Thê Tử Của Táo Thần

Lượt đọc: 66 | 0 Đánh giá: 0/10 Sao
★★★★★★★★★★
★★★★★★★★★★
« Lùi Tiến »
Chương 20
Bốn Cô Con Gái Bên Bàn

❊ ❊ ❊

Còn nhớ Đạt Đức Na Phùng không? Cô ấy thường đến nhà thờ của chúng tôi, có ba cô con gái, hai cậu con trai, một người làm bác sĩ. Cô ấy đã mặc một chiếc lễ phục màu đỏ trong buổi tiệc đính hôn của Bảo Bảo.

Hải Luân nói, Đạt Đức Na vừa phát hiện một người con trai của cô ấy có vấn đề về tâm thần. Là con trai của Đạt Đức Na có vấn đề, chứ không phải con của Hải Luân. Mặc dù Hải Luân nói cô ấy luôn lo lắng cho Phất Lan Khắc, tiền đồ không chắc chắn. Nhưng hễ nghe tin con trai của Đạt Đức Na có vấn đề, trong lòng cô ấy liền cảm thấy dễ chịu hơn rất nhiều. Nhắc đến Phất Lan Khắc, chứ không phải con trai Đạt Đức Na, cô ấy nói: "Tôi ít nhất nên vui mừng, không cần phải bận tâm lo lắng này vì người trong nhà chúng ta."

Tôi thầm nghĩ, đây nào phải vui mừng, đây là một cái cớ! Ở Trung Quốc, mọi người đều thích dùng lý do kiểu này, nhìn thấy nỗi khổ của người ta, bạn liền không cần phải bận tâm suy nghĩ về vấn đề của chính mình nữa.

Cớ sao bạn lại phải dùng cách so sánh này? Lối suy nghĩ như vậy chỉ khiến bạn cảm thấy sợ hãi. Bạn chỉ nghĩ đến việc mình sẽ mất đi nhiều hơn, chứ không mong ước sở hữu những thứ tốt đẹp hơn.

Nếu tôi ở Trung Quốc mà suy nghĩ như thế, thì đã tiếp tục ở lại đó rồi. Bởi vì tôi nhìn thấy còn rất nhiều, rất nhiều người sống khổ sở hơn tôi.

Ví dụ như ở Thượng Hải, sau khi chiến tranh kết thúc, bạn có thể nhìn thấy đủ loại ăn mày, rất nhiều là phụ nữ, ngồi bên lề đường. Mấy người treo tấm biển viết về hoàn cảnh của họ, giống như quảng cáo vậy: Người này bị chồng đuổi ra khỏi cửa; người kia cả nhà chết sạch trong loạn lạc; chồng của người này nghiện thuốc phiện, đem bán sạch gia sản, đến cả con cái cũng bán luôn.

Có lẽ một số câu chuyện đã bị phóng đại. Nhưng bạn biết tôi đã nghĩ gì không? Có một lần tôi tự nhủ, tôi thà đi ăn mày, chứ nhất định phải ly hôn!

Tôi sợ, nếu như tôi biết việc mình bỏ đi có thể tìm được cuộc sống tốt hơn, tình huống đã hoàn toàn khác. Nhưng tôi không có hy vọng bỏ trốn kiểu này.

Vấn đề này tôi đã cân nhắc từ lâu. Bạn có biết tôi đã quyết định thế nào không? Tôi vẫn muốn ly hôn! Thật đấy. Một tối nọ tôi nằm trên giường, để vầng trăng làm chứng cho mình, tự thề với lòng.

Tôi không biết đây là cái gì, có lẽ là sự bướng bỉnh chăng. Tôi chỉ biết mình không thể tiếp tục sống thế này với Văn Phúc nữa. Bạn thấy đấy, trước khi tìm được thứ mà tôi khao khát, tôi sớm đã hạ quyết tâm rồi.

Tôi định đi đảo Sùng Minh một chuyến trước, thăm lão thẩm và tân thẩm, rồi sau đó sẽ rời đi. Chỉ có như vậy mới hợp lẽ phải.

Nhưng tôi vừa định lên đường, Đạm Nhược liền phát sốt cao, rồi lại chuyển thành bệnh vàng da. Tiếp theo tôi cũng mắc phải căn bệnh tương tự. Tôi nghĩ, căn bệnh này vốn đã nhiễm từ lúc chúng ta rời Côn Minh, đi cùng đường với Hồ Lan và Gia Quốc rồi. Tôi biết điều này, bởi vì Gia Quốc có gửi một bức thư, nhắc đến tổ ấm mới của họ cũng như thành tích anh ấy đạt được ở chức vụ mới. Cuối bức thư, Hồ Lan dùng nét chữ trẻ con viết vài chữ. Cô ấy nói bố mẹ Gia Quốc đối xử với cô ấy rất tốt, cô ấy đã mua một chiếc bàn mới, đẹp không chê vào đâu được. Cuối cùng cô ấy nói, sức khỏe cô ấy rất tốt, nhưng dạo gần đây vẫn luôn ốm đau. Gia Quốc thêm vào một câu, sắc mặt cô ấy vàng như lúa ngoài đồng, gầy như liềm gặt lúa.

Cho nên bạn thấy đấy, tôi cho rằng đây là do Hồ Lan đã ăn cua sông Trường Sa nên mới thành ra như vậy. Chúng ta cũng vì ăn thứ này mà ngấm bệnh. Nó vẫn luôn ở trong bụng chúng ta, bây giờ cuối cùng cũng phát bệnh rồi.

Dù thế nào đi nữa, sau khi Đạm Nhược đổ bệnh, tôi đành phải mang một lời nhắn đến chỗ lão thẩm và tân thẩm, báo cho họ lý do chúng tôi không thể qua được. Sau chiến tranh, giữa Thượng Hải và đảo Sùng Minh vẫn chưa thông điện thoại.

Qua một tuần, tôi nhận được bức thư hồi âm của lão thẩm, được viết bằng chữ Trung Quốc bập bẹ. Giống như Hồ Lan, lão thẩm chưa từng được đi học. Mãi đến khi lớn lên bà mới học viết thư, cho nên chữ Trung Quốc của bà không phải loại quy chuẩn mà bạn học. Bà không biết cách sắp xếp câu chữ, mà nghĩ trong lòng thế nào thì viết ra thế ấy.

"Vị lão thẩm này của cháu," bà viết, "vừa nhìn thấy người đàn ông đó đứng ở cửa, liền lo lắng muốn chết, suýt thì xé đôi bức thư ra. Cháu sao có thể nói chỉ là bệnh vặt, không sao chứ? Sức khỏe luôn là quan trọng nhất, sức khỏe của mọi người đều rất tốt, không giống như Mẫu thái thái. Cháu còn nhớ bà ấy không, chính là người làm mai cho cháu và nhà họ Văn ấy? Sự việc xảy ra vào tuần trước. Bà ấy đứng một lúc, nói có con ruồi cứ quấn lấy mình, chốc lát sau người đã nằm bẹp dưới đất không dậy nổi nữa. Thật là nghiệt ngã quá đi. Sau đó chồng của Mẫu thái thái chạy xuống lầu gọi lang y. Ông ấy gọi, gọi, gọi, thế mà gọi mãi không thông! Đường dây bị chiếm dụng hết rồi! Ông ấy lại gọi, gọi, gọi. Vô dụng. Thế là ông chạy ra ngoài đường, quát một đứa trẻ, này, mau đi gọi lang y, mau lên, cho tiền. Đứa bé liền chạy đi, giống như con ngựa trên trường đua vậy, đây là người phụ nữ nhà bên kể lại. Ai mà biết lang y sao lại dây dưa lâu thế chứ? Ai mà biết ông ta đang chữa bệnh cho ai chứ? Dù sao cũng chẳng phải cho tôi. Qua hai ba tiếng đồng hồ, lang y rốt cuộc cũng bước vào cổng nhà họ Mẫu. Cháu đoán ông ta nhìn thấy gì nào? Mẫu thái thái đang đè lên người chồng mình mà khóc, ông ấy nằm dưới đất người đã lạnh ngắt, chết rồi. Cháu thử nghĩ xem, ông ấy tưởng vợ mình chết, nên bị dọa cho chết khiếp. Bà ấy không chết, ông ta lại chết, chết một cách không rõ ràng minh bạch. Ta bảo thúc thúc của cháu đấy, thế nên cháu phải tin ta, chúng ta nên sửa điện thoại rồi. Hồi đánh nhau, điện thoại chẳng linh gì cả. Hồi đó thúc thúc của cháu ở xưởng, ta đang định gọi điện cho ông ấy, thế mà gọi mãi không được. Lúc này thúc thúc của cháu lại nói, ai cần điện thoại chứ? Sức khỏe của ta không tốt lắm, ông ấy thừa biết chứ. Ta mà ngã xuống đất, không biết sẽ thế nào đây. Văn Văn, đừng lo lắng cho ta, nhưng cháu nếu đến đây, ngàn vạn lần phải nói với thúc thúc, dì nói rất đúng, nên sửa điện thoại rồi. Cháu phải hỏi ông ấy, cái nào quan trọng hơn, điện thoại hay là vợ? Ta đã nói rồi, sức khỏe là quan trọng nhất. Cháu mau đến đi. Nếu thấy lạnh, thì ăn chút đồ nóng, nếu thấy sốt, thì ăn chút đồ lạnh. Chừng nào đến thì viết thư bảo ta một tiếng. Giờ ta phải dừng bút, đi dự đám tang của Mẫu tiên sinh đây. Hỏi thăm mọi người nhé."

Khi tôi mang theo Đạm Nhược cuối cùng cũng đến được đảo Sùng Minh, thì đã qua năm mới năm 1946 rồi.

Tôi đã nói với bạn từ trước, các thím của tôi hồi nhỏ đối xử với tôi thế nào. Cho nên tôi vẫn luôn tưởng rằng họ không mấy quan tâm đến mình, họ xem tôi là cái gai trong mắt, một kẻ ăn bám. Tôi vẫn luôn nghĩ tình cảm của mình dành cho họ cũng chẳng có gì sâu sắc. Tôi cớ gì phải qua đó?

Cho nên bạn thử nghĩ xem, khi chiếc thuyền đáy bằng của chúng tôi áp sát hòn đảo kia, tôi kinh ngạc phát hiện nước mắt làm cay xè khóe mắt. Tôi tự nhủ, đây chẳng qua chỉ là do gió lạnh thổi thôi. Nhưng tôi vừa nhìn thấy họ —— thúc thúc, lão thẩm, tân thẩm —— đang đứng trên cầu cảng vẫy tay về phía tôi, vừa hò vừa hét, "Con bé ở kìa!" tôi mới biết không phải do gió thổi.

Họ trông đều đã già đi, đặc biệt là lão thẩm. Bà đã đánh mất vẻ tinh ranh tháo vát của những năm tháng trước. Ngay cả đôi mắt vốn đen láy của bà cũng mất đi thần thái của thuở ban đầu. Trên đầu tân thẩm xuất hiện rất nhiều tóc bạc, mỗi một nụ cười là trên mặt lại hằn lên những nếp nhăn sâu hoắm, giống như mạng nhện vậy. Thúc thúc có vẻ như đang mộng du, mỗi một bước đi đều có người nhắc nhở, "Cẩn thận! Đi lối này!"

Thực ra, tôi vừa nhìn thấy dáng đi của thúc thúc liền cảm thấy ông ấy thật quá giống với bố tôi. Thần trí của họ hoảng hốt tương đương, tính cách hèn nhát tương đương. Ánh mắt của họ đờ đẫn, khi lắng nghe ý kiến của người khác, bản thân lại chẳng thể tự chủ ý kiến. Điều này khiến tôi nghĩ đến việc hai người họ từ trước đến nay luôn giống nhau ở điểm này. Rất nhiều năm qua, họ chỉ giả vờ ra dáng chủ gia đình, khi không biết nên nói gì cho phải thì lớn tiếng quát tháo, lúc bản thân sợ hãi thì đi hù dọa người khác.

Lão thẩm sờ hết lên mặt tôi rồi lại sờ, nói với tôi, "Á chà! Á chà! Nhìn cháu xem, vừa trắng vừa gầy! Đứa trẻ này, chắc không phải là con trai của cháu đấy chứ, đã lớn thế này rồi ư?"

Đạm Nhược bước lên một bước, đem món quà tôi mua, một ít nhân sâm vô cùng quý giá dâng lên lão thẩm. "Tặng cho bác ạ." Đạm Nhược nói. Thằng bé nhíu mày một cái, sau đó nhớ ra những lời mình nên nói: "Chúc bác sống lâu trăm tuổi." Thằng bé lại nhíu mày. "Sức khỏe vĩnh viễn mạnh khỏe." Thằng bé nói thêm một câu. Thằng bé lại nhíu mày một cái, rồi quay đầu sang hỏi tôi: "Nói xong chưa ạ?" Tôi gật đầu.

Lão thẩm và tân thẩm xoa đầu thằng bé, mười phần vui vẻ nói, "Trong thư dạo gần đây của cháu hình như không nhắc đến việc nó năm mới mới có sáu tuổi nhỉ. Sao lại có thể thế được cơ chứ? Nó thông minh lắm đấy. Nhìn đôi mắt của nó xem, y hệt như Tiểu Công vậy."

Tôi không biết là do năm tháng trôi qua khiến tấm lòng của bà mềm mẻo lại, hay là vì tôi chịu quá nhiều khổ sở trong cuộc sống, nên đây là lần đầu tiên tôi nhìn thấy cảnh tượng như thế này.

"Tiểu Công và Tiểu Cao đâu ạ?" tôi hỏi, "Họ chắc là đã —— bao nhiêu tuổi rồi nhỉ —— mười lăm mười sáu rồi chứ?"

"Một đứa mười chín, một đứa hai mươi!" tân thẩm nói.

"Đã lớn thế rồi cơ à! Họ đang làm gì vậy? Đã vào đại học danh tiếng chưa?"

Lão thẩm và tân thẩm nhìn nhau, như đang cân nhắc xem nên trả lời thế nào cho phải.

"Họ hiện đang làm việc ở xưởng đóng tàu, cứ đi theo con đường này xuống là tới." Tiểu thẩm cuối cùng cũng lên tiếng.

"Là sửa tàu," lão thẩm nói thêm một câu, "nhưng chẳng bao lâu nữa chúng nó sẽ đến đại học để đi học."

"Thực ra, không phải tự chúng nó sửa tàu đâu," lão thẩm nói, "Chúng nó mang sắt thép đến cho các công nhân khác. Một đứa múc nguyên liệu, đứa kia đẩy xe cút kít, công việc vất vả lắm."

Tôi cố gắng tưởng tượng ra khung cảnh này, hai đứa trẻ được nuông chiều từ bé nay đã lớn khôn, lại phải làm những công việc chân tay nặng nhọc nhường ấy.

"Á chà, Văn Văn, cháu xem tình hình là thế này," tân thẩm liều mạng giải thích, "trong thời gian chiến tranh việc kinh doanh của thúc thúc cháu rất tệ. Rất nhiều máy móc đều hỏng hóc cả, lại chẳng có tiền sửa chữa, để vực dậy nhà xưởng. Cho nên cháu xem gia đình chúng ta đã xảy ra chuyện như vậy đấy," bà nói, "cây lớn chết, cỏ dưới gốc cây cũng héo tàn."

"Á chà," tôi nói, "nghe những chuyện này thực khiến lòng người khó chịu."

"Chuyện khó chịu hơn cháu nằm mơ cũng chẳng thể ngờ tới được đâu." Đại thẩm nói. Họ cùng tôi và Đạm Nhược đi một vòng quanh nhà, đến góc đông cũ và góc tây mới, cho tôi xem ý của họ là thế nào.

Căn nhà lớn đã tiêu điều tàn tạ, vôi trên tường bong tróc, sàn nhà cũng nứt nẻ, để lộ ra lớp bùn nhão bên dưới. Giữa giường đều lún sâu xuống, cũng chẳng có tiền để căng lại dây cóng. Nhưng điều khiến tôi đau lòng nhất chính là căn nhà kính.

Tất cả những ô cửa sổ nhỏ hoặc là nứt hoặc là vỡ. Lớp sơn trên khung gỗ bong tróc từng mảng như mảnh vụn. Trải qua mưa gió bao năm, mọi thứ bên trong hoặc là mục nát hoặc là mọt ăn đen sì. Thay đổi lớn quá vậy.

Nhìn thấy tất cả những điều này, nghe họ kể về những biến cố xảy ra trong nhà, sao tôi có thể trách lão thẩm và tân thẩm đã mai mối cho tôi một cuộc hôn nhân như thế này chứ? Sao tôi có thể yêu cầu họ giúp tôi thoát khỏi cuộc sống đau khổ của mình chứ? Không, tôi không thể đưa ra yêu cầu này với họ.

Chúng tôi đứng bên ngoài nhà kính, bỗng nhiên tôi nhớ đến Hoa Sinh. "Con gái của hai bác thế nào rồi ạ?" tôi hỏi tân thẩm, "Nó vẫn ở căn nhà trên đường Hải Đức chứ? Lức cuối cùng tôi nhận được thư của con bé là từ hai năm trước. Trong mỗi bức thư nó đều xin lỗi vì đã không hồi đáp kịp thời, ngoài ra thì chẳng nói gì nữa. Hoa Sinh! Quả là một cô ngốc!"

Vừa nghe đến cái tên Hoa Sinh, thúc thúc dường như tỉnh hẳn, ông khinh miệt hừ mũi một tiếng, rồi đứng dậy bỏ đi, quay về nhà. "Hoa Sinh chết rồi!" ông quay đầu lại quát lớn với chúng tôi, khiến tôi và Đạm Nhược giật mình hoảng hốt.

"Cái gì! Thật á?" tôi hét lên, "Hoa Sinh —— chết rồi á?"

"Thúc thúc cháu vẫn còn đang giận nó đấy." tân thẩm giải thích.

"Đạm Nhược," lão thẩm hỏi, "cháu đói chưa?"

Đạm Nhược lắc đầu.

"Đi về nhà với nhị gia đi con." Đại thẩm nói, "Bảo bà nấu cơm làm cho con một bát mì."

Đạm Nhược nhìn tôi. "Nghe lời bà đi con." Tôi nói.

Sau khi Đạm Nhược rời đi, tân thẩm nói, "Hoa Sinh bỏ trốn khỏi nhà chồng rồi. Con bé giao du với một đám người xấu, đám người ấy hô hào cái gì mà giúp phụ nữ thoát khỏi hôn nhân phong kiến."

"Hừ! Hôn nhân của nó chẳng phải hôn nhân phong kiến đâu!" lão thẩm nói, "Là tự nó đồng ý cơ mà. Nó muốn lấy chồng! Mấy kẻ giúp đỡ nó không nói thật với nó, ít nhất là lúc đầu không nói thật. Sớm biết thế này, hồi nhỏ tôi thật nên cho nó ăn thêm mấy bạt tai."

"Đương nhiên, chồng nó liền hưu nó rồi. Hừ! Việc gì anh ta phải rước nó về nữa?" lão thẩm nói, "Sau đó anh ta đăng tuyên bố trên lớn nhỏ các tờ báo ở Thượng Hải, nói rằng: 'Tôi tuyên bố cắt đứt quan hệ vợ chồng với Giang Hoa Trân, người vợ bỏ trốn.' Thúc thúc đáng thương của cháu, đang lúc ăn cơm trưa thì nhìn thấy tuyên bố này, đột nhiên bị một miếng củ cải nhỏ mắc nghẹn ở cổ họng, suýt chút nữa thì sặc chết."

"Cho nên thúc thúc cháu đinh ninh rằng, nó làm thế là có ý muốn bức chết cả nhà chúng ta," tân thẩm nói, "Sự thật không phải vậy, bản chất con bé vẫn lương thiện. Chỉ là bị ma xui quỷ khiến thôi."

"Đứa con gái ngốc nghếch thế đấy!" đại thẩm nói, "Những thứ ta dạy nó đều coi như gió thoảng bên tai sao? Bản thân một chút chủ kiến cũng không có. Hồi nhỏ tôi thật nên đánh nó cho dữ dội hơn mới phải."

"Nó ly hôn rồi ư?" tôi nói, "Nghe chuyện này trong lòng tôi thật khó chịu."

Miệng tôi thì nói vậy, nhưng bạn đoán trong lòng tôi nghĩ gì nào? Đương nhiên rồi! Tôi không biết Hoa Sinh ly hôn thế nào. Tôi không biết khi nào có thể hỏi nó, làm sao tôi mới có thể ly hôn giống như nó.

Vì phép lịch sự, tôi và Đạm Nhược ở lại nhà thúc thúc hai tuần. Nếu ở ít ngày, họ sẽ tưởng tôi xem thường họ. Trước khi đến hòn đảo này, tôi đã đến ngân hàng, rút toàn bộ số tiền hồi môn còn lại ra rồi. Tôi đã nói với bạn rồi đấy, tiền giấy ở Trung Quốc sau chiến tranh đã chẳng còn giá trị gì nữa. Tôi nhớ mình vẫn còn khoảng hai nghìn đồng, lúc đó chỉ đáng giá hai trăm đô la. Tôi đã dùng số tiền này để chiêu đãi người thân bạn bè của mình.

Ngày nào tôi cũng cùng lão thẩm và tân thẩm đi chợ. Ngày nào tôi cũng mua một ít rau củ và thịt thà đắt đỏ, tôi biết họ đã rất lâu không được ăn những thứ này rồi. Ngày nào tôi và tân thẩm cũng cãi nhau ầm ĩ trước mặt những người tiểu thương, tranh nhau trả tiền. Ngày nào cũng là tôi trả tiền hết.

Có một lần trên đường đi chợ, tôi cuối cùng cũng nói với các thím rằng tôi muốn gặp Hoa Sinh.

"Không thể nào," tân thẩm lập tức nói, "nguy hiểm lắm."

"Ta tuyệt đối không cho cháu đi đâu," lão thẩm nói, "con bé ngốc nghếch này không đáng để cháu đến thăm đâu."

Sáng hôm đó tôi và Đạm Nhược chuẩn bị rời đi, tân thẩm đến phòng chúng tôi từ rất sớm. Bà bảo Đạm Nhược ra chào thúc công một tiếng.

Đợi trong phòng chỉ còn lại hai chúng tôi, bà bắt đầu tuôn một tràng dài giảng giải cho tôi nghe chuyện của Hoa Sinh, cứ như thể tôi vẫn muốn đi thăm nó, cứ như thể lỗi lầm của nó đều là do tôi gây ra vậy.

Tân thẩm giải thích: "Ảnh hưởng của nó vẫn rất xấu, giống như người mắc bệnh truyền nhiễm vậy. Cho nên cháu không thể đi thăm nó được."

Tôi lắng nghe, chẳng nói gì cả. Tân thẩm nói xong, thở dài một hơi, "Ta biết có tranh cãi với cháu cũng vô ích. Thôi được rồi, ta cản không nổi cháu, ít nhất cháu đừng bắt ta gánh vác nhé!" Bà ném một mẩu giấy lên giường, rồi bỏ đi. Trên đó có ghi địa chỉ, còn viết cả đi xe buýt tuyến mấy, tìm con hẻm nào.

Đột nhiên, tân thẩm lại xuất hiện ở cửa. "Nhưng không được để lão thẩm của cháu biết thứ này là do ta đưa cho cháu đấy nhé." Bà nói nhỏ một câu, rồi lại đi mất. Thế là tôi biết bản thân bà ấy đã len lén đi thăm Hoa Sinh rồi.

Một lát sau, lão thẩm bước vào phòng. "Ta muốn nhờ cháu giúp một việc." Bà vừa nói vừa đặt một gói đồ nhỏ lên giường, "Thứ này ta mượn từ chỗ một người bạn từ rất lâu rồi. Ta vẫn chưa trả lại cô ấy, cảm thấy vô cùng áy náy. Nếu cháu rảnh rỗi, có lẽ tiện đường mang đến cho cô ấy." Địa chỉ trên gói đồ y hệt như địa chỉ tân thẩm đưa cho tôi, còn có cả một cái tên "Lý tiểu thư".

"Ta thấy ngại lắm." lão thẩm vừa nói vừa rưng rưng nước mắt, "Nhưng đừng nói cho người khác biết nhé."

Sau khi tôi trở về Thượng Hải, qua một tuần mới đi thăm Hoa Sinh. Thế nhưng, tôi không nói cho bất kỳ ai biết. Tôi mặc bộ thường phục đi ra ngoài, trông giống như đi chợ mua đồ, hay là đi dạo công viên vậy. Tôi vừa đi qua hai con đường cái, liền nhảy lên xe buýt.

Tôi đã kể với bạn đôi chút tình hình của Hoa Sinh rồi đấy, con bé chuộng đủ mọi thứ xa hoa hưởng thụ, chỉ chú ý đến những bộ quần áo đẹp và phấn son trên mặt. Nó luôn thích chạy theo mốt thời thượng, nhưng bản thân trong lòng lại chẳng có chủ kiến gì. Cho nên khi xe buýt càng chạy càng xa, chạy mãi đến khu vực tồi tàn nhất của nội thành, bạn có thể tưởng tượng được trong lòng tôi đang nghĩ gì rồi đấy.

Tôi xuống xe ở đường San Âm, sau đó đành phải từ chỗ này bước vào con hẻm nhỏ xe hơi không tài nào vào nổi, nơi đó chen chúc đầy xe đạp, xe kéo và xe cút kít. Nó sống ở khu người Nhật, các kiến trúc ở đó ngoằn ngoèo rẽ ngoặt, giống như một con rồng dài vậy. Tất cả các kiến trúc trông đều ná ná nhau, toàn là nhà gạch hai tầng có mái nhọn. Trong những con hẻm này chẳng có vỉa hè, lối đi nhỏ đâu đâu cũng là muội than và bãi nước bọt.

Bạn có lẽ sẽ nghĩ, người Nhật đã chiếm đóng Thượng Hải nhiều năm như thế, nơi này đáng lẽ phải là khu vực tốt nhất trong thành phố. Đương nhiên có một số khu vực vẫn khá khẩm. Nhưng phần lớn nhà cửa ở các khu vực đều được xây từ trước chiến tranh, tôi cảm thấy nơi này hôi thối ngập trời, rác rưởi khắp nơi, chật chội vô cùng. Nếu bạn hỏi ấn tượng của tôi, tôi chỉ có thể nói nơi này chỉ khá hơn khu người Hoa một chút mà thôi.

Tôi không tài nào hiểu nổi vì sao lắm sinh viên, nhà văn và nghệ sĩ lại thích ở đây đến thế. Có lẽ họ cảm thấy nơi này có chút lãng mạn —— nếu như bạn không có gì để ăn, có thể ăn tư tưởng của người ta. Gái mại dâm ở đây cũng rất nhiều, nhưng đẳng cấp không cao bằng những người sống ở các câu lạc bộ đêm trên đường Nam Kinh. Những người phụ nữ này được gọi là "phu nhân lề đường". Cứ cách vài bước chân là lại có thể nhìn thấy một quán ăn chỉ có ba chiếc ghế dài, hoặc là một tửu quán rộng bằng mặt tiền cửa hiệu, hay là một chiếc cầu thang dốc đứng dẫn lên phòng trà trên tầng hai.

Sau đó tôi bước vào một con phố đầy những hàng quán nhỏ, rất nhiều người đang bán sách cũ, bản đồ cũ, tạp chí cũ —— có lịch sử, ngôn tình, thơ ca, chính trị.

"Sách cấm!" một người đàn ông quát lên với tôi. Vừa nói anh ta vừa móc từ dưới gầm bàn ra một cuốn tạp chí. Trên bìa là một người phụ nữ trẻ đang khóc, một cái bóng ma đàn ông đã túm lấy cô ta. Tôi không xem tiếp nữa. Chúng y hệt như những câu chuyện mà tôi và Hoa Sinh trước đây hay đọc trong nhà kính. Tôi đứng trên phố hồi tưởng lại những câu chuyện đó, toàn nói về chuyện con gái không nghe lời khuyên của cha mẹ, vì tình yêu mà kết hôn, loại đại loại thế. Kết cục luôn luôn thảm hại, kết thúc bằng lời giáo huấn đạo đức: "Không biết kiềm chế, uổng mạng bỏ đời!" "Sa vào tình riêng, hủy hoại danh tiếng!" "Vứt bỏ quan niệm gia đình, vứt bỏ cả thể diện bản thân!" Tôi nhớ đến những câu chuyện đọc xong khiến tôi rơi nước mắt —— tôi vẫn luôn cảm thấy kết cục của đa số nữ chính bi thảm chẳng khác nào mẹ tôi.

Vào chính khoảnh khắc đó, tôi đã hiểu ra, tất cả những câu chuyện này đều là bịa đặt, chẳng qua chỉ là câu chuyện mà thôi. Giống như Hoa Sinh và bất kỳ ai khác, tôi từng tưởng tượng ra một kết cục bất hạnh cho mẹ mình. Giống như Hoa Sinh, tôi từng bị những câu chuyện bi thảm ấy dọa sợ. Nhưng nhìn lại tình huống thực tế xảy ra, nó vốn chẳng thể ngăn cản tai họa giáng xuống đầu tôi. Ngược lại là đằng khác. Thế là tôi đã nghĩ thế này: Có lẽ mẹ tôi bây giờ đang sống rất hạnh phúc! Phải chăng tôi cũng có thể tìm được thứ tương tự. Đây chính là nơi gửi gắm hy vọng của tôi.

Nói thật với bạn nhé, đây chính là suy nghĩ của tôi lúc bấy giờ. Đây là lý do vì sao tôi cứ luôn cho rằng chuyện xảy ra tiếp theo không chỉ là trùng hợp, mà còn là một điềm báo, nó cho thấy cuối cùng tôi đã có được suy nghĩ thực sự của chính mình. Bởi vì chuyện tiếp theo đây đã xảy ra.

Tôi cảm thấy có người đang vỗ vai mình. Tôi quay người lại, lúc đầu tôi vẫn chưa nhận ra người đàn ông đang mỉm cười này. "Vân Ny?" anh ta nói, "Còn nhớ tôi không?"

Tôi thầm nghĩ, cái tên này, Vân Ny, nghe có vẻ quen thuộc lắm. Bạn thấy đấy, tôi còn tưởng anh ta đang nói tên của chính mình cơ chứ. Tôi vắt óc suy nghĩ.

Rồi anh ta liền nói: "Tôi chưa từng quên rắc rối mà tôi đã mang lại cho cô."

Cái gì? Người đàn ông này đang nói cái gì thế nhỉ?

Rồi tôi nhận ra giọng nói của anh ta, người lính Mỹ gốc Hoa này, Jimmy Louis, chính là người đã đặt tên Vân Ny cho tôi.

Đúng vậy, đúng vậy, chính là bố của con! Thật là khéo làm sao, năm năm sau, quá khứ và tương lai của chúng ta lại va vào nhau trên một con phố xa lạ ở Thượng Hải. Con có thể tưởng tượng được không? Nếu như tôi không đi thăm Hoa Sinh, nếu như tôi không dừng lại xem một cuốn tạp chí ngốc nghếch, nếu như anh ấy không đang tìm một tờ báo —— chỉ một phút sau thôi, cuộc đời chúng ta sẽ lướt qua nhau. Mẹ hỏi con, đây không phải là định mệnh thì là cái gì?

Rất nhiều năm sau, mẹ đã nói những lời tương tự với bố con, lúc đó chúng ta đã kết hôn rồi. Chúng ta thật may mắn biết bao, số phận đã đưa chúng ta đến với nhau. Thế nhưng bố con lại không cho đây là định mệnh, ít nhất không phải là quan niệm số phận theo kiểu Trung Quốc.

Cái gọi là định mệnh, anh ấy bảo với mẹ, chính là có một người khác đang quyết định cuộc đời thay cho con. Tình yêu của chúng ta vĩ đại hơn thế nhiều. Ở đây anh ấy dùng một từ tiếng Anh là "DESTINY"①, chỉ một thứ gì đó không thể tránh khỏi, khác với một từ đồng nghĩa khác là "FATE", nghĩa là số phận, vận may.

① Từ tiếng Anh nguyên bản là "DESTINY", ý chỉ "số phận", "định số", khác với một từ đồng nghĩa khác là "FATE", có nghĩa là "vận mệnh", "vận may".

Tuy nhiên trong tai mẹ thì định mệnh và mệnh vốn là một loại. Anh ấy cứ khăng khăng đây là hai chuyện khác nhau. Thế là mẹ bảo anh ấy, "Có lẽ cùng một thứ, anh đang nhìn nhận theo kiểu Mỹ, còn em đang nhìn nhận theo kiểu Trung Quốc. Anh nói, 'Nhìn kìa, trong bát có con cá đẹp thế.' Còn em thì nói, 'Nhìn kìa, trong cái bát đẹp có con cá.' Dùng từ gì không quan trọng. Dù sao cũng là cùng một cái bát đẹp, cùng một con cá đẹp."

Nhưng bố con vẫn khăng khăng, hai chúng ta tiếng sét ái tình, đây chính là ý chí của cả hai chúng ta hòa lại làm một, là lý do chúng ta tìm kiếm đối phương.

Kể từ lúc đó mẹ liền chẳng nói gì nữa. Mẹ làm sao có thể nói với bố con rằng, mẹ không hề yêu anh ấy từ cái nhìn đầu tiên. Không phải ở Côn Minh, không phải ở buổi khiêu vũ. Mẹ không biết có loại tình cảm phát sinh trong chớp nhoáng ấy, lại làm sao có thể cảm nhận được chứ? Đương nhiên, khi lần thứ hai vô tình gặp lại anh ấy, tình yêu của mẹ dành cho anh ấy nhanh chóng nảy nở.

Cho nên có lẽ cả hai chúng ta đều nói đúng, đối với mẹ đó là mệnh, còn đối với anh ấy đó là định mệnh.

Nhưng sau đó bố con làm mục sư, anh ấy nói đây là ý Chúa đã đưa hai chúng ta đến với nhau. Cho nên bây giờ mẹ không tài nào giải thích nổi rốt cuộc chúng ta đã đến với nhau bằng cách nào nữa. Mẹ chỉ có thể nói, lúc đó mẹ đang ở một con phố nhỏ ở Thượng Hải, bố con cũng ở đúng nơi đó.

Sau khi chúng tôi tình cờ gặp nhau ở đó, liền đứng lại trò chuyện khách sáo một lát. Sau đó Jimmy Louis —— những năm đầu tôi vẫn gọi đầy đủ cả họ lẫn tên anh ấy là Jimmy Louis, giống như người Trung Quốc vậy —— mời tôi vào quán trà đối diện đường uống chút trà, ngồi xuống nghỉ ngơi chốc lát. Tôi đồng ý, nhưng chỉ vì phép lịch sự. Thực ra, tôi không ngờ mọi thứ lại bắt đầu từ đây.

Chúng tôi ngồi trong một quán trà nhỏ trên lầu, một nơi mà tôi cảm thấy khá bẩn thỉu. Tôi thấy nữ phục vụ lấy vài chiếc cốc trà từ một chiếc bàn nào đó, dùng nước lạnh rửa qua loa, rồi rót đầy trà, đưa cho chúng tôi. Tôi đành phải dùng nước trà nóng tráng cốc trà hai lần. Cũng tráng cốc trà của Jimmy hai lần. Bạn thấy đấy, ngay từ lúc đó, tôi đã bắt đầu lo lắng cho dạ dày của anh ấy rồi.

Chúng tôi lẳng lặng uống một lúc lâu. Sau đó anh ấy hỏi tôi về Văn Phúc, "Anh ta vẫn đang dùng cái tên Giu-đa đó chứ?"

Tôi bật cười, rồi lại giả vờ trách móc anh ấy, "Anh thật quá đáng. Chồng tôi giận tôi lắm đấy."

"Nhưng tên là do tôi đặt cho anh ta cơ mà, có phải cô đâu." Tôi ngượng ngùng nhắc nhở anh ấy chuyện chúng tôi từng khiêu vũ cùng nhau, cũng không kể cho anh ấy nghe chuyện bạn bè chế giễu Văn Phúc thế nào, nói rằng tôi đã bị một tên người Mỹ cuỗm mất rồi. Tôi không thể kể cho anh ấy nghe chuyện sau đó tôi cãi nhau với Văn Phúc, mặc dù hễ nghĩ đến chuyện này mặt tôi vẫn tức giận đến mức đỏ bừng. Jimmy Louis chắc chắn đã nhận ra biểu cảm trên khuôn mặt tôi, bởi vì anh ấy lập tức nói tiếp: "Đáng sợ thật, xem tôi đã làm những gì thế này. Thật xin lỗi cô."

"Không, không," tôi nói, "tôi đang nghĩ chuyện khác thôi. Bao nhiêu năm trôi qua rồi, mọi thứ đều thay đổi, chỉ là chẳng đổi theo chiều hướng tốt lên." Jimmy Louis biết chúng tôi không nên tiếp tục bàn luận về chủ đề này nữa. Thế là chúng tôi trò chuyện về những người khác. Tôi kể cho anh ấy nghe việc Gia Quốc đã tìm được công việc mới ở Cáp Nhĩ Tân, còn Hồ Lan thì vẫn chưa có con. Anh ấy kể cho tôi nghe phần lớn những người bạn không quân của anh ấy đều được cử đến Bắc Kinh để giúp đỡ việc tiếp nhận đầu hàng của người Nhật. Anh ấy vẫn đang cung cấp tin tức báo chí cho Tổng lãnh sự quán Mỹ tại cơ quan thông tấn Mỹ.

"Đây quả là một công việc rất quan trọng đấy nhỉ." tôi nói.

"Chẳng qua hư danh là chính thôi," anh ấy nói, "ngày nào tôi cũng đọc đủ loại báo chí, chú ý đến các bản tin hàng ngày." Sau đó anh ấy nói, "Cô thấy đấy, tôi là một gián điệp." Đương nhiên, anh ấy chỉ đang đùa thôi! Anh ấy lúc nào cũng thích trêu chọc người khác, bạn nhớ bố con chính là con người như thế đấy. Tôi không hiểu tại sao Hải Luân cho đến nay vẫn tưởng anh ấy thực sự là một gián điệp. Anh ấy không phải! Đừng nghe lời cô ấy. Nếu anh ấy thực sự là gián điệp, cớ sao anh ấy lại công khai đùa cợt kiểu này chứ?

Dù thế nào đi nữa, chúng tôi đã uống rất nhiều trà, uống hết ly này đến ly khác. Một lúc sau tôi không kìm được mà kể cả tình hình xưởng của thúc thúc tôi cho anh ấy nghe. Tôi kể về việc hiện tại họ nghèo ra sao, những người anh em họ của tôi bây giờ cũng buộc phải lao động. Jimmy Louis không hề xem thường họ, cũng không tỏ vẻ thương hại gia đình chúng tôi. Anh ấy rất có lòng trắc ẩn. Anh ấy nói chiến tranh giống như một cơn trọng bệnh, chiến tranh kết thúc, nhưng điều này không có nghĩa là tất cả mọi người đều lập tức hồi phục sức khỏe.

Tôi kể với Jimmy Louis chuyện của Hoa Sinh. Tôi nói con bé đã ly hôn. Jimmy Louis không hề nói, "Người phụ nữ Hoa Sinh này tệ thật." Anh ấy nói rất nhiều cuộc hôn nhân đều bị chiến tranh hủy hoại.

Cuối cùng tôi kể cho anh ấy nghe chuyện của bố tôi, ông gặp rắc rối vì hợp tác với người Nhật. Anh ấy nói đây quả là một bi kịch khủng khiếp, thời chiến khiến con người ta phạm phải những sai lầm mà vào thời bình họ đến nằm mơ cũng chẳng dám tưởng tượng.

Bạn thấy anh ấy thế nào chứ? Tôi cảm thấy bản thân đem mọi chuyện trút ra sạch trơn, tâm trạng cũng thoải mái hơn nhiều. Đối với một người đàn ông Mỹ mà nói, anh ấy có thể coi là người giàu lòng trắc ẩn. Thế nhưng tôi vẫn chưa nhắc đến cuộc hôn nhân của mình với anh ấy, vẫn chưa.

"Còn cô thì sao?" tôi hỏi, "Sau khi về nhà, người nhà của cô thế nào? Vợ và con cô có nhớ cô không?"

"Không vợ, cũng chẳng có con." anh ấy nói, "Không may mắn thế đâu." Sau đó anh ấy lấy ra một bức ảnh nhỏ. Trên ảnh có bốn cô gái trẻ ngồi thành một hàng, từ nhỏ đến lớn, trang phục và kiểu tóc đều rất thời thượng. Bọn họ là bạn học cũ của dì anh ấy, con gái của Lương thái thái. Anh ấy kể cho tôi nghe, Lương thái thái này nói anh ấy có thể chọn một người trong số các con gái của bà làm vợ. "Mỗi một cô con gái đều rất có học thức," Jimmy Louis nói, "mỗi một cô con gái đều biết chơi piano, mỗi một cô con gái đều có thể đọc Kinh Thánh bằng tiếng Anh."

"Vô cùng quyến rũ, cũng rất phong độ." tôi nói, "Nhiều cô gái mặc cho anh chọn thế, hoa cả mắt đúng không, anh đã chấm trúng vị nào thế?"

Anh ấy mỉm cười, sau đó nghiêm túc nói, "Cô," anh ấy nói, "tiếc là cô đã kết hôn mất rồi."

Thật đấy, anh ấy nói vậy đấy. Anh ấy có thể chọn bất kỳ ai trong số bốn cô gái này, bọn họ người nào người nấy đều ngây thơ trẻ trung, chưa từng kết hôn. Thế nhưng anh ấy lại chấm trúng tôi. Bạn có biết tại sao anh ấy lại làm vậy không?

Dù thế nào đi nữa, lúc đó tôi không biết anh ấy đang nói đùa hay nói thật. Mặt tôi đỏ bừng lên. Bởi vì tôi không dám ngẩng đầu nhìn anh ấy, tôi giả vờ xem đồng hồ.

"Ái chà!" tôi nói, "Nếu bây giờ tôi đi thăm Hoa Sinh, vừa đến nơi là phải quay về luôn rồi."

"Tốt nhất là ngày mai hãy đến thăm cô ấy." Jimmy Louis gợi ý.

"Đành vậy thôi." tôi đồng ý.

"Thế thì ngày mai tôi sẽ đợi cô ở hiệu sách đối diện đường, rồi cùng đi với cô, đảm bảo an toàn cho cô." anh ấy nói.

"Không, không, phiền phức lắm." tôi nói.

"Không phiền đâu. Ngày nào tôi cũng đến đây tìm báo chí mà."

"Ngày nào cũng đến á?"

"Đây là công việc của tôi mà."

"Tôi nghĩ có lẽ tôi sẽ đến lúc mười rưỡi. Có lẽ hơi sớm đối với anh."

"Tôi sẽ đến sớm đợi cô, để tránh việc cô đến trước tôi." Khi hai chúng tôi đứng dậy đi xuống lầu, tôi thấy anh ấy để lại bức ảnh nhỏ có bốn cô gái xinh đẹp trên bàn.

Sáng hôm sau tôi thức dậy từ rất sớm, trong lòng vừa vui mừng vừa kích động. Tôi nghĩ cuộc sống của mình dường như sắp có sự thay đổi. Tôi không biết rốt cuộc sẽ có sự thay đổi thế nào, nhưng chắc chắn là sắp thay đổi rồi.

Nhưng những suy nghĩ này lập tức biến mất. Tiếng hét chói tai của Đạm Nhược vang vọng khắp căn nhà. Một người hầu bồng thằng bé đến chỗ tôi, nói rằng nó ngã, cắm đầu lăn từ trên lầu xuống dưới. Tôi vừa dỗ dành con trai, Tam Mã vừa chạy đến gọi tôi, nói rằng cơn sốt cao của bố tôi đã hạ, thần trí cũng tỉnh táo trở lại. Thế là tôi vội vã chạy vào phòng bố. Chợt lát sau, người đầu bếp chạy vào, cô ấy nói bản thân vẫn nên đi thì hơn, thực sự không chịu nổi sự la mắng của Văn thái thái. Tôi đứng trong phòng, nghe thấy Văn Phúc đang lớn tiếng quát tháo, rồi lại là tiếng thứ gì đó ném xuống sàn nhà. Tôi xuống lầu nhìn thấy mảnh vỡ của chiếc bát đựng bữa sáng vung vãi khắp sàn, trên ghế toàn là mì bị hất đổ.

Tôi muốn khóc. Cuộc sống của tôi dường như vĩnh viễn không bao giờ thay đổi. Tôi mãi mãi phải lo lắng sợ hãi cho người khác, chẳng có thời gian để suy nghĩ về vấn đề của chính mình. Tôi chắc chắn tất cả những chuyện rùm beng vụn vặt này chứng minh rằng, hôm nay tôi tuyệt đối không thể rời khỏi căn nhà này được rồi.

Nhưng cuộc sống chính là kỳ lạ như vậy đấy, nó có thể khiến bạn suy nghĩ thế này, cũng có thể khiến bạn suy nghĩ thế kia. Ngay lúc tôi định từ bỏ kế hoạch ngày hôm đó, cơ hội của tôi lại đến. Lúc tôi lên lầu chăm sóc bố, ông đang đọc một tờ giấy báo, chỉ vì tôi lên lầu làm phiền nên ông rất tức giận. "Ông ấy chắc chắn đang đánh nhau với chính mình trong mơ rồi." Tam Mã nói.

Lúc tôi xuống lầu, Văn Phúc đã đi xem đua ngựa rồi. Vị đầu bếp đang tức giận kia đâu rồi? Cô ấy đã quét dọn rác rưởi sạch sẽ, đi chợ mua thức ăn tối rồi. Tiểu Đạm Nhược gọi tôi từ trên giường của thằng bé, nó muốn thức dậy. Thằng bé đã quên mất khối u sưng trên đầu, bây giờ nó nhớ ra mẹ của Văn Phúc đã hứa hôm nay sẽ dẫn nó đi thăm một người bạn, người đó có một đứa cháu trai trạc tuổi nó.

Cuối cùng tôi cũng có thể rời khỏi căn nhà này rồi! Nhưng tôi thấy bây giờ muốn thay đổi cuộc sống của mình thì đã quá muộn, đã gần mười một giờ rồi. Tôi cố gắng dồn tâm tư vào việc đi thăm Hoa Sinh, gặp lại nhau sẽ vui mừng biết bao. Tôi cầm lấy gói đồ lão thẩm bảo tôi mang cho bà ấy. Tôi nhét thêm năm đôi tất vào trong đó. Hoa Sinh nhìn thấy chắc sẽ vui mừng biết bao.

Đương nhiên, trong lòng tôi vẫn không ngừng nghĩ đến hiệu sách nhỏ đối diện phòng trà. Tôi hình như nhìn thấy Jimmy Louis đang lật sách, một tay thiếu kiên nhẫn nhìn đồng hồ. Tôi muốn thuê một chiếc xe hơi. Sau đó tôi tưởng tượng Jimmy Louis lại nhìn đồng hồ một cái, rồi rời khỏi hiệu sách. Tôi quyết định không vội vã chạy đến chỗ hẹn chắc chắn đã chẳng còn ai đợi nữa. Thế là tôi đè nén hy vọng của mình, chờ xe buýt.

Lúc tôi bắt kịp đến đường San Âm, thì đã gần đến trưa rồi. Tôi ép bản thân chậm rãi bước đi một cách bình tĩnh. Sắp đến cửa hiệu sách, tôi lại ép bản thân không ngẩng đầu nhìn. Cứ đi đi, đi đi.

Tôi thở không ra hơi. Tôi tự nhủ, đừng ngốc nghếch nữa, anh ấy đi rồi. Vẫn là đi đi.

Tôi cố gắng không nhìn sang hai bên, ánh mắt dán chặt vào giữa đường. Đừng nhìn, đi đi.

Tôi bước qua hiệu sách, không quay đầu lại nhìn. Tôi cắm cổ đi, đi qua một con đường. Tôi dừng lại, thở ra một hơi thật dài. Lồng ngực nhói đau, tôi nhận ra mình đã để một chút hy vọng nào đó tuột mất khỏi đây rồi. Tôi lại thở dài một hơi. Lần này tôi cảm thấy vô cùng buồn bã. Sau đó lại thở dài một hơi, là tiếng thở dài nhẹ nhõm, nhưng không phải tiếng thở dài của tôi. Tôi quay đầu lại.

Tôi nhìn thấy khuôn mặt của anh ấy! Khuôn mặt anh ấy tràn ngập sự vui mừng khôn xiết!

Chúng tôi không nói lời nào. Anh ấy nắm chặt lấy tay tôi, siết chặt không buông. Hai chúng tôi đứng giữa đường, đôi mắt nhòa đi vì những giọt nước mắt hạnh phúc. Chẳng cần mở lời, chúng tôi đều biết cảm giác của hai người là y như nhau.

Bây giờ tôi phải dừng bút thôi. Bởi vì mỗi lần hồi tưởng lại chuyện này, tôi lại không kìm được mà trốn một mình khóc một trận. Tôi không hiểu tại sao có những chuyện lúc đầu khiến tôi vui mừng đến thế, mà bây giờ lại khiến tôi đau lòng đến vậy. Có lẽ những hồi ức đẹp đẽ nhất đều là như thế này.

Nguồn: Việt Nam Thư Quán dịch từ kanunu8.com
Được bạn: Mọt Sách đưa lên
vào ngày: 8 tháng 11 năm 2026

« Lùi Tiến »

1 Trong Tổng Số 2 tác phẩm của Đàm Ân Mỹ

💬 Thảo luận

Chưa có bình luận nào — hãy là người đầu tiên chia sẻ cảm nhận của bạn!

Đăng nhập để tham gia bình luận.