lửng hoài —— không hy vọng, cũng không tuyệt vọng; không chống cự, nhưng cũng chẳng khuất phục. Cho nên, anh thấy đấy, chính là như thế, vừa yếu mềm lại vừa kiên cường.

Tôi không cần anh khâm phục tôi. Đây không phải là hòa hợp với tự nhiên, không có chuyện đó đâu. Ý tôi nói chỉ là muốn anh hiểu rằng, tôi giống như một con gà mái bị nhốt trong lồng, vô tri vô giác, không còn mơ mộng đến tự do, nhưng cũng chẳng bao giờ lo lắng xem khi nào thì cái cổ của mình bị cắt đứt.

Thế nhưng, dĩ nhiên, dẫu là con gà ngốc nghếch nhất cũng sẽ chớp thời cơ lồng hỏng để bay ra ngoài. Bây giờ tôi sẽ kể cho anh nghe, chuyện đó cuối cùng đã diễn ra như thế nào.

Tôi buộc phải đợi đến giữa mùa hè năm 1945. Tôi vẫn nhớ hôm đó, tôi đã ăn những gì, dì Đỗ đã nói những gì, Hồ Lan mặc một chiếc áo như thế nào. Tôi không biết tại sao, kể từ dạo đó, mọi thứ đều thay đổi, vậy mà tại sao tôi vẫn nhớ rõ mồn một những chuyện vụn vặt vào khoảnh khắc ấy đến thế. Tóm lại, chúng tôi quây quần bên chiếc bàn vuông nhỏ —— Hồ Lan và Gia Quốc, Văn Phúc và dì Đỗ, còn cả Đạm Nhược, ngồi trên chiếc ghế đẩu nhỏ cạnh tôi. Chúng tôi đang ăn sáng, một bữa sáng rất bình thường, —— cháo nấu bằng kê, một loại dưa muối trông như con ốc nhỏ, rau diếp nguội là thức ăn thừa từ tối hôm trước, đậu phụ thối rất dính, cùng với món đậu đỏ xào to bằng chiếc răng trẻ con. Bữa sáng của chúng tôi rất bình thường, chúng tôi cũng chẳng thèm tốn lời bình phẩm món ăn ngon hay dở, chỉ khi nào mâm cỗ thịnh soạn, chúng tôi mới bàn xem món nào nấu ngon, món nào nấu chưa ngon.

Đương nhiên, bây giờ hễ nhớ lại những món ăn này, tôi lại muốn tán dương sự ngon lành của chúng —— tất cả những hương vị ấy ở nước Mỹ các anh chẳng tài nào nếm được, thật đáng tiếc làm sao. Tỷ như rau diếp, to bằng củ cải, vừa giòn vừa ngọt, rất ngon. Lại còn đậu phụ thối, mỗi buổi sáng thế nào cũng có người đẩy xe đi ngang qua cửa nhà chúng tôi, miệng ra sức rao, "Đậu phụ thối! Đậu phụ thối!" Chúng tôi toàn mua từ chỗ lão ta. Lớp vỏ bên ngoài của nó rất giòn, hễ anh cắn thủng một cái là sẽ thấy bên trong mềm xốp tựa phô mai, một mùi thơm dính dấp xộc thẳng vào mũi anh.

Nhưng giống như tôi đã nói, thưở ấy những thứ này đều là món ăn thường ngày, ngày nào cũng được ăn, giống như thứ ngũ cốc ăn liền mà các anh mua trong cửa hàng vậy. Dẫu sao đi nữa, bởi vì đang là mùa hè —— chỗ các anh là tháng Tám —— nên chúng tôi chẳng có mấy cảm giác thèm ăn.

Tôi vẫn nhớ mấy chuyện khác trên bàn ăn sáng hôm ấy. Hồ Lan ăn một hạt đậu đỏ, ăn rất chậm, cứ như thế này. Con bé gắp một hạt từ trong đĩa, rồi khẽ xóc xóc trên không trung, trông giống như một quả trứng ruồi, ngả nghiêng đưa vào miệng. Lúc ấy con bé đã múp míp lên rồi, chiếc áo mặc trên người lại quá chật, chính là cái áo màu hồng đào mà tôi tặng nó, bó chặt lấy phần ngực của nó.

"Hồi tôi còn con gái," nó nói, "trong thôn chỉ có một mình tôi là có thể gắp một phát được một hạt đậu, không rơi hạt nào." Nó lại thả một hạt đậu vào miệng.

Đương nhiên, tôi hiểu ý nó nói, đây là một phong tục cổ xưa, biểu diễn cho nhà chồng tương lai thấy mình dịu dàng, có giáo dục đến mức nào. Anh phải dùng đôi đũa kém cỏi nhất để gắp những thức ăn nhỏ nhất, không để vương vãi chút rác nào. "Ở trong thôn của cô," tôi trêu nó, "chẳng lẽ phụ nữ không có việc gì làm, suốt ngày chỉ biết đếm xem có mấy hạt đậu chui vào miệng?"

"Chị không tin à?" Vừa nói, nó vừa gắp một hạt nữa rồi nuốt xuống.

"Tôi không phải không tin cô," tôi nói, "chỉ là không có thời gian để đếm xem rốt cuộc cô đã ăn mấy hạt. Nói không chừng mới được năm mươi hạt——"

"Tôi nói cho chị hay, là một hạt đấy!" Nó lại ăn thêm một hạt, rồi từng hạt từng hạt một, như thể muốn chứng minh mình không nói dối.

Dì Đỗ trách móc hai chúng tôi. "Hai đứa cãi nhau chuyện này thì có ý nghĩa gì chứ? Lại chả có hai trăm hạt ấy chứ. Dẫu sao đi nữa, hà cớ gì phải dùng đũa gắp đậu để kiểm chứng thân phận của một người con gái cơ chứ?"

Đúng lúc ấy, chúng tôi nghe thấy một tiếng gõ cửa dồn dập. Chúng tôi còn chưa kịp đặt đũa xuống, tiếng gõ cửa lại vang lên. Lần này gõ mạnh hơn, gấp gáp hơn. Một người đàn ông xông thẳng vào phòng chúng tôi, là một phi công của tiểu đội ba. Anh ta cười lớn, hét lên, "Kết thúc rồi! Kết thúc rồi!" Dẫu vậy, chúng tôi vẫn không thể tưởng tượng nổi —— bởi vì chúng tôi đã nghe quá nhiều lần rằng đừng hy vọng sang năm mới nghe được tin này —— thế nên lúc anh ta bảo Trung Quốc đã chiến thắng, đã đánh đuổi hoàn toàn chủ nghĩa đế quốc Nhật Bản cút đi rồi, chúng tôi hoàn toàn không dám tin vào tai mình.

Mọi người đều vui mừng đến mức phát khóc —— Hồ Lan, dì Đỗ, đầu bếp, thậm chí cả chồng của chúng tôi. Anh đúng là nên nhìn những giọt nước mắt hạnh phúc ấy, lắng nghe những tiếng hò reo hạnh phúc ấy. Chúng tôi không tài nào ngồi yên được, cũng chẳng đứng nổi một chỗ. Chúng tôi dậm chân, nhảy cẫng lên. Hồ Lan vươn hai tay lên không trung, tạ ơn Thượng đế, và dĩ nhiên, ngay trong lúc này, chiếc áo của nó bị rách toác, nhưng nó chẳng hề hay biết gì cả. Chốc lát sau, lại có một phi công xông vào phòng chúng tôi, tiếp theo lại một người nữa, rồi thêm hai người nữa. Mỗi lần có người xông vào phòng, chúng tôi lại bắt người phi công đầu tiên kể lại cho bằng được tin tức anh ta nghe được —— là ai nói cho anh ta biết, ban đầu sao anh ta không tin, sau đó lại tin như thế nào.

Cho nên anh thấy đấy, ai nấy đều nhao nhao lên nói nói cười cười —— chỉ trừ có mình tôi. Tôi chốc lát lại khóc chốc lát lại cười, giả vờ như đang nghe bọn họ trò chuyện. Nhưng thực ra, tim tôi đập rất nhanh, đầu hơi choáng váng, lòng bàn chân ngứa ngáy. Bởi vì tôi có cảm giác như một giấc mơ cũ lại tái hiện. Tôi thầm nghĩ, bây giờ mình đã có quyền lựa chọn rồi. Tôi có thể quay về Thượng Hải. Tôi phải viết thư cho bố tôi. Tôi phải nhờ chú, hoặc thím cả, hoặc Phân Hoa giúp đỡ. Nhất định sẽ có người giúp tôi, tôi dám chắc. Lập tức tôi có thể ly hôn, bắt đầu một cuộc sống mới.

Đến buổi chiều, mọi thứ đã được quyết định xong xuôi. Sáng sớm hôm sau, chúng tôi rời Côn Minh. Chúng tôi thậm chí chẳng nỡ tốn thêm một ngày để bán đồ đạc cũ. Tốt nhất là vứt quách hết đi! Anh xem chúng tôi hưng phấn biết nhường nào! Chúng tôi ở Côn Minh ròng rã bảy năm trời, còn tôi thì bị cuộc hôn nhân của mình trói buộc tròng trĩnh tám năm trời đấy!

Thế là hôm đó chúng tôi bắt đầu thu dọn hành lý, phân loại đồ đạc của mình đâu ra đấy, cái gì nên bỏ, cái gì nên giữ, nói là làm nhanh gọn, "Lấy cái này, bỏ cái kia." Đạm Nhược lúc ấy đã được năm tuổi. Ôi, lúc tôi bảo chúng tôi không thể mang theo chiếcõ võng nhỏ mà thằng bé nằm ngủ từ bé đến lớn ấy đi, nó đã khóc thảm thiết làm sao!

"Đừng khóc nữa!" Văn Phúc quát lên. Đạm Nhược sợ bố nó đến thế là cùng, lập tức ngoan ngoãn im bặt. Nhưng tâm trạng Văn Phúc đang rất tốt, lần này anh ta không trách mắng Đạm Nhược nữa. Chỉ nói, "Đến Thượng Hải rồi, bố mua cho con chiếc giường tốt hơn, không chỉ mua giường, mà còn mua cả một chiếc ô tô đồ chơi bằng gỗ nữa. Nào, cười đi." Thế là Đạm Nhược cố kéo miệng rộng hết cỡ có thể. Thằng bé Đạm Nhược đáng thương!

Sáng hôm sau, chúng tôi rời Côn Minh. Lần này chúng tôi không ngồi ở thùng xe kéo phía sau nữa. Chúng tôi cùng Hồ Lan, Gia Quốc và những phi công khác lên xe buýt. Lúc ấy không có mấy phi công rời Côn Minh, cho nên xe không chật chội gì. Tôi và Văn Phúc ngồi trên băng ghế dài. Tôi ngồi cạnh cửa sổ, Đạm Nhược ngồi trên đùi tôi. Lần này chúng tôi mang theo rất nhiều hòm xiểng, hộp đựng, không giống như hồi mới đến, chỉ có độc một chiếc hòm. Chúng tôi thậm chí còn mang theo cả tấm bạt che mưa, đề phòng nơi nghỉ lại ban đêm không có chăn đệm thích hợp thì dùng đến.

Xe buýt lên đường, ai nấy đều ngoảnh đầu nhìn lại căn nhà chúng tôi từng ở thêm lần cuối. Chỉ có mình tôi là không ngoảnh đầu nhìn lại. Tôi hà cớ gì phải nhìn cái nơi đã cướp mất hy vọng của tôi chứ? Tôi đã hai mươi bảy tuổi rồi, tôi chỉ muốn quên đi tất cả những gì đã xảy ra trong cuộc đời mình. Tôi chỉ muốn nhìn về phía trước.

Tôi thấy đường phố vô cùng đông đúc, khắp nơi toàn ô tô, xe tải và những người khiêng vác đồ đạc. Chúng tôi lái xe ra khỏi cổng thành, đi đến vùng ngoại ô, dọc đường đi qua vài ngôi làng nhỏ, rồi leo lên núi. Trái tim tôi đập dữ dội, tràn ngập sự lo âu và gấp gáp. Cảm xúc này giống hệt như cảm giác khi tôi từng tưởng rằng chúng tôi sắp bị người Nhật đuổi kịp. Chỉ có điều lần này tôi sợ rằng, nhỡ chúng tôi đi không nhanh, đột nhiên có người nói, "Nhầm to rồi, chiến tranh vẫn chưa kết thúc, chúng ta còn phải quay về đấy."

Đúng lúc này có một phi công hét lớn, "Dừng xe!" Sau đó chạy qua lối đi giữa các hàng ghế, dặn dò tài xế mấy câu, chỉ tay về phía vệ đường. Quả nhiên, chiếc xe gầm lên một tiếng rồi dừng lại. Tôi cắn chặt tay mình để tránh phát ra tiếng khóc lớn. Ba người phi công nhảy xuống. Tôi cứ tưởng chúng tôi gặp cướp rồi. Tôi đứng dậy, nhìn ra ngoài cửa sổ. Vừa nhìn thấy dáng vẻ của họ, tôi liền phì cười ngay tức khắc —— hóa ra bọn họ đang chụp ảnh!

Một trong số họ đứng đó, làm ra vẻ mặt ngốc nghếch, vô cùng kiêu hãnh chỉ tay lên bầu trời xanh ngắt —— cứ như bầu trời ở đây có gì khác biệt với bầu trời ở những nơi khác vậy. Tôi muốn cười. Rồi tôi lại ngẩng đầu nhìn bầu trời. Tôi nhớ lúc ấy trong lòng mình sinh ra một thứ cảm giác vô cùng kỳ lạ, giống như vừa tỉnh dậy từ một giấc mơ hỗn độn vậy. Cứ như trước đây tôi chưa từng nhìn thấy Côn Minh vậy. Bởi vì cái tôi nhìn thấy không phải bầu trời bình thường, mây trời bình thường. Sắc trời mới sáng làm sao, mới xanh làm sao, tựa như ngọc bích, chiếu thẳng vào mắt anh. Mây có tất cả ba đám, đám này nối tiếp đám khác, hình dáng tựa như những chiếc đệm ngồi khổng lồ được làm riêng cho các vị thần trên trời vậy. Sau đó tôi nhìn thấy một con chim, một con chim lớn, đôi cánh lấp lánh tựa cầu vồng. Tôi nhìn thấy những ngọn núi xanh phủ đầy rừng cây, những cánh tay cây đang vẫy múa, mơn man mặt đất. Mặt đất hoa nở rộ, đủ mọi loài hoa dại đua nhau khoe sắc. Ngay phía sau đó, tôi nhìn thấy thành phố cổ kính, những con phố uốn lượn yên bình, những bức tường trắng, nhìn từ xa lại càng thêm sáng sủa ngăn nắp.

Lần đầu tiên tôi nhìn thấy tất cả những điều này, tôi không hề vui vẻ, ngược lại còn cảm thấy đau đớn, bởi vì tôi nhận ra mình chưa từng cảm nhận được khung cảnh mỹ lệ nhường này, mà bây giờ thì đã quá muộn rồi.

Trên đường đến Vũ Xương, tôi nhìn thấy sự tàn phá do chiến tranh gây ra. Hầu như mọi ngôi làng, nhìn qua chỉ còn lại những hàng nhà trệt đắp bằng đất bùn, hoặc là sập một góc ở giữa, hoặc là bị tốc mái, hoặc là đổ sụp một bức tường bên cạnh. VSome houses had already been repaired, the holes in the walls here and there were blocked by broken tables, grass mattresses from beds, or broken car doors. Có một lần tôi nhìn thấy một thung lũng xanh tươi, lác đác vài căn nhà đen ngòm ẩn hiện trong đám cỏ tranh cao quá đầu người. Nhìn từ xa trông giống như mấy cục than vụn bị ai đó tiện tay vứt bỏ. Tôi mãi vẫn không nhận ra đây là một ngôi làng, cho đến tận khi chúng tôi sắp đi qua nơi này, mới nhận ra những thứ đen ngòm ấy hóa ra là những căn nhà nhỏ, đã bị thiêu rụi từ nhiều năm trước, chẳng còn sót lại một người sống sót nào để quay về sửa chữa chúng.

Nhưng thứ tôi nhìn thấy nhiều nhất chính là những gương mặt đói khát đáng thương ấy, dọc suốt chặng đường có biết bao nhiêu gương mặt, người trẻ có, người già có, tất cả đều hốc hác và đau khổ giống hệt nhau. Bọn họ bươi móc trong đống đổ nát, nhét rác rưởi vào những chiếc túi mỏng manh. Hễ nghe thấy tiếng xe của chúng tôi, họ liền vứt túi xuống, chắp hai tay lại làm dáng bát ăn mày, khẩn khoản cầu xin, "Tiểu thư, thương xót cho hoàn cảnh khốn cùng của chúng tôi với, làm ơn đi mà!" Tiếng khóc than của họ dần nhỏ hẳn theo chiếc xe của chúng tôi đang đi xa dần. Cứ nhìn thấy họ là dạ dày tôi lại quặn đau.

Những người ngồi trong xe chúng tôi cũng có nỗi lo lắng riêng của mình. Từ lâu chúng tôi đã nghe nói rất nhiều người nghèo đã biến thành thổ phỉ, lập thành từng nhóm lưu manh hoành hành khắp đại địa Trung Quốc, vùng núi non lại càng nhiều. Lúc chúng tôi ngồi thuyền vượt hồ Động Đình, có người cảnh báo chúng tôi rằng thổ phỉ đã khống chế rất nhiều tàu thuyền, bọn chúng sẽ chẳng ngần ngại cắt cổ chúng tôi đâu. Chính phủ Quốc Dân Đảng nói những chuyện này là do Đảng Cộng sản làm. Còn dì Đỗ thì lén lút nói cho chúng tôi biết, đây không phải sự thật. Con gái dì viết thư cho dì, bây giờ người ta cứ hễ gặp chuyện xấu gì xảy ra ở Trung Quốc đều đổ oan lên đầu Đảng Cộng sản cả. Cho nên anh thấy đấy, chiến tranh đã kết thúc, nhưng đấu tranh thì vẫn chưa dừng lại.

Đến khi chúng tôi đến Vũ Xương an toàn —— chúng tôi chỉ nghỉ lại một đêm ở một khách sạn ở đó —— cả tôi và Hồ Lan đều tưởng rằng đời này chúng tôi chẳng thể gặp lại nhau nữa rồi. Nó và dì Đỗ còn phải đi về phía bắc đến Cáp Nhĩ Bìng, Gia Quốc cũng được phái đến đó. Văn Phúc, Đạm Nhược và tôi sẽ đi tàu hỏa hướng đông đến Nam Kinh, rồi từ đó đi thuyền đến Thượng Hải.

Phải thừa nhận, trong suốt tám năm qua, tôi và Hồ Lan đã xảy ra không ít lần cãi vã. Nhưng bây giờ thực sự sắp chia tay, ai nấy đều có chút lưu luyến không nỡ rời xa. Đêm cuối cùng ở khách sạn, chúng tôi trò chuyện suốt mấy tiếng đồng hồ, cho đến khi mi mắt không tài nào chống cự nổi nữa mới thôi. Sáng hôm sau chúng tôi lại cùng nhau ăn sáng, chúng tôi ăn rất chậm, ăn món cháo sáng đơn giản bình thường, chính là món cháo kê và đậu đỏ nhỏ mà tôi đã kể cho anh nghe rồi đấy. Ăn xong, chúng tôi trao đổi địa chỉ cho nhau. Tôi ghi địa chỉ của bố tôi và chú ở đảo Sùng Minh. Nó chép lại y nguyên địa chỉ ở Cáp Nhĩ Bìng mà Gia Quốc đưa cho nó vào tờ giấy cho tôi. Sau đó chúng tôi trở về phòng riêng của mình, lục lọi trong hòm xiểng tìm mấy món quà để tặng nhau làm kỷ niệm.

Hồ Lan tặng tôi hai chiếc kim móc len, một chiếc to, một chiếc nhỏ. Tôi tặng nó chiếc áo len đẹp nhất của mình, đó là do tự tay tôi tỉ mỉ đan lấy. Thế là cả hai chúng tôi đều phì cười, chúng tôi đều đoán trúng tâm can của đối phương, một người thì cần dụng cụ để đan, người kia lại cần thành phẩm đã đan sẵn. Gia Quốc tặng Văn Phúc một cây bút máy, Văn Phúc tặng lại anh ta một chai rượu whisky của Mỹ.

Đúng lúc này tôi thấy dì Đỗ đang chơi đùa với Đạm Nhược. Dì đối xử với con trai tôi như thể một người bà vậy. Tôi lại quay về phòng lục hòm, muốn tặng dì một món quà đặc biệt. Tôi sực nhớ ra, dì rất thích chiếc lọ nước hoa màu xanh mà thỉnh thoảng tôi vẫn cho Đạm Nhược chơi. Tôi lại một lần nữa giơ lọ nước hoa lên hướng về phía ánh nắng, rồi bước ra ngoài tặng cho dì. Dì Đỗ lớn tiếng từ chối, liên mồm nói, "Tôi cần thứ này làm gì chứ?" Tôi nhét ép chiếc lọ vào tay dì, dì bật khóc, bảo tôi rằng cầm món đồ này khiến dì thấy ngượng ngùng biết bao. "Tôi chẳng có gì để tặng lại cho cô cả." Dì nói.

Thế là tôi bảo dì, "Thứ tôi cho dì cũng chẳng tính là gì sất, chỉ là trông cho đẹp mắt thôi, như vậy để dì có thể nhớ đến một người phụ nữ ngốc nghếch và đứa con trai của cô ấy."

Trước lúc chia tay, Hồ Lan và tôi đã bắt tay nhau. Tôi rất muốn cất lời xin lỗi vì những trận cãi vã giữa chúng tôi những năm qua. Nhưng tôi lại không biết phải nói thế nào cho phải. Thế là tôi nói, "Tôi nghĩ rốt cuộc là một trăm hạt đậu đấy." Nó liền hiểu ngay, ý tôi là đang nhắc đến trận cãi vã cuối cùng trước khi chúng tôi rời Côn Minh.

Hồ Lan lắc đầu, vừa khóc vừa cười, "Không, nói không chừng là chị đúng, chỉ có năm mươi hạt, không nhiều hơn đâu."

"Một trăm." Tôi khăng khăng nói.

"Năm mươi, có lẽ còn ít hơn ấy chứ." Nó quả quyết nói. Sau đó nó lại ngượng ngùng nói thêm một câu, "Hồi đó nhà chúng tôi nghèo lắm. Tôi đành phải mỗi buổi sáng đem số đậu ít ỏi ấy, đếm từng hạt từng hạt chia thành hai đống, một đống cho em gái tôi, một đống cho chính mình. Cho nên anh thấy đấy, tôi chỉ là hy vọng có một trăm hạt đậu mà thôi."

Sau khi chúng tôi đến bến tàu Thượng Hải, không lập tức đi thăm bố mẹ của Văn Phúc. Đáng lẽ đây là thông lệ. Nhưng bởi vì người Nhật vừa chiếm Thượng Hải, bố mẹ anh ta đã chuyển về nội địa, thế là chúng tôi lại phải đi thêm một ngày tàu hỏa nữa mới đến được chỗ bố mẹ anh ta. Thế nên Văn Phúc cứ khăng khăng rằng chúng tôi nên đến nhà bố tôi trước. Tôi biết anh ta cũng đang mơ tưởng chúng tôi có thể sống trong căn biệt thự cao cấp ấy. Anh ta còn có một dự tính nữa, ở Thượng Hải dễ làm ăn buôn bán hơn ở ngoài đảo. Làm ăn món gì, anh ta không nói, mà tôi cũng chẳng hỏi.

"Bố em đương nhiên sẽ muốn em ở cùng với ông ấy rồi, em là con gái của ông ấy mà." Anh ta vừa nói, vừa khoác chiếc áo khoác sĩ quan không quân lên người, tôi đoán anh ta muốn mọi người nhìn thấy mình với vẻ mặt hân hoan, một anh hùng chiến đấu khải hoàn trở về.

Tôi không tranh cãi với anh ta. Tôi cũng muốn gặp bố tôi trước. Tôi không muốn nhận sự giúp đỡ của ông, tôi chỉ hy vọng bố nhìn thấy tôi sẽ vui mừng mà thôi.

Chúng tôi thuê một chiếc xe hơi nhỏ từ bến tàu, chạy thẳng về nhà. Suốt dọc đường, Văn Phúc một mình ngâm nga một giai điệu nhỏ vui tươi. Đạm Nhược bận rộn ngắm cảnh bên ngoài cửa sổ, cái đầu nhỏ cứ quay đi quay lại không ngừng về mọi hướng, muốn thu trọn vào tầm mắt khung cảnh của thành phố lớn xa lạ này.

"Mẹ ơi, nhìn kìa!" Thằng bé hét lên, tôi thấy nó chỉ tay về phía một người Ấn Độ quấn khăn đỏ trên đầu, đang điều tiết xe cộ qua lại. Hồi nhỏ hễ nhìn thấy những cảnh sát giao thông người Ấn Độ này là tôi lại khóc thét lên. Ấy là vì một người vợ lẽ của bố tôi bảo tôi rằng, nếu tôi không ngoan, bà ta sẽ giao tôi cho mấy gã "A Thàn đầu đỏ" này, bọn họ sẽ dùng bộ râu rậm rạp của mình để chọc tôi đấy.

"Đừng sợ," tôi bảo Đạm Nhược, "Con thấy chiếc mũ trên đầu ông ấy không? Chẳng qua là quần áo ướt quấn lại phơi cho khô thôi mà." Đạm Nhược muốn trèo hẳn người khỏi ghế để nhìn cho rõ hơn.

"Đừng có nói nhảm với trẻ con." Văn Phúc nói. Đạm Nhược lập tức tuột xuống ngồi ngoan.

Thật khó mà tin nổi, thành phố này vẫn bận rộn và đông đúc như thế, cứ như chẳng có thứ gì bị hủy hoại, chẳng có gì thay đổi —— ít nhất là trên những đại lộ lớn thì là như vậy. Còi ô tô và xe taxi kêu inh ỏi, xe đạp lướt đi tấp nập, trên vỉa hè người qua kẻ lại nườm nượp, những thương gia mặc lễ phục đuôi tôm, những người nông dân đẩy xe kéo đầy rau củ, những nữ sinh đi dạo tay trong tay, những quý cô thời thượng đội kiểu mũ mới nhất, đi đôi giày cao gót nhất. Bọn họ thừa biết mọi người đang nhìn mình, đang ngưỡng mộ mình. Đương nhiên ở đó cũng có người nước ngoài, nhưng không nhiều như trong ký ức của tôi, thực ra thì chẳng có mấy móng. Tôi thấy những kẻ này không còn uy phong lẫm liệt như trước nữa, sải bước cũng chẳng còn tự tin như trước, lúc qua đường bọn họ vô cùng cẩn thận, bây giờ bọn họ đã hiểu rằng thế giới này sẽ không dừng lại để mặc họ thong thả bước đi đâu.

Chiếc xe càng lúc càng tiến gần đến căn biệt thự của bố tôi, tôi vắt óc suy nghĩ xem phải mở lời thế nào để kể cho ông nghe về tình trạng hôn nhân của tôi cũng như lý do tại sao tôi buộc phải ly hôn.

Tôi tự ép mình một lần nữa nhớ lại chuyện đã xảy ra với Di Khổ. "Bố ơi," tôi sẽ vừa khóc vừa kể cho ông nghe, "Anh ta bảo dù cô ấy có chết đi chăng nữa, anh ta cũng chẳng thèm quản. Anh ta cứ mặc kệ cho cô ấy chết như thế đấy!" Tôi nhớ lại việc Văn Phúc đã nướng sạch tiền hồi môn của tôi vào sòng bạc ra sao. "Đến khi không thể trộm được xu nào từ tôi nữa, anh ta liền đem thân thể của tôi ra làm vốn liếng, anh ta cười cợt nói với mấy gã đàn ông rằng nếu anh ta mất tích, bất cứ tên nào cũng có thể ngủ với tôi!" Tôi nhớ lại biết bao nhiêu đêm, sau khi đã ngủ với những người phụ nữ khác, anh ta lại quay về̀ giày vò thân xác tôi, "Anh ta còn đưa cả một người phụ nữ về giường chúng tôi, bảo tôi nhìn kìa. Đương nhiên, tôi không thèm nhìn, nhưng tôi không sao bịt chặt tai mình lại được."

Càng nghĩ đến những chuyện cũ ấy, nhịp thở của tôi lại càng dồn dập, sự căm hận lấp đầy lồng ngực tôi. Sao bố tôi lại có thể từ chối giúp đỡ tôi chứ? Dĩ nhiên ông sẽ giúp tôi rồi! Có gia đình nào lại muốn một người con rể đáng ghét như thế chứ? —— Không tình cảm, không đạo đức, không liêm sỉ. Đó là những gì tôi suy nghĩ lúc đặt chân đến căn nhà ở đường Cự Lộc Lộ của bố tôi. Nhưng tôi đã quên mất một điều: Nếu như cuộc sống của tôi trong tám năm qua đã thay đổi lớn đến thế, vậy thì có lẽ bố tôi cũng vậy.

Vừa bước qua hiên cửa, tôi lập tức phát hiện ra căn nhà này yên tĩnh đến kỳ lạ. Những cánh chớp quay ra ngoài đóng chặt mít, cứ như đã đóng suốt cả mùa đông vậy. Thế nhưng bây giờ mới là tháng Chín thôi mà, thời tiết vẫn còn khá oi bức cơ mà.

"Căn nhà to thế này, ai ở đây vậy hả mẹ?" Đạm Nhược hỏi.

"Trật tự." Văn Phúc nói.

Bởi vì tôi không quen thuộc lắm với căn nhà của bố, nên cũng chẳng chú ý đến những thay đổi khác, mãi cho đến tận sau này tôi mới phát hiện ra: Cửa chính bị hỏng, đã được sửa chữa qua loa. Cầu thang trong sân đã sụp xuống, rồi lại được sửa đổi hướng đi. Phần tường phía dưới của căn nhà được quét sơn lại rất vội vàng, màu sắc chẳng hề ăn nhập chút nào với nguyên bản ban đầu. Những khung cửa chớp phía dưới đã hỏng, vẫn chưa được thay mới.

Phải đợi rất lâu, mới có một người hầu ra mở cửa. Mụ ta dùng ánh mắt nghi ngờ nhìn đánh giá chúng tôi, tôi vội vàng nói với mụ chúng tôi là con gái, con rể và cháu ngoại của Giang Thiếu Viêm.

"Thím ạ." Tôi khách khí gọi mụ, bởi vì tôi không biết vị trí của người hầu này trong gia đình ra sao, "Tôi đến thăm bố tôi." Người mụ lùn tịt và mập mạp, tuổi đã không còn trẻ, mặc một bộ trang phục lao động bình thường, trông chẳng giống loại người hầu chuyên trông coi nhà cửa cho các gia đình đại phú đại quý chút nào, ngược lại trông giống như kiểu lao công quét rác khi không có ai nhìn thấy hơn.

"Ồ!" Mụ ta nói, "Mời vào! Mời vào!"

Nhưng mụ ta không gọi quản gia ra nghênh đón chúng tôi, mà tự mình dẫn tôi thẳng vào thư phòng của bố tôi, tôi thấy bố đang ngồi trong bóng tối, hai mắt thẫn thờ nhìn đờ đẫn về phía trước.

Bố tôi xoay người từ chiếc ghế bành lại. Ánh mắt ông lướt từ người tôi, từ người Đạm Nhược chuyển sang Văn Phúc. Lông mày bên phải của ông lập tức nhướng lên, nhưng không phải vì vui mừng, mà là vì sợ hãi, tựa như một kẻ vừa bị tóm gáy vậy. Ông vội vàng đứng bật dậy khỏi ghế, tôi thấy lưng ông đã còng xuống rồi. Ôi, tám năm nay, ông đã già đi nhiều đến thế! Tôi chờ ông hoan nghênh chúng tôi, nhưng ông chẳng thốt ra lấy một lời. Ông chỉ trân trân chằm chằm nhìn Văn Phúc không chớp mắt.

"Bố ơi." Cuối cùng tôi cũng cất tiếng gọi. Tôi huých huých cánh tay Đạm Nhược, thằng bé bước lên một bước, nhỏ giọng nói, "Ông ngoại chào ông ạ."

Bố tôi vội vã liếc nhìn Đạm Nhược, rồi lại nhìn tôi, rồi lại nhìn Văn Phúc, rồi lại nhìn tôi. Lông mày của ông lại trở về nguyên trạng. Khuôn mặt ông lộ ra biểu cảm thở phào nhẹ nhõm, rồi lại ngồi sụp xuống, thả cho cơ thể chìm nặng nề vào chiếc ghế.

"Bố có nhận được thư của con không? Đây là cháu ngoại của bố, năm tuổi rồi đấy ạ." Bố tôi dùng một tay che mặt, chẳng nói câu nào. Tôi sợ đến mức không dám nói thêm câu nào khác. Nhưng trong lòng tôi thầm nghĩ, có ai chết rồi sao? Những người khác đi đâu cả rồi?

Nhưng đúng lúc này người hầu kia nhẹ nhàng đến gọi chúng tôi, "Qua đây, qua đây thôi. Bố cô cần nghỉ ngơi rồi." Chúng tôi vừa rời khỏi phòng, mụ ta liền lớn tiếng trò chuyện bằng một điệu bộ nịnh nọt lấy lòng tôi, "Chắc chắn các người mệt lử rồi chứ gì. Lại đây nào, uống ngụm trà đã." Mụ ta quay sang Đạm Nhược, "Thế còn con thì sao, nhóc con? Chắc đói bụng lắm rồi, muốn ăn gì chưa?"

Chúng tôi bước vào một phòng khách lớn. Năm xưa chính tại nơi này, tôi đã ngồi nghe thím cả và thím mới đến xin phép bố tôi cho phép tôi và Văn Phúc kết hôn. Chỉ có điều bây giờ ghế sô-pha và rèm cửa đã phai màu, giấy dán tường đã bong tróc, trong góc tích tụ đầy bụi bặm. Chắc hẳn người hầu nhìn ra vẻ mặt kinh ngạc trên mặt tôi cùng cái nhíu mày của Văn Phúc. Mụ ta lao xăm xăm tới, vỗ phành phạch mấy cái vào đệm sô-pha, hất tung bụi bay mù mịt trong không khí. "Biết bao nhiêu việc ngập đầu, tôi bận tối mặt tối mày chẳng tài nào chăm lo xuể." Mụ ta vừa nói vừa cười hề hề, tiện tay dùng tay áo phủi sạch lớp bụi trên mặt bàn.

"Không sao đâu, không sao đâu," tôi nói, "Suy cho cùng, ai nấy đều đã chịu đủ khổ sở trong chiến loạn rồi. Tình hình đã khác xưa, ai cũng hiểu điều này mà."

Người hầu có vẻ rất vui mừng, "Đúng thế, đúng thế, ai mà chẳng bảo vậy cơ chứ!" Chúng tôi lại ngắm nghía căn phòng lộn xộn.

"Những người khác đi đâu cả rồi?" Văn Phúc không nén được thắc mắc cất lời hỏi.

"Họ thế nào rồi?" tôi hỏi, "Tam ma, Ngũ ma —— các bà ấy có khỏe không?"

"Khỏe, khỏe cả," người hầu toe toét cái miệng rộng cười nói, "Thân cốt vẫn còn tráng kiện lắm. Chỉ là lúc này không có nhà, đi thăm bạn bè rồi." Sau đó mụ ta lại nhìn Văn Phúc, có vẻ căng thẳng. "Nhưng tôi không dám chắc họ đi đâu nữa," mụ ta nhanh chóng giải thích thêm, "Nói cách khác, là tôi không biết. Tôi chẳng qua chỉ là một bà già ngốc nghếch, đầu óc lú lẫn, chẳng nhớ nổi việc gì." Đoạn mụ ta lại cười hề hề, hy vọng nhận được sự đồng cảm từ chúng tôi.

Cho nên anh thấy đấy, màn về nhà của chúng tôi thật là kỳ lạ hết chỗ nói. Ngày đầu tiên tôi hoàn toàn chẳng biết đã xảy ra chuyện gì. Tôi chỉ có thể đoán rằng chiến tranh đã khiến bố tôi tàn tạ hệt như căn nhà mà ông đang ở vậy. Cho đến tận sáng hôm sau, Văn Phúc ra ngoài thăm bạn bè, tôi mới hay biết hoàn cảnh mới của nhà mình, hiểu vì sao bố tôi lại sợ bộ quân phục Quốc Dân Đảng của Văn Phúc đến thế.

Những lời người hầu nói là sự thật: Căn nhà của gia đình chúng tôi đã trải qua muôn vàn kiếp nạn của chiến tranh. Nhưng thứ hủy hoại căn nhà không phải bom đạn, mà chính là sự hèn nhát bất tài của bố tôi. Tôi chưa từng biết đến khía cạnh này trong tính cách của bố mình. Con người ông luôn quen dùng sức mạnh của bản thân để khống chế người khác. Cho đến tận ngày hôm nay khi nhắc lại chuyện này, tôi vẫn không tài nào tin nổi tính cách của ông lại có thể thay đổi lớn đến nhường ấy. Nhưng tôi tin rằng trong thời kỳ chiến loạn, những chuyện thế này hoàn toàn có thể xảy ra ở một số người. Đây là lời Tam ma kể, lúc bà ấy về nhà đã giải thích cho tôi nghe mọi chuyện xảy ra trong gia đình. Lúc nhắc lại chuyện này bà ấy vẫn vô cùng phẫn nộ.

"Cô xem đấy, sau khi chiến tranh nổ ra, nhà máy của bố cô bắt đầu sa sút." Bà ấy nói, "Cô biết đấy, đây là chuyện ai cũng gặp phải. Việc này tiếp nối việc kia, cô chẳng tài nào xoay sở nổi. Thứ này va đổ thứ kia, rồi lại châm ngòi cho thứ tiếp theo sụp đổ theo. Nhà nhà đều không có tiền, không ai mua đồ nữa. Những cửa hàng bán quần áo cao cấp trước kia đều đóng cửa cả rồi, thế nên họ không lấy hàng từ chúng tôi nữa. Tàu thuyền hải ngoại không thể ra vào Thượng Hải, cho nên bố cô không thể vận chuyển hàng hóa của mình ra nước ngoài được nữa.

"Nhưng chúng ta vẫn còn khá nhiều tiền, cho nên thoạt đầu ai nấy đều chẳng lo lắng gì mấy. Tưởng rằng chiến tranh cứ thế kéo dài năm này qua năm khác. Bọn củ cải bắt đầu cướp đi ngày càng nhiều mối làm ăn."

"Củ cải?" tôi hỏi.

"Củ cải!" Tam ma nói, "Đây là biệt danh chúng ta đặt cho người Nhật. Bởi vì cô thấy bọn chúng đi đến đâu cũng gặm củ cải muối —— rồi phóc phóc phóc phóc —— để lại đằng sau một bãi mùi hôi thối!

"Dẫu sao đi nữa, bất kể là việc làm ăn gì bọn chúng cũng chõ mõm vào tham gia, giả vờ cái gì mà kiểm tra an ninh, kiểm tra vệ sinh chứ. Hừ! Ai mà chẳng biết bọn chúng chẳng qua chỉ muốn xem có miếng mồi béo bở nào để húp hít không thôi. Mọi người đều rõ, kẻ nào không chịu hợp tác, kẻ nào dám đưa ra ý kiến phản đối, người Nhật sẽ có lý do để cuỗm sạch mọi thứ, bao gồm cả cái mạng nhỏ của cô! Đương nhiên, ai nấy đều vô cùng cẩn trọng, tránh rước họa vào thân không cần thiết. Nhưng cô thường xuyên nghe ngóng được ai đó đã đầu hàng người Nhật, biến thành Hán gian mở cửa tiệm cho người Nhật. Bọn chúng ký kết hiệp ước yêu nước mới với lũ củ cải, kết quả khiến mọi người đều phải chịu khổ, bởi vì thế lực của người Nhật ngày càng bành trướng lớn mạnh. Cho nên hễ nghe thấy tên của những tên Hán gian này là mọi người lại nhổ nước bọt xuống đất. Nửa đêm, bọn họ lén lút dậy, đào mồ tổ tiên nhà Hán gian lên.

"Có một hôm, hình như là vào mùa hè năm 1941 ấy nhỉ, —— một tên sĩ quan Nhật cùng mấy tên tay sai đến nhà chúng tôi. Người hầu vừa mở cửa, thét lên một tiếng rồi ngất lịm đi. Tên lính Nhật bảo muốn nói chuyện với Giang Thiếu Viêm. Bọn chúng bước vào thư phòng của ông ấy. Lại có mấy người hầu trốn trong phòng bếp không dám ra rót trà, cho nên chuyện này đành phải để tôi làm thôi. Rót trà cho tên sĩ quan Nhật, đương nhiên là phải pha trà nhạt không nóng không lạnh.

"Tên sĩ quan ấy cứ hết lời ca ngợi đồ đạc trong nhà bố cô, khen món này có giá trị, món kia rất cổ nhã. Sau đó hắn ta chuyển hướng câu chuyện sang người bố cô —— hình như hắn ta để mắt đến chức vị nào đó mà hắn muốn. Hắn nói, 'Giang Thiếu Viêm, tôi rất thích phong thái và sự khôn ngoan của ông. Ông hiểu rõ cách nắm bắt tình hình mới của Thượng Hải, cách giúp thành phố này khôi phục trật tự.'

"Bố cô không thốt ra nửa lời. Ông cứ ngồi phịch trên ghế, oai phong lẫm liệt, bất động tại chỗ. Tên sĩ quan Nhật đi lại trong phòng, ngắm nghía chiếc bàn viết lớn của bố cô, những cuốn sách lớn bìa cứng, những bức tranh chữ của danh nhân treo trên tường. Hắn ám chỉ hắn rất thích treo những món đồ có giá trị này trong phòng riêng của hắn.

"'Giang Thiếu Viêm,' tên sĩ quan Nhật nói, 'chúng tôi cần sự khôn ngoan của ông để khiến những người khác cũng trở nên khôn ngoan hơn, thái độ cũng tốt hơn. Những người có tư tưởng đúng đắn như ông có thể nhanh chóng chấm dứt chiến tranh. Điều này có lợi cho Trung Quốc, đây chính là lòng yêu nước. Cứ như vậy, sẽ chẳng có gia đình buôn bán nào phải chịu khổ nữa. Mọi thứ duy trì hiện trạng.' Hắn ta quơ tay chỉ về bốn bức tranh chữ trên tường. 'Giống như những bức tranh này vậy.' Hắn nói.

"Đang nói dở câu này, bố cô đứng phắt dậy, hung tợn ném thẳng chén trà trong tay về phía bức tranh chữ! Quả thực, bốn bức tranh này có lịch sử hơn hai trăm tuổi rồi, vậy mà ông chỉ ném một cú đã hủy hoại luôn một bức trong số đó!

"Tôi thực sự cảm thấy tự hào về hành vi của ông ấy biết bao.

"Thế nên tôi chẳng hề hay biết những chuyện xảy ra trong căn phòng này. Lúc tôi rời đi, bố cô vừa hất nước trà lên bức tranh, tựa như đang nói với người Nhật rằng, 'Ta thà hủy hoại toàn bộ gia sản của mình, chứ đời nào dâng cho các ngươi.'

"Hôm sau, trông ông có vẻ vô cùng lo lắng. Nhưng tôi biết đó là vì chúng ta sắp mất toi cái nhà này rồi. Trước khi tôi kết hôn, nhà rất nghèo, cho nên tôi vốn định bụng về nhà chịu cảnh nghèo khó. Tôi đành cam chịu số phận.

"Hai ngày sau, trên bức tường giáp mặt đường treo lên một lá cờ, trước cửa chính đóng một tấm biển lớn, đại loại nói chủ nhân của căn nhà này, ông chủ công ty mậu dịch dệt may Ngũ Phong Giang Thiếu Viêm, ủng hộ chính phủ mới của Trung Quốc, trung thành với Thiên hoàng Nhật Bản. Các tờ báo lớn nhỏ trong vùng cũng đều đăng tải tin tức này. Trên báo còn đăng bậy bạ gì mà Giang Thiếu Viêm cổ vũ mọi người hợp tác với người Nhật, đấu tranh chống lại chủ nghĩa đế quốc nước ngoài, khai sáng một Trung Quốc mới.

"Người hầu nhà chúng tôi suýt chạy trốn sạch trơn. Gia đình con trai tôi cũng đi sạch. Con trai, con dâu và cháu nội của Ngũ ma vẫn ở lại đây, nhưng bọn họ hệt như lũ gà chỉ biết mổ thóc dưới đất, chẳng thèm ngẩng đầu lên xem ai là kẻ rắc thóc. Dẫu sao đi nữa, tôi muốn hỏi bố cô tại sao lại làm như thế. Ông ấy chẳng thèm đáp lời. Thế là tôi quát mắng ông ấy một trận, đây là lần đầu tiên tôi nổi giận lôi đình đến thế! Kể từ dạo đó, chẳng ai thèm ngó ngàng đến ai nữa.

"Qua một tuần, nhà máy chính thức hoạt động trở lại, bọn chúng bắt đầu vận chuyển hàng hóa ra nước ngoài, trên báo lại đăng tin tức thành công về doanh nghiệp mới khai trương này.

"Tôi lại quát mắng bố cô một trận —— 'Hay thật đấy, hóa ra anh đi làm Hán gian là vì cái này đây! Vì cái này mà mồ mả tổ tiên nhà chúng ta đã bị lật tung lên rồi. Vì cái này mà chúng ta phải xuống vạc dầu, đời đời kiếp kiếp không ngoi lên được nữa.' Bố cô cũng chửi mắng lại, định đánh tôi ngã nhúi xuống đất. Ông vừa giơ một cánh tay lên, giống hệt như một con vịt bị vặn cổ vậy, không tài nào xoay lại được nữa. Sau đó ông ngã quỵ xuống ghế, không nói nổi thành lời. Ông bị đột quỵ rồi.

"Phải mất mấy tháng trời, tay chân ông mới hồi phục lại gần như trước, không để lại di chứng gì. Nhưng ông vẫn không thể nói chuyện —— mặc dù tôi vẫn luôn hoài nghi là ông không muốn nhắc đến những chuyện tày trời do chính mình gây ra. Một bên miệng ông vẫn có thể cử động. Nhưng khuôn mặt ông dường như bị chia thành hai nửa, biểu cảm của mỗi nửa hoàn toàn khác nhau, một nửa là biểu cảm bình thường của ông, nửa kia là biểu cảm đã đánh mất, không tài nào giấu giếm đi được nữa.

"Đến khi chiến tranh kết thúc —— cô hoàn toàn có thể đoán được chuyện gì đã xảy ra. Binh lính Quốc Dân Đảng xông vào nhà những kẻ buôn bán từng câu kết với người Nhật. Nhà máy của chúng tôi lập tức đóng cửa, chờ đợi cấp trên đưa ra quyết định xử lý tên Hán gian này như thế nào. Sau đó rất nhiều người phẫn nộ kéo đến ném đá. Bọn họ bôi trét khẩu hiệu và những thứ dơ bẩn khác lên tường trong và ngoài nhà chúng tôi: 'Kẻ nào nịnh hót bợ đỡ, kẻ nào ăn cứt lừa.'

"Chẳng bao lâu sau, Quốc Dân Đảng xông vào nhà chúng tôi. Đương nhiên bố cô không thể nói chuyện, thế là tôi đứng ra giải thích ngọn ngành. Tôi kể cho bọn họ nghe từ tận đáy lòng bố cô căm hận đám người Nhật này đến nhường nào. Nhưng lúc người Nhật tiếp quản công việc làm ăn của ông, ông đã bị đột quỵ rồi, ông không còn sức lực để chống cự —— chúng ta đều biết căn bản là ông chắc chắn sẽ chống cự. Ông bất lực, không nói nổi thành lời, bọn họ cũng nhìn ra được. Tôi còn kể rằng Giang Thiếu Viêm đã dốc hết sức mình để mắng mỏ người Nhật. Tôi cho bọn họ xem bức tranh bị vấy bẩn nước trà.

"Phía Quốc Dân Đảng nói cái cớ này không thuyết phục, bởi vì ai nấy đều đinh ninh ông là một tên Hán gian. Nhưng tạm thời bọn họ tha cho ông một con đường sống, không cho ông ăn kẹo đồng như những tên Hán gian khác. Sau này sẽ quyết định hình phạt thích đáng dành cho ông sau."

"May nhờ có bà —— một người tốt bụng thế đấy!" Tôi bảo Tam ma.

Tôi bước vào căn phòng lầu trên mà mẹ tôi từng ở, nhớ lại câu chuyện Tam ma vừa kể. Tôi không biết nguyên nhân gì đã khiến bố tôi thay đổi chủ ý. Là vì sợ hãi, hay vì tham lam tiền tài? Hay chẳng qua chỉ vì muốn cầu an mà nảy sinh một ý niệm sai lầm?

Nhưng bất luận lý do gì đi nữa cũng vô ích. Trong mắt người ngoài, chẳng có lý do chính đáng nào hết. Sai lầm mà bố tôi phạm phải, là một sai lầm tày trời. Trong lòng tôi hiểu rõ, ông đã làm ra chuyện tồi tệ nhất, vì để bảo toàn tính mạng mà vứt bỏ danh tiếng, trở thành một tên Hán gian.

Nhưng nghĩ lại, sao bạn có thể trách cứ sự nhát gan và yếu mềm của một người, trừ phi chính bạn cũng đối mặt với hoàn cảnh tương tự, và đưa ra một sự lựa chọn khác? Khi chúng ta đối mặt với thời khắc sinh tử, phần hèn nhát trong bản tính sẽ để cho lòng dũng cảm trốn mất tăm, bám chặt lấy hy vọng sống sót, làm sao bạn có thể trông mong tất cả mọi người đều có thể trở thành anh hùng, thà cưa đầu chứ không chịu khuất phục chứ?

Tôi nói thế này, không phải là đang chối bỏ trách nhiệm thay cho ông ấy. Từ tận đáy lòng, tôi đã tha thứ cho ông. Bởi vì khi bạn tin rằng mình thực sự chẳng còn sự lựa chọn nào khác, bạn sẽ cảm thấy nỗi bi ai tương tự, bởi vì nếu tôi trách mắng bố mình, vậy thì tôi cũng đành phải trách mắng cả mẹ tôi, bà ấy cũng đã làm ra chuyện tương tự, rời bỏ tôi để đi tìm cuộc sống của riêng mình. Sau đó, tôi lại phải trách mắng cả chính bản thân mình, vì những sự lựa chọn được đưa ra với cùng một mục đích ấy.

Văn Phúc nghe xong chuyện bố tôi làm, thoạt đầu ra vẻ phẫn nộ lắm. Một tên câu kết với người Nhật! Một tên Hán gian bán nước hèn hạ! Cứ làm như bản thân hắn không đốn mác như vậy không bằng. Chẳng phải hắn từng lái máy bay quay đầu bỏ chạy vì sợ bị người Nhật bắn rơi đấy thôi? Chẳng phải hắn từng mặc kệ những phi công khác đối mặt với lằn ranh sinh tử để tự mình chuồn êm đấy ư?

Anh đúng là nên nhìn cái bộ dạng của Văn Phúc lúc đó, hắn lớn tiếng mắng mỏ bố tôi đang ngồi thừ ra trên ghế không nói nửa lời, "Tôi nên tự tay giao ông cho Quốc Dân Đảng mới phải!"

Mắt phải của bố tôi trợn trừng vì kinh hãi, còn mắt trái thì trân trân vô cảm nhìn chăm chú, ra vẻ mặc kệ đời.

Sau đó Văn Phúc lại nói, "Nhưng may cho ông là gặp thời vận, con gái ông đã gả cho một người có tấm lòng lương thiện như tôi đây."

Tôi lập tức liếc nhìn Văn Phúc một cái, ngay tức khắc sinh lòng nghi ngờ.

"Bố em bây giờ cần sự giúp đỡ của anh," hắn nói với tôi, "Bố em đang gặp rắc rối với Quốc Dân Đảng. Anh là một vị anh hùng của Quốc Dân Đảng, anh có thể bảo vệ ông ấy."

Tôi chực hét toáng lên, "Bố! Đừng nghe hắn nói nhảm! Những gì hắn nói toàn là dối trá." Nhưng bố tôi đã ngẩng đầu lên, dùng nụ cười nửa vời mang ơn nhìn Văn Phúc.

Lúc ấy ý chí của bố tôi đã trở nên vô cùng yếu đuối, ông đã tin vào những lời Văn Phúc rót vào tai, tưởng rằng chỉ cần giao phó mọi nghiệp vụ tài chính cho con rể quản lý là sẽ chẳng gặp rắc rối gì nữa. Nói cho anh hay, tiền của bố tôi chính là bị nướng sạch theo cách đó đấy!

Chân trước chúng tôi vừa bước vào nhà bố, chân sau mẹ, bố của Văn Phúc cùng họ hàng nhà họ đã kéo đến. Có mấy người hầu cũ cũng quay về, nhưng mẹ Văn Phúc lại thuê thêm vài người mới. Tam ma và Ngũ ma vô cùng bất mãn với sự sắp xếp của bọn họ, bởi vì bây giờ mẹ của Văn Phúc đã lên làm tổng quản của căn nhà này, mụ ta lật tung mọi thứ lên trời.

Mụ ta bắt người đàn ông vốn chỉ biết chăm sóc vườn tược đi đập thảm, sai người phụ nữ chỉ biết nấu ăn đi giặt quần áo, sai người đổ bô đi thái rau củ. Mụ ta sáng nắng chiều mưa khiến người hầu ngơ ngác không kịp trở tay. Mụ ta nổi trận lôi đình, buông lời đe dọa sẽ chặt đầu bọn họ, vứt xác cho ruồi muỗi ăn. Cho nên anh thấy đấy, có lẽ người mẹ này đã truyền cái tính khí tồi tệ của mình sang cho con trai rồi. Chẳng bao lâu sau, phần lớn người hầu đều cuốn gói ra đi.

Tôi thấy thói quen tiêu xài phung phí của Văn Phúc cũng học lỏm từ mẹ hắn mà ra. Tôi chưa từng thấy người phụ nữ nào tham lam đến thế. Ý tôi là mụ ta không chỉ biết cách mua lụa là châu báu, mà còn biết cách nắm chặt tay lại, đến một xu cũng đừng hòng lọt vào túi người khác. Có một lần tôi thấy mụ ta lôi ra một tờ tiền mệnh lệnh trăm tệ sai một người hầu đi mua thức ăn. Hồi đó, một trăm tệ đã chẳng còn giá trị gì nữa rồi, đại khái chỉ tương đương với vài tệ bây giờ thôi. Người hầu đó từ chợ về nhà, mẹ Văn Phúc bèn liệt kê danh sách những thứ mụ ta mua: "Cái này bao nhiêu? Cháu chắc chắn chứ? Cái kia bao nhiêu? Cháu chắc chắn chứ?" Mụ ta bắt người hầu tính đi tính lại hết lần này đến lần khác, tổng cộng đã trả bao nhiêu tiền, còn lại bao nhiêu tiền, lúc mụ ta tưởng hụt mất một hào —— còn chưa bằng một phần mười xu Mỹ, liền gặng hỏi mụ ta rất nhiều câu. Người hầu đó đã làm việc trong nhà bố tôi gần bốn mươi năm trời, tức điên lên liền bỏ việc ngay lập tức.

Đồng thời, Văn Phúc và bố hắn nướng sạch một khoản tiền lớn trên trường đua ngựa. Mẹ Văn Phúc tối nào cũng mời người đến chơi mạt chược. Những người này hoàn toàn chẳng tính là bạn bè gì, còn có mấy kẻ trông giống như đến để biểu diễn, bộ dạng đánh mạt chược của bọn họ, cứ như chẳng hề bận tâm chút nào đến sự thắng thua của đống tiền chất đống ngay trước mắt vậy.

Anh có biết bọn chúng kiếm đâu ra lắm tiền thế không? Chính là vơ vét từ căn nhà này ra đấy! Cả nhà bọn họ đều có thói trộm cắp vặt. Nhà chúng tôi đã biến thành sàn giao dịch, người từ cửa chính bước vào, còn đồ đạc, thảm trải sàn, cổ vật và đồng hồ thì từ cửa sau khiêng ra. Bọn chúng hoàn toàn chẳng màng tới việc những món đồ này có ý nghĩa thế nào đối với gia đình tôi. Tôi tận mắt thấy có người khiêng bàn trang điểm của mẹ tôi đi, chính là chiếc bàn mà bà từng đựng bánh quy Anh quốc trong đó. Ngày hôm sau chiếc ghế ngồi chải đầu của bà cũng không cánh mà bay.

Có một lần tôi và bố tôi thấy một gã đàn ông khiêng một chiếc bàn từ thư phòng của bố ra, chính là chiếc bàn phán quan vừa dài vừa rộng, bốn chân chạm trổ hoa văn. Chiếc bàn này đã được truyền qua mấy đời trong gia tộc bố tôi, tính ra cũng phải có lịch sử hai trăm năm rồi. Tôi thấy bố tôi cố nén không thốt lên tiếng kêu, muốn giữ lại chiếc bàn này. Thế nhưng chiếc bàn kia hình như cũng chẳng muốn đi, mãi mà không lọt qua nổi khung cửa. Người khiêng thuê hì hục xoay tới xoay lui thế nào cũng không mang ra ngoài được. Cuối cùng, gã đàn ông khiêng bàn nói với Văn Phúc rằng hắn ta muốn đòi lại tiền công. Bố tôi thở phào nhẹ nhõm nở một nụ cười nhạt. Nhưng ngay sau đó một trận cãi vã bùng nổ. Văn Phúc nhất quyết không chịu trả lại tiền. Gã đàn ông kia liền bảo, "Ông tự nhìn xem, chiếc bàn đó có lôi ra nổi đâu."

"Vấn đề này anh tự giải quyết đi." Văn Phúc nói.

"Không có cách nào giải quyết nổi!" Gã kia hét lên.

Hai bên giằng co mất mấy phút đồng hồ, sau đó Văn Phúc nhặt một cây ghế lên, chưa đợi ai kịp ngăn cản, hắn đã đập phăng chân bàn gãy làm đôi. "Được rồi, tôi giải quyết vấn đề giúp anh rồi đấy." Hắn nói. Ước gì anh nhìn thấy vẻ mặt đau đớn trên gương mặt bố tôi lúc đó.

Chẳng ai có thể ngăn cản Văn Phúc tùy ý bán tháo và phung phí gia sản, mấy người vợ của bố tôi, những người con gái và con rể khác của ông, đều lực bất tòng tâm. Bọn họ đều lực bất tòng tâm chẳng giúp được gì. Hễ có ai dám hé răng nói nửa câu trước mặt hắn, hắn liền gạ gẫm quát lớn, "Chẳng lẽ muốn tôi tống tất cả các người cùng với tên Hán gian này vào tù hết mới vừa lòng hả? Các người muốn tôi làm thế thật sao?" Kể từ dạo đó, chẳng còn ai dám thốt lên nửa lời.

Bây giờ tôi sẽ kể cho anh nghe một bí mật. Có lẽ tôi cũng câm nín chẳng hé răng, nhưng trong đầu tôi vẫn luôn nghĩ cách đối phó. Tôi kể cho anh nghe chuyện này chẳng mấy vẻ vang gì, bởi vì chẳng qua chỉ là mấy chuyện vặt vãnh không thấy ánh mặt trời, cốt để làm tôi vui vẻ chốc lát mà thôi.

Có một lần tôi trộm một quân mạt chược. Khi mẹ Văn Phúc và bạn bà ta ngồi xuống đánh mạt chược, bọn họ lập tức phát hiện thiếu mất một quân, không đánh tiếp được nữa. Tôi nghe thấy mẹ Văn Phúc hét lên, "Có chắc không thế? Đếm lại xem nào, xếp lại xem nào!" Tôi buộc phải lấy tay ôm chặt lấy bụng mình để nén tiếng cười bật ra ngoài.

Lại có một lần, vì Văn Phúc nhất quyết không chịu chi tiền để sửa sang lại toàn bộ những ô cửa sổ bị vỡ, tôi tức lộn ruột. Tôi bảo hắn "Ruồi muỗi và côn trùng sẽ bay vào nhà mất", thế nhưng hắn phớt lờ chẳng thèm bận tâm. Thế là hôm đó tôi liền cầm một chiếc hộp nhỏ, đi ra khu vườn, giấu nó dưới đám đá tảng. Sau đó tôi bước vào căn phòng mà Văn Phúc đã chiếm đoạt từ tay bố tôi, tôi rải lũ côn trùng ấy xuống bàn viết và đệm giường của hắn. Hồi đó phòng của tôi và hắn đã phân chia ngủ riêng rồi, ban đêm tôi nằm nghe hắn chật vật xua đuổi lũ côn trùng này, miệng la lối oai oái, dùng dép lê đập bôm bốp. Đương nhiên, hắn vẫn chẳng thèm sửa những ô cửa sổ vỡ ấy.

Sau đó, tôi lại tìm cách đòi lại căn phòng của mẹ tôi để làm phòng riêng của mình. Lúc mẹ Văn Phúc mới đến, bà ta đã chấm ngắm căn phòng này, hễ thấy bà ta lảng vảng bên trong là tôi lại thấy bực mình. Có một lần tôi nghe thấy bà ta lầm bầm phàn nàn, "Đêm qua lạnh quá, cứ như gió lùa xuyên qua vách tường vào phòng vậy." Tôi chớp ngay thời cơ vội vàng lên tiếng, "Ấy, cháu nghe nói trong căn phòng này từng có một người phụ nữ chết đấy ạ." Tôi quay đầu sang hỏi Tam ma, "Có thật thế không ạ?"

Tam ma hiểu ý ngay tắp lự, lập tức tiếp lời, "Không biết là tự tử hay bị mưu sát nữa, chẳng ai hay biết, từ trước đến nay chưa từng làm rõ trắng đen. Đương nhiên, đó là chuyện của rất nhiều năm về trước rồi, bây giờ không cần phải sợ đâu." Tối hôm đó, mẹ Văn Phúc nằng nặc đòi đổi phòng với tôi.

Nhưng dẫu là hồn ma của mẹ tôi cũng không tài nào ngăn cản được Văn Phúc nửa đêm lén lút chuồn vào phòng tôi, trên người sực nức mùi vị của quán bar: xì gà, rượu whisky và nước hoa. Hắn lật ngửa tôi lại, bẻ quặt tay và chân tôi ra, tựa như tôi là một chiếc ghế xếp vậy. Sau khi thỏa mãn xong, hắn liền trèo dậy, quay về phòng mình. Giữa hai chúng tôi chẳng nói với nhau nửa lời.

Tôi cũng trèo dậy. Trong phòng tôi lúc nào cũng đặt sẵn một chậu nước, chính là chuẩn bị sẵn vì chuyện này. Tôi làm ướt một chiếc khăn thô dùng làm khăn mặt, rồi cọ rửa thân thể, tôi dùng sức chà đi chà lại vô số lần những chỗ bị hắn chạm vào. Rửa xong, tôi liền hất hắt chậu nước dở ấy qua cửa sổ ra ngoài. Tõm!

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Đàm Ân Mỹ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.