Đến khi mùa đông đến, chẳng còn lại mấy chiếc máy bay. Ánh sáng từ trên trời rơi xuống là những trận mưa. Sau đó, có một hôm, trời trở lạnh và có tuyết rơi.
Chính trong tuần này, chúng tôi lại từ Dương Châu chuyển đến Nam Kinh, đi xe giữa hai nơi chẳng mất mấy tiếng đồng hồ. Ngày đến Nam Kinh là lần đầu tiên tôi nhìn thấy tuyết. Tuyết làm tôi nhớ đến lông vũ, nhớ đến cảnh tôi và Cam chơi cầu lông bay lượn phấp phới trong không trung.
Ở Nam Kinh, chúng tôi cũng có một người lính phục vụ do không quân phái tới. Người này không giống người ở Dương Châu, không đến mức điên rồ như vậy. Anh ta cứ luôn miệng nói: "Đừng lo, thưa bà, tuyết rơi không lâu đâu. Ở Nam Kinh, tuyết giống như sĩ quan cao cấp vậy, không hay đến đâu, mà đến thì cũng chẳng ở lâu."
Tôi và Hồ Lan nhìn ra ngoài từ cửa sổ tầng một của một căn nhà lớn. Nơi này vốn là một biệt thự xinh đẹp do một thương nhân ngoại quốc xây dựng, nay đã trở thành đại bản doanh tạm thời cho đủ mọi thành phần. Nó có tổng cộng hai tầng, bốn cột hiên và những ô cửa sổ kính sát đất cao lớn. Xung quanh ngôi nhà toàn là cây — người lính phục vụ nói, những cái cây này đều được nhập khẩu từ Pháp. Nhưng giờ đây lá cây đã rụng hết, hoàn toàn chẳng thể phân biệt nổi đâu là cây Trung Quốc hay cây Pháp. Ngôi nhà nằm ở vị trí đắc địa nhất trong thành phố, gần bức tường thành phía Tây cổ kính, đi thêm một đoạn nữa là đến hồ Mộ Sầu, thế nên nó cách trung tâm thành phố không gần cũng không xa.
Nhưng nếu nhìn vào bên trong ngôi nhà, tình huống lại hoàn toàn khác hẳn. Vừa bước vào là sẽ thấy ngay: ghế sofa đã bị mông của vô số người cọ mòn, thảm trải sàn đã bị những bước chân qua lại năm này qua năm khác giẫm mỏng đi, giấy dán tường trong mỗi căn phòng đều đã bong tróc ngả vàng, góc nhà bếp có vết nứt dột nước, toàn bộ ngôi nhà trông giống như một đứa trẻ mồ côi không ai chăm sóc.
Vào buổi chiều ngày tôi nhìn thấy tuyết ấy, tôi đang dạy người lính phục vụ cách dọn lò sấy than để lần sau không bị khói mịt mù nữa. Lúc này, Văn Phúc trở về và nói: "Cô dọn cái này, chẳng qua cũng chỉ dọn thay người khác mà thôi." Sau đó anh ấy bảo chúng tôi rằng không quân đã phát thông báo, chúng tôi sắp phải rời khỏi Nam Kinh, có lẽ trong vòng hai tuần, hoặc có thể nhanh hơn.
"Chúng ta đến đây còn chưa được một tuần mà." Tôi nói. Văn Phúc không cười, tôi đã hiểu ý anh ấy: Người Nhật đã đến rồi.
Hôm đó tôi đến bưu điện của không quân gửi hai bức điện tín về Thượng Hải, một bức gửi cho ngân hàng nơi tôi gửi tiền, yêu cầu họ chuyển bốn trăm tệ cho em gái của Văn Phúc. Bức còn lại gửi cho em gái Văn Phúc, dặn cô ấy chỗ nhận tiền. Cô nhân viên bưu điện giúp tôi dùng ít chữ nhất có thể để gửi bức điện đi. Ở cuối bức điện gửi cho em gái Văn Phúc, tôi còn thêm một câu: "Mau lên, chúng ta sắp lánh nạn rồi."
Từ lánh nạn này là do tự tôi thêm vào, muốn gọi là để cô út của tôi xem trọng chuyện này một chút, làm nhanh một chút. Có lẽ tôi hơi phóng đại, có lẽ là không. Dù thế nào đi nữa, tôi đã thêm từ này vào chỗ đó, bởi vì từ này có thể khiến tất cả mọi người đều bật dậy.
Lánh nạn, từ này có ý nghĩa gì chứ? Tôi cảm thấy nước Mỹ không có từ nào đồng nghĩa với nó cả. Nhưng ở Trung Quốc, chúng tôi có rất nhiều từ khác nhau để diễn tả tất cả loại rắc rối này. Không, "refugee" không có nghĩa này, không chính xác. "refugee" là chỉ sau khi bạn lánh nạn rồi mà vẫn còn sống. Nếu bạn còn sống, bạn sẽ chẳng bao giờ muốn nhắc lại thứ gì đã khiến bạn phải lánh nạn nữa.
Bạn thật may mắn, chưa từng trải qua việc lánh nạn. Ý nghĩa của từ này là chỉ một mối nguy hiểm đáng sợ sắp ập đến, không chỉ đối với riêng bạn, mà là đối với rất nhiều người, thế nên mỗi người chỉ đành tự lo lấy bản thân. Đây là một sự sợ hãi đang đuổi theo bạn, một căn bệnh, giống như lúc bị sốt cao vậy. Thế nên trong đầu bạn chỉ có duy nhất một ý nghĩ: "Chạy mau! Chạy mau!" — cho dù là ban ngày hay ban đêm, chẳng còn ý nghĩ nào khác nữa. Tóc trên đầu bạn đều dựng đứng cả lên, giống như có ai đó gác dao vào cổ bạn, bạn thậm chí còn nghe thấy cả tiếng thở hổn hển của kẻ muốn giết bạn đó. Bạn chỉ cần nghe thấy một tiếng thét, nhìn thấy ánh mắt trợn trừng của ai đó, là đã đủ rồi, cái nóng sốt liền biến thành cơn run rẩy, lan khắp toàn thân bạn, từ sống lưng kéo thẳng xuống tận gót chân, thế là bạn không kìm được mà chạy, vấp ngã, rồi lại chạy, lại vấp ngã.
Bạn thật may mắn, đến ý nghĩa của từ này mà cũng không biết. Nhưng tôi muốn nói cho bạn biết, nó trông như thế nào, nó đã suýt giáng xuống đầu tôi ra sao.
Tôi viết xong bức điện, cô nhân viên bưu điện hỏi tôi: "Cô thực sự nghĩ rằng chúng ta sắp lánh nạn rồi sao?"
Tôi không muốn làm cô ấy sợ, bèn nói: "Bởi vì cô út của tôi hơi lơ đễnh, nên tôi cố tình nói thế, như vậy cô ấy mới chịu giục giò đi làm."
Cô gái ấy liền cười, khen tôi thật thông minh. Tôi rất thích cô ấy. Tôi không biết tên tiếng Trung của cô ấy là gì, nhưng mọi người đều gọi cô ấy là Vương Betty, "Betty xinh đẹp", bởi vì trông cô ấy rất giống ngôi sao điện ảnh Davis Betty mà mọi người đều vô cùng yêu thích, cũng là kiểu tóc ấy, giọng nói cũng hơi khàn khàn, đôi mắt cũng to như vậy, chỉ là mi mắt hơi sụp xuống, phía trên hơi phù nề. Tôi cảm thấy cô ấy bị cường giáp hoặc viêm thận thì mới thành ra thế này.
Cô ấy là một người Nam Kinh điển hình, "kết hôn chớp nhoáng" — quen một phi công liền gả ngay cho anh ta, nhanh đến thế đấy. Viên phi công này ở cùng khóa với Văn Phúc, nhưng tôi không quen thân lắm. Khoảng hai hoặc ba tuần sau khi cưới, anh ấy đã hy sinh. Nhưng anh ta rốt cuộc vẫn còn thời gian để lại cho cô ấy một đứa con trong bụng.
Bốn ngày sau, tôi lại đến bưu điện. Cô út của tôi thật lợi hại, hai ngày sau khi nhận được tiền là cô ấy đã chuyển đi rồi, nhưng không phải chuyển cho tôi, mà là chuyển cho Văn Phúc! Điều này là do Vương Betty nói cho tôi biết. Văn Phúc đã đến lấy số tiền này đi rồi. Cô ấy còn có thể làm gì hơn? Trên giấy nhận tiền viết tên của anh ta cơ mà.
"Đó là tiền của tôi, là tiền hồi môn của tôi!" Tôi nói với Vương Betty, "Hơn nữa số tiền này là để lánh nạn, là để cứu mạng vào lúc ngàn cân treo sợi tóc."
Betty rót cho tôi một cốc nước từ phích nước nóng: "Ái chà, thật là lợi hại quá. Chuyện thế này lúc nào cũng đổ lên đầu phụ nữ, thật đấy. Dương nhiên, tôi thì chẳng có của hồi môn, không giống như cô, bốn trăm tệ, đây mà là một số tiền lớn lắm đấy."
"Tổng cộng là bốn nghìn tệ cơ," tôi đính chính lại, miệng cô ấy há hốc ra, "còn có đồ đạc, gỗ toàn là loại thượng hạng, vô số thứ tốt đẹp — nhưng giờ thì thành của nhà bọn họ hết rồi. Bọn họ nói thế đấy."
"Tôi cũng vậy," cô ấy vừa nói vừa lắc đầu, "lúc chồng tôi chết, quân đội cho một khoản tiền tuất — bị nhà anh ta lấy sạch! Không cho tôi chạm vào dù chỉ một xu. Thế nên cô thấy đấy, tôi đành phải kiếm chút tiền cơm cho bản thân và cho đứa con trong bụng vậy." Cô ấy vừa gõ máy đánh chữ để gửi điện văn vừa nói, "Bây giờ người nhà anh ta lại nói, tôi phải quay về Nam Nam để sinh con ra, giao đứa cháu này cho bọn họ. Bọn họ nói, sau việc này thì tôi có thể đi, muốn làm gì thì làm. Tôi hỏi cô, hà cớ gì tôi phải chạy đến đó để chịu cục tức của bọn họ chứ? Chẳng lẽ tôi là con vịt chắc — để bọn họ ấp trứng, rồi để bọn họ ăn thịt?"
Tôi không nhịn được mà bật cười. Vương Betty chính là con người như vậy, nói chuyện lúc nào cũng rất thẳng thắn, nghĩ trong lòng thế nào là nói ra thế ấy. Một lúc sau, tôi cũng buông lỏng tâm trạng và trò chuyện cởi mở hơn.
"Tôi muốn anh ta trả lại số tiền này cho tôi." Tôi nói.
"Thế mới phải chứ," cô ấy nói, "cứ đường hoàng mà nói lý lẽ với anh ta. Số tiền này vốn dĩ là của cô mà, là chuẩn bị để lánh nạn đấy."
"Tiền này là của tôi, là chuẩn bị để lánh nạn."
"Chẳng cần lý do nào khác nữa."
Chúng tôi còn nghĩ ra rất nhiều đạo lý lớn. Về nhà là tôi nói ngay với Văn Phúc. "Chúng ta cần số tiền này để lánh nạn." Tôi nói, "Ai biết được chúng ta sẽ gặp phải chuyện gì chứ."
"Ai bảo chúng ta phải lánh nạn hả?" Anh ta vừa nói vừa rỉa răng.
"Dù thế nào đi nữa, đây cũng là tiền hồi môn của tôi." Tôi kiên quyết nói.
Văn Phúc làm một bộ mặt quỷ: "Em cần nhiều tiền thế làm gì — muốn làm một người góa phụ vừa giàu có lại vừa vui vẻ à?"
"Đừng nói mấy lời kiểu này!" Tôi hét lên.
"Vậy thì em cũng không nên nói mấy lời thế này." Anh ta gầm lên. Cứ như thế, tất cả những đạo lý lớn mà tôi đã nghĩ sẵn đều chẳng có tác dụng gì, giống như phần tối tăm trong lòng anh ta đã nhìn thấy phần tối tăm trong lòng tôi. Đương nhiên, tôi chưa từng nghĩ đến việc anh ta sẽ chết. Nhưng ý nghĩ này vừa bị anh ta vạch trần, mặt tôi liền đỏ bừng, cái tâm địa đen tối của tôi cũng chẳng tài nào giấu giếm được nữa. Làm sao em có thể nói lý lẽ với một người chồng như thế chứ?
Đêm hôm ấy, tôi phát hiện ra mọi điều mình nói đều hoàn toàn phí lời, Văn Phúc sớm đã tiêu sạch số tiền đó đến cạn khô. Một tên phi công người Quảng Đông ở tiểu đội bốn đã bỏ lại một chiếc xe ô tô con ở sân bay, sau đó máy bay gặp nạn rồi chết, Văn Phúc liền mua lại chiếc xe đó.
Hừm, thật là xui xẻo làm sao! Sao Văn Phúc lại có thể nghĩ đến chuyện đi mua đồ của một viên phi công đã chết cơ chứ? Giống như việc kinh doanh mà nhà anh ta từng làm trước đây, biến bi kịch của người chết thành niềm vui của mình.
"Nếu chúng ta thực sự phải lánh nạn," anh ta nói, "chiếc xe này sẽ phát huy tác dụng. Bây giờ em có thể biết được sự tinh ranh của chồng mình rồi chứ."
Đương nhiên, tôi chẳng nói gì được nữa.
"Chiếc xe này chạy nhanh như bay ấy." Anh ta nói thêm một câu, vẫn còn đang chìm đắm trong giấc mơ về chiếc xe.
"Nhưng nhỡ họ bảo chúng ta đi vào nội địa thì sao?" Tôi nói, "Đến lúc đó chúng ta đành phải bảo người khác đi cùng, hoặc là ngồi xe tải lớn, hoặc là đi tàu thủy."
"Đừng ngốc thế chứ, xe hơi không mang đi được, chúng ta có thể bán cho người khác mà — giá có thể tăng gấp đôi cơ đấy, hoặc là đổi thành vàng thỏi, không lấy tiền giấy."
Tôi bắt đầu nghĩ có lẽ mình đã sai, có lẽ đây là một ý hay, tôi không nên cố chấp như vậy.
"Nhất định phải là chiếc xe con đỉnh của chóp đấy nhé." Tôi nói.
"Chà! Đương nhiên là đỉnh của chóp rồi," anh ta nói, "em coi anh là loại người nào chứ, chẳng lẽ anh đến cả một vụ làm ăn có hời cũng không biết đường làm chắc?"
Nhưng vào buổi chiều hôm đó, thứ mà tôi nhìn thấy anh ta lái về lại là một chiếc xe mui trần đã rệu rã hết chỗ nói, đại khái là hiệu Fiat đi, phần mui xe cũng bị cắt cụt luôn rồi. Người Mỹ gọi loại xe này là gì nhỉ? — JALOPY, một chiếc xe tồi tàn, chính là cái loại rách nát thế này đây. Đây là một chiếc xe nhỏ tồi tàn, đầy bụi bẩn và vết lõm, cũng chẳng có mui xe để che gió chắn mưa, cửa sau lại không mở nổi. Đương nhiên trong thời kỳ chiến tranh, bất kể là xe gì, kiếm được một chiếc coi như là xa xỉ rồi. Thế nhưng Văn Phúc lại chẳng thèm bận tâm mà trả cho gia đình viên phi công đã khuất cái giá cao gấp mười lần. Anh ta bấm còi, cười lớn và hét lên: "Này, em thấy thế nào?"
Tôi đành cười gượng, để anh ta nghĩ rằng tôi rất tự hào về anh ta, vì đã làm được một vụ làm ăn quá hời với một người chết. Sau đó anh ta bảo tôi trèo qua cái cánh cửa rách nát đó mà vào trong. Các bạn tưởng tượng mà xem: Lúc đó tôi đã mang thai được sáu tháng, vì trời lạnh lại mặc rất nhiều quần áo, thế nên tôi rất chật vật mới nhét được một chân vào trong. Văn Phúc đang nôn nóng muốn đi, anh ta nhe răng cười với tôi, rồi bấm còi xe.
"Chúng ta đi đây!" Anh ta hét lên, sau đó đạp mạnh chân ga, động cơ liền gầm lên vang dội, tôi cứ tưởng anh ta chưa đợi tôi nhét nốt chiếc chân còn lại vào đã phóng đi mất rồi.
Tôi mặc cho anh ta chở đi, lao thẳng ra đường lớn Đông Môn, băng qua cây cầu nhỏ hẹp đã đóng băng, rồi lao xuống con đường bùn lầy dài dằng dặc, đi thẳng đến chân núi Tử Kim. Tóc tôi dán chặt vào mặt, gió lạnh ù ù thổi qua bên tai, đầu óc lạnh ngắt đến tê dại.
"Nhìn cái này đi!" Văn Phúc hét lên, tốc độ lái lại càng nhanh hơn. Tôi hét lên oai oái, nhắm nghiền mắt lại. Anh ta bẻ lái gấp một cú, nơi bánh xe chúng tôi vừa chạy qua để lại những vết hằn sâu hoắm.
"Chiếc xe này đỉnh thật, đỉnh hết chỗ chê!" Anh ta la lớn.
Anh ta quay vòng vô lăng né tránh một vũng bùn lầy trên đường, lại né tránh một chiếc xe lừa đi chậm rì rì. Anh ta bấm còi với một tên tiểu tử, dọa hắn nhảy tót vào một cái hố đọng đầy nước mưa. Anh ta húc tung một hàng gồm sáu chú vịt con đang bước đi, những chú vịt con này vừa mới đến với thế giới này, vẫn chưa biết sợ là gì. Mỗi lần tôi chỉ ra một mối nguy hiểm nào đó đang nhanh chóng ập đến, hoặc thảm họa đang từ từ tiến lại gần, mỗi khi tôi hét lên hoặc nhắm nghiền mắt lại, Văn Phúc lại cười lớn. Tôi cảm thấy đây là khoảnh khắc tuyệt vời nhất mà anh ta ở bên tôi.
Hôm sau, tôi nói với anh ta rằng tôi quá mệt rồi, không muốn đi xe dạo phố nữa. Thế là anh ta liền hẹn Gia Quốc, hai người giống như một cặp thiếu niên vui vẻ lái xe đi mất. Đến nửa đêm Văn Phúc mới về nhà, mặt mày khó chịu.
"Chơi có vui không?" Tôi hỏi. Anh ta chẳng thèm ừ hữ gì. Tôi hỏi anh ta sao lại nổi giận. Anh ta vẫn im lìm không nói. Anh ta châm một điếu thuốc, tự rót cho mình một ly whisky.
Thế là tôi nghĩ, lạ thật, sao mình lại không nghe thấy tiếng còi xe lúc anh ta về nhỉ. Tôi nhìn ra ngoài cửa sổ, rồi bước ra tận cửa, nhìn ra hành lang và con đường lớn tối thui, chẳng có chiếc xe nào cả.
"Xe mới đâu rồi, đi đâu mất rồi?" Tôi hỏi anh ta.
Tôi ngồi cùng anh ta bên chiếc bàn. Tôi nhìn anh ta uống từng ly whisky này đến ly whisky khác, hút hết điếu thuốc này đến điếu thuốc khác. Cuối cùng anh ta cũng cất lời: "Mẹ kiếp, xui xẻo đúng lúc gặp ngay cái đồ quỷ dịch!"
Sáng hôm sau, Hồ Lan kể lại cho tôi nghe chuyện xảy ra ngày hôm trước, là do Gia Quốc nói cho cô ấy biết.
Họ lái xe ra vùng ngoại ô ngoài cửa Nam, sau đó leo lên một ngọn đồi nhỏ, rồi lao xuống từ một con đường nhỏ, đi thẳng đến nơi mà Văn Phúc tưởng là đồng bằng. Anh ta coi một con thỏ rừng như máy bay Nhật Bản, để đuổi theo nó, anh ta lái xe nhanh như bay. Nhưng con thỏ đó chạy còn nhanh hơn, từ con đường này vèo một cái rẽ sang con đường khác, nó nhảy lên một sườn đất, chiếc xe cũng bám theo đó mà lao lên. Ngay lúc ấy, gầm xe bị mắc kẹt trên một đống đá, giống như một con rùa bò lên lưng một con rùa khác, chẳng tài nào nhúc nhích được nữa.
Anh ta muốn lùi xe lại. Gia Quốc nhảy ra khỏi xe, muốn đẩy xe về phía trước. Sau đó Văn Phúc liều mạng đạp sâu bàn đạp ga, làm cho bánh xe quay tít thò lò ngày càng nhanh, tiếng động cơ ngày càng gầm thét dữ dội. Cuối cùng, — oành! Một đám khói đen bốc lên từ dưới nắp ca-pô, tia lửa cũng bắn tung tóe ra ngoài.
Hai người bọn họ vội vàng nhảy tránh ra, đứng ở một bên, trơ mắt nhìn chiếc xe nhỏ bốc cháy dữ dội ngay trên đống đá. Ngọn lửa càng lúc càng bén cao, thế là họ đành lùi về phía sau. Sau đó, đúng lúc họ đi tìm dụng cụ chữa cháy, họ mới phát hiện ra vùng đất hoang xung quanh đã cháy rụi cả rồi, toàn bộ vùng đất hoang toàn là những hòn đá lởm chởm cao thấp không đều — giống như hàng ngàn hàng vạn con rùa bị mắc cạn trên một vùng biển khô cạn vậy.
Chưa đợi Hồ Lan kể xong, tôi đã biết Văn Phúc đã làm ra chuyện gì rồi, anh ta đã lái xe tông thẳng vào một nghĩa trang nghèo nàn ở nông thôn.
Hồ Lan khoanh tay trước ngực nói: "Đương nhiên là tôi đã mắng Gia Quốc rồi. Sao cậu ta lại bất cẩn thế cơ chứ, không dạy chồng cô cẩn thận hơn một chút."
Lúc cô ấy kể cho tôi nghe chuyện Văn Phúc đã phá hủy chiếc xe đó, lẽ ra tôi nên khóc lớn một trận, lẽ ra tôi nên nổi giận lôi đình một phen, anh ta cứ thế mà ném đi bốn trăm tệ của tôi một cách uổng phí.
Nhưng ngược lại tôi lại phì cười. Hồ Lan cứ tưởng tôi điên rồi. Tôi cười dữ dội đến mức nước mắt cũng trào ra, thở hổn hển chẳng nói nên lời.
Thế nên tôi chẳng giải thích suy nghĩ thực sự trong lòng mình là gì. Tôi có cảm giác như mình nhìn thấy chồng tôi đang đứng trên bãi tha ma, vẻ mặt ngơ ngác, chẳng biết mình đã đi đến nơi nào. Tôi có cảm giác như chiếc xe con đang bốc cháy trên đống đá, tựa như những người đến viếng tang đang dâng quà cho người đã khuất. Tôi cảm thấy mừng thay cho viên phi công người Quảng Đông đã chết đó, chiếc xe con vốn thuộc về anh ta cuối cùng lại được lái thẳng lên thiên đường.
Cùng buổi sáng hôm đó, tôi và Hồ Lan vào thành phố. Tôi khoác chiếc áo khoác dài màu xanh lục của mình lên người, đi một đôi giày bình thường, bởi vì từ đây đến trung tâm thành phố phải đi ba, bốn dặm đường. Bạn hỏi một dặm xa bao nhiêu á? Đại khái là cái mà các bạn người Mỹ gọi là nửa cây số nhỉ. Quãng đường này tôi đành phải đi bộ thôi. Tôi không giống như bạn, ra tiệm tạp hóa mua đồ cũng phải chui vào ô tô lái đi hai dãy phố.
Dọc đường tôi ghé lại bưu điện một lát, lại gửi một bức điện tín nữa. Lần này gửi cho Lạc Hoa. Cô ấy bây giờ đã gả cho một người đàn ông Thượng Hải rất giàu có, là do người phụ nữ bói toán kia tìm hộ. Tôi muốn Vương Betty viết một bức điện y chang như lần trước: "Chúng ta sắp lánh nạn rồi." Chỉ là lần này tôi lại thêm một câu: "Chuyển trực tiếp bốn trăm tệ cho Giang Văn Lệ." Betty không hỏi bốn trăm tệ còn lại đi đâu mất rồi. Nhưng tôi đoán là cô ấy đã biết rồi.
Gửi điện tín xong, tôi và Hồ Lan liền đi thẳng ra chợ để mua ít đồ tạp hóa. Buổi sáng hôm đó rất lạnh, tôi nhớ lúc ấy mình còn ngước nhìn bầu trời xám xịt mây đen, rồi nói: "Biết đâu lại sắp có tuyết rơi rồi."
Hồ Lan cũng ngước nhìn trời: "Mây vẫn chưa đủ nhiều. Tôi nghe nói ở đây cả mùa đông chỉ tuyết rơi một hai lần, sẽ không có chuyện tuyết rơi liên miên đâu."
Chúng tôi đến chợ, lúc này đại khái khoảng mười giờ, những người bán hàng rong đã chiếm chỗ ở đây từ lúc trời tờ mờ sáng rồi. Giờ thì họ rất muốn làm chút buôn bán nhỏ để sưởi ấm cơ thể. Phía bên ngoài chợ, những thanh niên ngồi xổm trước những đống rau củ chất cao như núi, bên trong chợ là những dãy bàn xếp hàng dài, trên đó bày những thùng đậu hũ, cân đĩa, cà chua và củ cải, lại còn có những giỏ nấm hương, những chậu cá sống, cua nước ngọt vận chuyển từ phía nam lên, lúa mì, trứng gà và mì tươi.
Mọi người đi lướt qua các quầy hàng tựa như một con rồng dài, miệng thở ra hơi nóng, tạo thành những đám sương mù nhỏ. Khoảng thời gian vào buổi sáng này, ai nấy đều vẫn rất vui vẻ, chưa bị sự mệt mỏi của cả một ngày đè nặng, đã bắt đầu nghĩ đến các nguyên liệu cho món ăn tối nay rồi.
Tôi và Hồ Lan đi theo mùi hương thơm lừng của hạt dẻ rang, lúc này chúng tôi đã đứng trước cái quầy nhỏ đó rồi. Anh ta đang xóc chiếc giỏ đựng đầy ắp những hạt dẻ màu đen như vàng. Lúc này cách lúc chúng tôi ăn sáng đã được khoảng ba tiếng đồng hồ, thế nên cả hai chúng tôi đều đồng tình: Mua một nắm hạt dẻ rang để sưởi ấm tay là tuyệt nhất.
"Hai cô đến đúng lúc lắm," chủ sạp nói, "nửa tiếng trước tôi vừa mới cho thêm mật ong vào, vỏ đều đã nứt toác ra rồi." Anh ta lấy ra hai túi giấy, gói cho mỗi chúng tôi sáu hạt.
Tôi vừa bóc vỏ một hạt chuẩn bị đưa hạt dẻ nóng hổi vào miệng, thì bỗng nhiên, từ ngoài đường vọng lại một tiếng thét hoảng hốt: "Máy bay Nhật Bản! Thảm họa đến rồi!" Tiếp theo đó là chúng tôi nghe thấy tiếng máy bay, nghe từ xa vang lên giống như tiếng sấm.
Tất cả mọi người, tất cả những người bán hàng rong, đều bắt đầu xô đẩy lẫn nhau, cắm cổ chạy trốn. Giỏ hạt dẻ bị lật nhào, gà mái kêu quang quác, đập cánh loạn xạ trong lồng. Hồ Lan túm lấy tay tôi, chúng tôi cũng bắt đầu cắm cổ chạy, giống như chúng tôi có thể chạy thắng chiếc máy bay vậy. Tiếng máy bay càng lúc càng lớn, cho đến khi áp sát sau lưng chúng tôi, giống như tiếng voi gầm vậy. Chúng tôi biết đạn dược và bom sắp được thả xuống rồi. Mọi người xung quanh trong chớp mắt đều rạp cả xuống đất, giống như lúa mì trên đồng bị gió thổi rạp xuống vậy. Tôi cũng ngã rạp xuống, là Hồ Lan đã đẩy tôi ngã, nhưng bởi vì bụng tôi quá lớn, nên chỉ có thể nằm nghiêng sang một bên. "Phen này chúng ta chết chắc rồi!" Hồ Lan khóc thét lên.
Tôi áp sát mặt xuống đất, hai tay ôm lấy đầu. Mọi người đang gào thét, chúng tôi cũng chẳng nghe rõ nữa, bởi vì tiếng máy bay trên đỉnh đầu thực sự quá lớn. Bàn tay Hồ Lan kéo chặt bả vai tôi, tôi có thể cảm nhận được tay cô ấy đang run rẩy, nếu không, thì chính là cơ thể tôi đang khiến cô ấy run theo.
Tôi vừa tức giận lại vừa sợ hãi. Tôi muốn đứng dậy chạy trốn, nhưng cơ thể quá nặng nề, không sao trèo dậy nổi. Dù tôi rất muốn sống tiếp, nhưng trong đầu lại toàn nghĩ đến cái chết. Có lẽ là vì những người xung quanh đều đang lẩm bẩm: "A Di Đà Phật, A Di Đà Phật" — đã gọi Phật đến để dẫn họ sang một thế giới khác rồi.
Tôi nghĩ, chúng ta đã chết rồi sao? Sao mình lại biết được nhỉ? Tôi có cảm giác như nhịp thở của mình đã dừng lại rồi, nhưng tư duy của tôi vẫn vô cùng nhạy bén, đôi tay tôi vẫn có thể cảm nhận được cái lạnh lẽo và cứng ngắc của mặt đất. Tôi vẫn nghe thấy tiếng máy bay, bây giờ nó đi đâu mất rồi, hình như ngày càng xa hơn.
Tiếng niệm Phật đã ngớt, nhưng chúng tôi vẫn nằm rạp dưới đất, không dám lên tiếng, không dám nhúc nhích. Phải mất một lúc lâu sau, tôi mới nghe thấy có người đang thì thầm nói chuyện. Tôi cảm nhận được những người xung quanh đã đứng dậy rồi, có người đang nức nở, có đứa trẻ khóc òa lên. Tôi không muốn đứng dậy để nhìn những chuyện xảy ra xung quanh. Hồ Lan lay lay tôi: "Cô bị thương ở đâu à? Mau đứng lên đi!" Nhưng tôi vẫn không nhúc nhích. Tôi không tin vào cảm giác của chính mình.
"Đứng lên!" Hồ Lan hét lên, "Rốt cuộc cô bị làm sao thế?"
Hồ Lan đỡ tôi đứng dậy. Chúng tôi từ từ ngẩng đầu lên, cánh đồng lúa mì vừa nãy giờ đây cũng đã vươn người đứng thẳng lên rồi. Tất cả chúng tôi đều nhỏ giọng nói: "Không có máu." Hồ Lan hét lên: "Không có máu! Chỉ có tuyết thôi!" Ít nhất cô ấy là người đầu tiên nghĩ đến điều này. Sau khi cô ấy nói xong, tôi cũng nghĩ ra. Vô số bông tuyết lớn bao phủ cả con đường lớn, rơi trên lưng những người đang nằm rạp dưới đất.
Tôi ngẩng đầu lên, nhìn thấy tuyết trên trời vẫn đang rơi xuống, mỗi bông tuyết to bằng tờ giấy. Một người bán hàng rong phía trước chúng tôi nhặt lên một tờ, hóa ra là một tờ giấy mỏng, anh ta đưa cho tôi: "Trên đó viết những gì thế?"
Trên giấy vẽ một cô bé Trung Quốc ngồi trên vai một tên lính Nhật Bản. "Chính phủ Nhật Bản nói," tôi nói, "nếu chúng ta không kháng cự, mọi người sẽ nhận được đãi ngộ tốt. Không cần phải sợ hãi. Nếu chúng ta kháng cự, mọi người sẽ gặp tai họa."
Lúc này tôi nghe thấy một tên lính Trung Quốc hét lớn trên đường cái, hắn ta giống như phát điên lên vậy, dùng chân đá những tờ truyền đơn nhẹ tựa bông tuyết ấy. "Nói dối! Nói dối!" Hắn gào lên, "Bọn chúng ở Thượng Hải cũng từng nói những lời giống hệt thế này. Nhìn xem bọn chúng đối phó với chúng ta thế nào kìa! Quân đội của chúng ta còn lại gì chứ! Chỉ còn lại mấy mảnh giẻ rách để lau khô vết máu của Trung Quốc thôi!"
Một bà lão bắt đầu mắng hắn. "Đừng nói nữa! Đừng đá nữa! Cậu phải cư xử cho đàng hoàng vào, nếu không tất cả chúng ta đều gặp tai họa theo đấy." Nhưng tên lính đó vẫn gầm lên. Bà lão đó nhổ một bãi nước bọt vào chân hắn, vác cái túi của mình lên rồi bỏ đi. Thế là mọi người nhao nhao lên tiếng bàn tán. Có người bắt đầu gào thét, một lúc sau cả con đường lớn đều bị nhấn chìm trong những âm thanh hoảng loạn.
Tôi nói cho bạn biết, ngày hôm ấy, khi căn bệnh hoảng loạn này lan truyền đi, mỗi một con người dường như đều biến thành một con người khác. Chỉ khi bạn lánh nạn, bạn mới phát hiện ra trong lòng mình sớm đã tồn tại một con người như thế. Tôi nhìn thấy mọi người bắt đầu cướp giật đồ ăn, trộm đồ, những người bán hàng rong cũng rời khỏi những cái bếp lò đang bốc khói nghi ngút. Khắp nơi đều có thể nhìn thấy người ta đánh nhau, cãi vã, trẻ con không tìm thấy người lớn thì khóc òa lên, mọi người xô đẩy lẫn nhau chen lên xe buýt, khi nhìn thấy trên đường quá đông người, xe không di chuyển được nữa, thì lại nhảy tót hết xuống xe.
Hồ Lan gọi phu xe xích lô đằng trước ba chúng tôi chở chúng tôi về nhà. Nhưng anh ta vừa nhảy xuống xe định đỡ chúng tôi lên, thì một gã đại hán xô ngã anh ta xuống đất, rồi nhảy lên xe xích lô đạp đi mất. Chưa kịp để tôi thốt lên câu "Sợ quá đi mất", một đứa bé ăn mày nhỏ tuổi đã lao tới, định cướp cái ví trong tay tôi, Hồ Lan liền đánh bạt nó ra.
Đột nhiên có người hét lên: "Chạy mau! Chạy mau!" Thế là mọi người bắt đầu cắm cổ chạy, một đám người lao về phía chúng tôi. Cả một thùng cá ướp lạnh bị lật nhào, giống như một chiếc bình hoa. Một người phụ nữ ngã xuống đất khóc nức nở — tiếng khóc này thảm thiết làm sao, khóc mãi cho đến khi bị hàng ngàn hàng vạn tiếng bước chân nhấn chìm. Hồ Lan túm chặt lấy cánh tay tôi, làm cho tôi hoa mày chóng mặt, bắt tôi chạy theo dòng người về phía trước. Sau đó chúng tôi liền bị cuốn vào dòng người, kẹt giữa những khe hở người chen chúc xông xáo tứ phía. Tôi có thể cảm nhận được vô số cánh tay và đầu gối đang tì vào lưng và bụng mình. Người ngày càng nhiều, ngày càng chen chúc, chúng tôi bị kẹt ở giữa, chỉ có thể nương theo dòng người, cùng thở hổn hển, cùng di chuyển.
Hồ Lan đặt một tay lên vai tôi, không ngừng đẩy tôi về phía trước. "Đi mau, đi mau." Cô ấy ở phía sau tôi, miệng lẩm bẩm niệm chú, giống như đang làm lễ cầu nguyện vậy. "Đi mau, đi mau." Đi được một bước là cô ấy lại nói câu này. Đột nhiên dòng người đi đến một khoảng đất trống, liền tản ra trong chớp mắt. Tôi phát hiện ra xung quanh trước sau trái phải không còn ai xô đẩy nữa, ai nấy đều tự lo thân mạnh ai nấy chạy.
"Đi lối này, đi lối này." Hồ Lan nói. Tôi cảm thấy tay cô ấy đã buông bả vai mình ra rồi.
"Đi đường nào?" Tôi quay đầu hỏi, "Hồ Lan!"
Không ai trả lời.
"Hồ Lan! Hồ Lan!" Tôi hét lên. Tôi quay đầu lại, gạt những người xung quanh ra, nhưng chẳng tìm thấy Hồ Lan đâu cả. Tôi lại quay đầu nhìn lần nữa, vẫn không thấy.
Tôi ở giữa dòng người, trong lòng tràn ngập sự cô đơn và hoảng loạn. Ánh mắt tôi quét qua từng người đang chạy sớt qua bên mình, tôi ngoảnh nhìn trái phải, đánh giá từ trên xuống dưới, bóng dáng cô ấy đâu mất tiêu.
"Mẹ! Mẹ!" Chẳng biết thế nào, trong cổ họng tôi lại thốt ra những từ ngữ thế này, "Mẹ! Mẹ!" Cứ như thể người sớm đã vứt bỏ tôi lại có thể cứu tôi vậy.
Hôm đó tôi thật sự quá ngốc nghếch. Tôi hoàn toàn có thể bị vô số người lạ đâm ngã, giẫm bẹp, giẫm chết, đứa bé trong bụng tôi cũng có thể bị người ta đâm cho sẩy thai. Vậy mà tôi lại lảo đảo bước đi giữa dòng người, gọi mẹ tôi, gọi tên của Hồ Lan.
Nếu bạn hỏi tôi, rốt cuộc đã qua bao lâu, qua bao nhiêu tiếng đồng hồ, tôi mới được tìm thấy, tôi không thể nói cho bạn biết được. Đến khi tinh thần tỉnh táo lại, tôi mới hiểu ra, hóa ra tôi đang ngồi trên một chiếc ghế dài, ngẩn ngơ nhìn hạt dẻ đang cầm nắm trong tay, chính là hạt dẻ mà tôi vừa mới bóc vỏ chuẩn bị ăn trước khi máy bay Nhật Bản tới. Tôi vừa muốn cười, vừa muốn khóc, vậy mà tôi lại giữ chặt hạt dẻ này trong tay không buông vào lúc tính mạng suýt chút nữa thì mất đi. Tôi vừa định vứt nó đi, bỗng nhiên lại cảm thấy nên bảo quản nó cho thật tốt. Thế giới thay đổi quá đột nhiên, ý nghĩ quan trọng nhất trỗi dậy trong lòng lại là thế này. Cả thành phố đều phát điên rồi, Hồ Lan cũng mất tích rồi, vậy mà tôi lại đang suy nghĩ xem có nên giữ lại hạt dẻ lạnh ngắt này không!
"Này, cô em! Chị hy vọng em vẫn chừa lại cho chị một hạt đấy nhé!" Từ xa truyền đến một âm thanh, kéo tôi bừng tỉnh khỏi cơn ác mộng.
Tôi nhìn thấy Hồ Lan nhảy xuống từ một chiếc xe xích lô, lao về phía tôi. Bạn có tưởng tượng nổi không? Trải qua một thảm họa đáng sợ như thế, cô ấy vậy mà vẫn còn tâm trạng để nói đùa, thế mà tôi lại cứ tưởng cô ấy chết rồi cơ chứ! Tôi vui mừng khôn xiết khóc lóc lao về phía cô ấy.
"Mau lên đây." Cô ấy vừa nói, vừa chìa ra một cánh tay kéo tôi lên. Tôi vứt hạt dẻ trong tay đi, sau đó chật vật trèo lên hàng ghế sau chật hẹp. Bản thân Hồ Lan là người đạp xích lô. Cô ấy đưa cho tôi một cây gậy gỗ, là chân ghế đẩu hoặc chân ghế tựa.
"Nếu có ai dám cướp chiếc xe này, cứ dùng thứ này mà đánh bọn chúng!" Cô ấy hét lên, "Cô chỉ có thể làm thế thôi, hiểu chưa? Đánh bọn chúng!"
"Đánh bọn chúng!" Tôi lặp lại một câu. Tim tôi đập nhanh hơn, tôi nhìn xung quanh, nhìn ra phía sau, giơ gậy lên, nhắm vào một người đàn ông đang trừng trừng nhìn mình.
Mãi cho đến khi gần về đến nhà, tôi mới nhớ ra hỏi cô ấy chiếc xe này kiếm đâu ra vậy.
"Cái thời buổi này loạn thật đấy." Cô ấy nói, "Chúng ta vừa đến khoảng đất trống đó, tôi rốt cuộc cũng thở phào nhẹ nhõm được một hơi, nhìn xung quanh, bỗng nhiên tôi phát hiện ra, cái tên đàn ông cướp chiếc xe xích lô từ tay người phu xe bên cạnh chúng ta đang ở phía trước, hắn ta đang đạp xe, cách chẳng mấy bước chân. Tôi chẳng thèm suy nghĩ gì nữa, lao tới, dùng sức đẩy hắn ta ngã nhào khỏi chỗ ngồi. Hắn vừa ngã xuống, tôi liền nhảy lên xe, một mạch đạp xe đến tìm cô đây. Tôi thấy cô mặc áo khoác xanh, cũng đang tìm tôi, nhưng tôi vừa định gọi cô, thì đúng vào khoảnh khắc ấy, có một tên lao tới chỗ tôi. Ái chà! Hắn ta trong tay còn huơ huơ một cây gậy, muốn đánh tôi ngã xuống, cướp xe đi, giống như việc tôi đã làm, cũng giống như việc tên đàn ông trước tôi đã làm, nhưng tôi đã sớm chuẩn bị sẵn rồi, chưa đợi hắn ra tay, tôi đã giật lấy cây gậy đó, sau đó tôi dùng nó đuổi tên đàn ông đó đi."
Cô ấy lắc lắc tay trước mặt tôi, một ngón tay của cô ấy hình như bị thương rồi. "Cô xem cái thời buổi này loạn cào cào lên rồi đấy." Cô ấy nói, "Đến cả tôi mà cũng dữ dằn thế này cơ mà."
Chính vào ngày hôm đó, chúng tôi đã rời khỏi Nam Kinh.
Thế nên cô thấy đấy, đời này tôi vẫn tính là may mắn. Tôi không thực sự lánh nạn, chẳng qua chỉ dính dáng một chút đến việc lánh nạn mà thôi.