Còn nhớ cô gái tự cao tự đại từng cùng tôi và Hồ Lan tắm chung chứ? Chính cô ấy đã kể cho chúng tôi nghe những gì xảy ra ở Thượng Hải, rằng không quân đã bay đến đó để giải cứu Trung Quốc như thế nào.
Cô ta đã đến phòng ăn từ lâu, còn chúng tôi ngồi trước một chiếc đài thu thanh. Chúng tôi đã nghe được tin các đức lang quân của mình đều còn sống, và lúc này đang lắng nghe tin chiến thắng. Chúng tôi vểnh tai lên nghe, sợ bỏ sót dù chỉ một chữ.
"Những gì các chị nghe được," cô ta nói bằng giọng đầy châm chúng, "toàn là chuyện nhảm nhí." Chúng tôi quay đầu lại nhìn cô ta, và phát hiện đôi mắt cô ta đỏ ngầu như quỷ dữ.
Rồi cô ta kể cho chúng tôi nghe sự thật về mọi chuyện. Viên phi công luôn chừa chỗ ngồi dưới chiếc quạt trần cho chồng tôi đã chết, người thanh niên mà chồng tôi hay quát mạt, hay đùa giỡn cũng đã chết, và chồng của cô gái tự cao tự đại này cũng bị giết rồi.
"Các chị nghĩ rằng chồng mình vẫn còn sống là may mắn sao," cô ta nói, "Các chị nhầm rồi."
Sau đó, cô ta kể cho chúng tôi nghe, máy bay đã đến cảng Thượng Hải - nơi tập trung dày đặc các chiến hạm Nhật Bản - vào giữa đêm. Họ muốn đánh cho người Nhật một vố bất ngờ, nhưng nào ngờ, khi họ còn chưa tới nơi thì máy bay Nhật đã cất cánh dưới sự che chở của màn đêm từ lâu - chúng sớm đã biết máy bay Trung Quốc sắp tới. Thế là các phi công của chúng ta ngược lại bị đánh cho trở tay không kịp, hoảng loạn đến mức vội vã thả bom. Quá vội vàng! Khoảng cách từ bầu trời xuống mặt đất quá gần, kết quả là những quả bom thả xuống vào đêm hôm đó đều rơi trúng mái nhà của dân thường và các cửa hàng, rơi xuống đường tàu điện, cướp đi sinh mạng của hàng trăm hàng ngàn dân thường, toàn là người Trung Quốc cả, trong khi các chiến hạm của Nhật Bản vẫn cứ hiên ngang ngoài hải diện.
"Chồng các chị chẳng phải anh hùng gì sất. Tất cả mọi người, những phi công đó đều đã chết, chồng tôi cũng chết rồi - còn tệ hơn cả việc chịu chết uổng công." Cô gái nói xong liền bỏ đi. Chúng tôi lặng thinh không nói một lời.
Hồ Lan phá vỡ sự im lặng, giận dỗi nói: "Làm sao cô ta biết chuyện gì đã xảy ra, chuyện gì không xảy ra chứ?" Rồi lại nói rằng cô ấy vẫn rất vui mừng, bởi vì đất nước vẫn còn sống. Ít nhất thì điều đó là sự thật, cô ấy nói.
Các bạn có tưởng tượng nổi không? Cô ta lại dám nói trước mặt cả hai chúng tôi rằng cô ấy rất vui, sao cô ta có thể bộc lộ một suy nghĩ ích kỷ như vậy cơ chứ?
Nhưng tôi không trách sự thiếu giáo dưỡng của Hồ Lan. Tôi cố gắng khuyên bảo cô ấy với tư cách là một người chị lớn: "Nếu những gì cô gái kia nói là sự thật, chúng ta quả thật nên suy ngẫm về thảm kịch này. Chúng ta nên nghiêm túc một chút, đừng chỉ mải vui vẻ cho riêng mình."
Vẻ mặt vui mừng của Hồ Lan lập tức biến mất, cô ấy há hốc miệng, tiếp thu suy nghĩ này vào đầu. Tôi nghĩ, không tồi, dù thiếu giáo dưỡng nhưng cô ấy vẫn biết sai là sửa.
Nhưng ngay lập tức cô ấy nhíu mày, sầm mặt xuống. "Suy nghĩ kiểu này của cậu — tớ không hiểu nổi," cô ấy nói.
Thế là tôi lại giải thích một lần nữa. "Chúng ta nhất định phải quan tâm đến đại cục, không thể chỉ nghĩ đến chồng của mình, nhỡ đâu còn có những chuyện tồi tệ hơn xảy ra thì sao."
"Ôi chao, xui xẻo quá!" cô ấy kêu lên, lấy tay bịt miệng lại, "Sao cậu có thể nói những lời kém may mắn này để làm hỏng tương lai của mọi người cơ chứ?"
"Không phải lời kém may mắn đâu," tôi kiên quyết nói, "Tôi chỉ nói rằng chúng ta phải thực tế một chút. Đây là chiến tranh, chúng ta không chỉ dùng tình cảm mà còn phải dùng lý trí, đầu óc lúc nào cũng phải tỉnh táo. Nếu chúng ta giả vờ như không nhìn thấy nguy hiểm, thì làm sao có thể tránh được nó chứ?"
Nhưng Hồ Lan không muốn nghe tôi nói nữa. Cô ấy vừa khóc vừa hét: "Tớ chưa từng nghe thấy những lời độc ác đến thế! Nghĩ thế thì có ích gì, những ý nghĩ xấu xa chỉ mang lại kết quả xấu mà thôi."
Cô ấy cứ la lối om sòm như vậy, điên cuồng như thể phát cuồng lên rồi. Giờ đây khi nhớ lại, tình bạn của chúng tôi chính là bắt đầu rạn nứt từ lúc đó. Sự hòa hợp giữa chúng tôi là do Hồ Lan phá vỡ. Tôi nói cho các bạn biết, ngày hôm đó tôi mới nhìn thấu con người thật của Hồ Lan, cô ta tuyệt đối không phải là kẻ vô dụng trong mắt mọi người. Người phụ nữ này có thể thốt ra một tràng những lời sắc bén tựa lưỡi dao.
"Cậu nói bất hạnh cũng sẽ giáng xuống đầu chúng ta, cậu nói chồng cậu cũng sẽ chết," cô ấy quát lên, "Thế sao cậu không chớp lấy mọi thứ trước mắt để vui chơi hưởng lạc đi?"
Các bạn có tưởng tượng nổi không? Cô ta dám nguyền rủa tôi trước mặt mọi người! Cô ta đưa ra một câu hỏi chỉ có thể dẫn đến câu trả lời sai lệch. Cô ta muốn tạo cho người ta ấn tượng rằng tôi là kẻ chuyên nói những lời xui xẻo.
"Tôi chưa từng nói câu đó." Tôi lập tức đáp lời.
"Cậu lúc nào cũng nghĩ mọi việc theo hướng tồi tệ nhất."
Đây lại là một lời nói dối. "Không hề có ý đó," tôi nói, "Tôi chỉ bảo là phải thực tế hơn, chuyện này và ý nghĩ xui xẻo là hai chuyện hoàn toàn khác nhau."
"Nếu có năm cách khác nhau để nhìn nhận một sự việc," cô ấy vừa nói vừa giơ tay lên, kéo lấy ngón tay cái cứ như nó là một củ cải thối, "cậu lúc nào cũng chọn cách tồi tệ nhất này."
“Không có chuyện đó. Ý tôi là trong thời kỳ loạn lạc, việc chỉ riêng chúng ta vui vẻ là không đủ, chẳng có ích gì cả, nó không thể ngăn cản được chiến tranh.”
“Tưởng Giới Thạch nói ông ấy có thể ngăn chặn chiến tranh,” cô ta hét lên. “Cậu nghĩ cậu giỏi giang hơn Tưởng Giới Thạch chắc?”
Hồ Lan và những người phụ nữ khác đều trừng mắt nhìn tôi. Không một ai bước lên để khuyên chúng tôi đừng cãi nhau nữa. Họ không nói, “Thôi nào, thôi nào, các chị em, cả hai người đều đúng, hai người chỉ hiểu lầm ý nhau thôi.” Tôi nhìn ra được, những lời nói kích động của Hồ Lan đã làm vẩn đục suy nghĩ của họ, khiến họ không thể hiểu đúng vấn đề. Hèn chi họ không nhận ra những gì Hồ Lan nói chỉ là một lũ nhảm nhí.
Thế là tôi buông một câu: “Thôi đi!” — quên hết chuyện này đi! Tôi rời khỏi họ, bước vào phòng của mình.
Hễ nghĩ đến đây là tôi lại thấy tức giận cho đến tận bây giờ, bởi vì tính tình của cô ta chẳng thay đổi chút nào. Các bạn có thể thấy đấy, cô ta luôn muốn bẻ lái mọi việc theo suy nghĩ của riêng mình. Nếu đó là một việc tồi tệ, cô ta sẽ nói thành chuyện tốt; còn nếu là chuyện tốt, cô ta lại nghĩ nó thành chuyện xấu. Dù tôi có nói gì đi nữa, cô ta nhất định phải đối đầu với tôi, khiến tôi trông giống như một kẻ chuyên mắc lỗi. Thế là tôi đành phải tự tranh luận với chính mình để tìm xem rốt cuộc cái gì mới là đúng.
Dù sao đi nữa, sau trận cãi vã đó, tôi tức giận đến mức chỉ có thể ngồi một mình trên giường, nghĩ về những lời châm chọc mỉa mai của Hồ Lan. Tôi tự nhủ, cô ta chính là cái loại người như vậy, suốt ngày nói những lời ngốc nghếch. Cô ta mới là người bị mọi người cười chê sau lưng. Tôi không muốn nghe những lời nhảm nhí của cô ta nữa, liền muốn tìm chút việc gì đó để làm. Tôi mở ngăn kéo, lục ra một tấm vải mà thím mới tặng cho tôi, cùng với một cuộn bông do nhà máy nhà chúng tôi tự sản xuất.
Đây là một tấm vải bông màu xanh nhạt, trên thêu những vòng tròn màu vàng, rất nhẹ, rất thích hợp để may trang phục mùa hè. Tôi đã sớm nhắm sẵn một kiểu dáng, là kiểu dáng mà tôi từng nhìn thấy ở Thượng Hải trước đây, kiểu mà một cô bé vui vẻ từng mặc.
Trong lòng đã có sẵn ý định, tôi bắt đầu cắt. Tôi tưởng tượng mình mặc bộ đồ màu xanh này, trông giống như cô bé kia, tất cả các tỷ muội của cô ấy đều vô cùng ngưỡng mộ, mọi người đều lén lút bàn tán rằng trang phục và phong thái của cô ấy sao mà hợp nhau thế. Nhưng đúng lúc này, tôi nhìn thấy Hồ Lan, cô ta săm soi bàn tán về bộ quần áo này, dùng cái giọng oang oang của mình mà nói: “Chồng vừa mới chết mà đã mặc trang phục kiểu này, đúng là quá lòe loẹt rồi.”
Trong lòng tôi đang nghĩ như vậy, thì tay lập tức cắt sai — tay áo bị cắt quá ngắn — tôi vẫn còn đang tức giận mà. Nhìn những việc cô ta làm kìa! Cứ khiến tư tưởng của tôi không tài nào tập trung nổi. Tệ hơn nữa là cô ta đã bóp méo suy nghĩ của tôi, nhét những ý nghĩ tồi tệ vào đầu tôi.
Quả là một ý nghĩ tồi tệ, tôi chưa từng nghĩ mình lại có suy nghĩ thế này, chưa từng bao giờ. Nhưng bây giờ nó đã nhảy vọt ra, tôi đã chộp lấy nó. Tôi tưởng tượng chẳng bao lâu nữa, Hồ Lan sẽ nói với tôi rằng: “Thật đáng tiếc, chồng cậu chết rồi, anh ta từ trên trời rơi xuống, đúng là số khổ mà.”
“Ôi, không,” tôi tự nhủ, “Quan Âm Bồ Tát phù hộ, đừng để anh ấy chết.”
Nhưng tôi càng muốn đuổi ý nghĩ đó ra khỏi đầu thì nó lại càng bám trụ ở đó một cách ngoan cố. “Anh ta chết rồi,” Hồ Lan sẽ nói. Lúc cô ta báo tin này cho tôi, trên mặt thậm chí còn mang theo ý cười nữa chứ. Tôi sẽ giống như cô gái tự cao tự đại vừa mất chồng kia, nổi giận đùng đùng với cô ta.
Rồi tôi lại nghĩ, có lẽ tôi nên khóc một trận, tỏ ra thật đau buồn, vì đứa con đã mất đi người cha của nó. Phải, như vậy sẽ tốt hơn.
Nhưng chớp mắt một cái, suy nghĩ của tôi lại bay đi đâu mất. Tôi có phải quay lại đảo Sùng Minh, tiếp tục sống cùng thím cả và thím mới không? Có lẽ là không, nếu tôi đi bước nữa thì sẽ không phải thế. Rồi tôi lại nghĩ, lần tới tôi phải tự mình chọn chồng mới được.
Tôi dừng tay khâu vá lại. Mình đang tơ tưởng những cái quái gì thế này? Lúc này tôi mới hiểu ra, hóa ra tôi thực sự rất hy vọng Văn Phúc chết đi. Tôi không có ý nghĩ này vì hận anh ta, không phải thế, phải đến sau này khi anh ta trở nên tệ bạc hơn nữa, tôi mới có ý nghĩ đó.
Nhưng vào đêm hôm đó, trong căn phòng của chính mình, trong tâm can của chính mình, tôi đã tranh cãi với Hồ Lan, và cũng tranh cãi với cả chính bản thân: Có đôi khi, một cô gái sẽ phạm sai lầm; có đôi khi, sai lầm có thể sửa chữa được. Chiến tranh sẽ thay đổi nó, đây không phải lỗi của ai cả, đổi một vận rủi này lấy một vận rủi khác, chuyện này vẫn có khả năng xảy ra.
Thế là tôi may xong bộ quần áo, cắt đứt các đầu chỉ, trùm quần áo qua đầu. Nhưng lúc đó bụng và ngực tôi đã phình to vì mang thai, tôi vừa trỏ một tay vào thì liền ý thức được: Tôi bị kẹt lại rồi.
Ồ, bạn thấy chuyện này thật buồn cười phải không? Quần áo của tôi bị kẹt, hôn nhân của tôi bị kẹt, mối quan hệ bạn bè giữa tôi và Hồ Lan bị kẹt. Đôi khi tôi cảm thấy rất lạ, tại sao cho đến tận bây giờ Hồ Lan vẫn là bạn của tôi, sao chúng tôi lại có thể hùm hạp làm ăn chung được cơ chứ?
Có lẽ là vì những năm tháng tuổi trẻ chúng tôi cãi nhau quá dữ dội, có lẽ là vì chúng tôi chẳng còn ai khác để kết giao, thế nên chúng tôi luôn tìm được lý do để tiếp tục làm bạn. Có lẽ những lý do đó vẫn còn tồn tại cho đến tận bây giờ.
Dù sao đi nữa, sau trận cãi vã lớn đó, chuyện sau đây đã xảy ra.
Mấy ngày sau, không quân thông báo với chúng tôi rằng họ sắp đưa chúng tôi đến Dương Châu, đoàn tụ với các đức lang quân ở trển.
Lúc ăn sáng chúng tôi nghe được tin này, khi đó còn hơi hoài nghi, chúng tôi nghĩ bom sắp rơi xuống cái nơi mà chúng tôi đang ngồi lúc đó rồi.
"Chắc chắn là tình hình ở đây nguy cấp rồi," tôi nói, "cho nên mới muốn đưa chúng tôi đi."
Một cô gái tên là Lý Tuấn nói: "Thế thì chúng ta phải mau chóng rời đi thôi, sao lại còn phải ở lại đây hai ngày làm gì chứ?"
Một người phụ nữ khác tên là Mệ Lệ nói: "Đi Dương Châu làm gì chứ? Bom cũng sẽ rơi xuống đó thôi."
“Dương Châu chắc chắn không phải là nơi tốt lành gì,” tôi vừa suy nghĩ vừa nói lớn ra miệng, “Một thành phố mà người Nhật không thèm lấy, thì lúc nào cũng an toàn cả.” Các bạn xem lập luận của tôi logic biết bao. Tôi không nói là tôi không thích Dương Châu, sao tôi có thể nói thế được chứ? Tôi chưa từng nhìn thấy Dương Châu bao giờ cơ mà.
Hồ Lan lập tức hát đối ngược lại với tôi: “Tớ nghe nói Dương Châu rất đẹp, có rất nhiều danh lam thắng cảnh,” cô ấy nói, “Dương Châu sản sinh ra mỹ nhân, mì Dương Châu cũng rất nổi tiếng.”
Tôi biết là mình sẽ chẳng đi ngắm mỹ nhân nào đâu, cũng chẳng thèm nếm thử thứ mì đó làm gì. “Tôi không hề nói Dương Châu không đẹp,” tôi cẩn thận giải thích, “Tôi chỉ nói là người Nhật không coi nó là một thành phố tốt đẹp, những gì người Nhật muốn và những gì người Trung Quốc muốn là hai chuyện hoàn toàn khác nhau.”
Thế là vào cuối mùa hè năm đó, chỉ vài tuần sau khi chiến tranh nổ ra, chúng tôi khởi hành đi Dương Châu. Vì lúc bấy giờ phần lớn đường ô tô và đường sắt đều không thông tuyến, nên chúng tôi đi bằng thuyền. Sau khi đến Dương Châu, vừa nhìn lướt qua là tôi đã cảm thấy thành phố này đúng như những gì tôi tưởng tượng, là một nơi mà người Nhật đời nào thèm lấy.
Nhà mới của chúng tôi chỉ cách phía tây bắc Thượng Hải nửa ngày đường ngồi xe. Khi đó Thượng Hải vẫn là thành phố tốt đẹp nhất trên thế giới, vô cùng hiện đại. Dương Châu thì hoàn toàn khác biệt, chẳng có cao ốc lầu cao gì sất, phần lớn là nhà trệt kiểu cũ, nhà nào có hai tầng thì đã được coi là kiến trúc đáng gờm lắm rồi. Ai mà biết Đỗ Phủ cùng các thi nhân cổ đại khác tại sao đều thích viết về thành phố này cơ chứ? Đối với tôi mà nói, toàn bộ thành phố trông cứ như được đắp bằng bùn nhão và rác rưởi vậy. Dưới chân tôi là đường bùn, đất bùn, sân bùn; trên đầu tôi là những bức tường xây bằng gạch đất ngói đất, mái nhà thì lợp ngói đất trộn cỏ tranh.
Căn nhà mà không quân tìm cho chúng tôi chính là như thế đấy, bùn nhão cộng với cục đất sét, chia thành bốn gian lớn, mỗi gian có thêm hai phòng nhỏ, cộng thêm một nhà bếp chung bên trong đặt bốn chiếc bếp lò kiểu cũ. Tất cả chúng tôi vừa nhìn thấy bộ dạng này liền chết lặng.
"Bây giờ là thời chiến," cuối cùng tôi cũng nói với những người khác, "tất cả chúng ta đều phải hy sinh một chút." Lý Tuấn và Mệ Lệ lập tức gật đầu biểu thị đồng ý. Hồ Lan quay phắt mặt đi chỗ khác.
Rồi cô ta bắt đầu đi kiểm tra, hễ nhìn thấy thứ gì là cô ta lại chê bai thứ đó. Cô ta dùng ngón tay chỏ chọc chọc vào bức tường đang bong tróc. "Ái!" Tiếp đó lại chỉ vào một bức tường khác, nơi ánh sáng mặt trời chiếu xuyên qua những lỗ thủng trên tường. "Ái!" Cô ta dùng chân dậm dậm xuống mặt đất, "Chao ôi! Nhìn kìa, bụi trên đất nhiều quá đi mất, toàn bay lên theo bước chân của tôi kìa."
Tôi đứng một bên nhìn, tất cả chúng tôi đều đứng một bên nhìn. Tôi rất muốn hét lên: "Các chị nhìn bộ dạng của cô ta kìa, cô ta chỉ thích càu nhàu, còn tôi thì không." Nhưng tôi cảm thấy mình không nhất thiết phải nói ra. Mệ Lệ, Lý Tuấn đều ở bên cạnh, bản thân họ tự nhìn ra được Hồ Lan là người thế nào.
Chiều hôm đó, một cô gái nấu ăn và một người ở nam cũng tới. Quân đội chỉ phái đến hai người này, cho nên hai người này được dùng chung cho tất cả mọi người. Cô gái nấu ăn là người dưới quê lên, tuổi còn trẻ, khuôn mặt rất lớn, trông có vẻ rất có phúc khí. Nhiệm vụ của cô ấy là nhóm lò vào mỗi buổi sáng, rửa rau, thái rau, giết gà, mổ cá, dọn dẹp rác rưởi trong nhà bếp.
Người ở nam là do quân đội phái tới, một người đàn ông trung niên, chúng tôi đều gọi anh ta là anh nuôi, đây là một loại binh lính bình thường, chỉ biết dùng chổi, chỉ biết chiến đấu với ruồi nhặng. Người này gầy gò thấp bé, trông như chỉ cần khiêng vác vật gì nặng một chút là tay chân sẽ gãy lìa đến nơi vậy. Anh ta cũng có chút thần kinh, thường hay vừa làm việc vừa tự lẩm bẩm một mình, anh ta tưởng tượng mình là một sĩ quan cao cấp, nhưng lại đang chấp hành những mệnh lệnh tồi tệ: "Tấm ga giường này mang đi phủi sạch cho tôi! Vết bẩn này giặt sạch đi!"
Có một lần tôi phát hiện Hồ Lan ra lệnh cho anh nuôi trộn sáu lòng trắng trứng vào một thùng bùn nhão.
"Kiếm đâu ra cái bài thuốc gia truyền này thế không biết," tôi nghe thấy anh ta đang lẩm bẩm một mình, "tôi thực sự nghĩ mãi không ra, cô ta bắt tôi dùng thứ này để trét sàn nhà. Gió quái gì thổi vào đầu cô ta thế không biết, bộ cô ta muốn ăn đất chắc, tưởng là cái bánh ngọt ngon lành nào đấy cơ chứ. Hả!"
Tôi đem lời của anh nuôi kể lại cho Lý Tuấn và Mệ Lệ. Tôi chỉ có thể làm thế. Lỡ như Hồ Lan phát điên, quyết định phóng hỏa đốt nhà của chính mình thì sao đây? Mấy ngày sau, mấy vị phu nhân khác cũng báo cáo lại một số chuyện kỳ lạ: Hồ Lan ra lệnh cho anh nuôi mỗi ngày dùng thứ nước canh trứng này trét lên sàn nhà phòng cô ấy, liên tục trét ba ngày trời. Đợi lớp canh trứng này khô két lại, cô ấy lại bắt anh ta trét thêm một lớp nữa. Tệ hơn là cô ta còn bắt anh ta dùng gạo tẻ và bùn nấu thành một thứ cháo nhầy nhụa.
"Đem thứ này hắt lên tường, bảo là phải nấu như nấu cháo ấy," anh ta nói. Chúng tôi nghe xong đều tặc lưỡi liên hồi. Tội nghiệp Hồ Lan.
Nhưng vài ngày sau, anh nuôi không nói năng gì nữa, anh ta chỉ im lặng làm việc, chỉ than vãn mấy tiểu đồng ở cửa tiệm trêu chọc anh ta, bán cho anh ta một con vịt đực đã bị xì hơi, mang về mổ bụng ra thì con vịt vừa xì hơi một cái liền xẹp đi một nửa.
"Đừng buồn phiền vì chuyện con vịt nữa," tôi nói, "Đây không phải lỗi của anh." Bởi vì tôi thực sự không kìm nén được sự tò mò, bèn nói tiếp, "Dù sao vẫn hơn là uống canh bùn chứ nhỉ?"
Anh nuôi nhíu mày nhìn tôi. "Xin lỗi, phu nhân," anh ta cẩn thận nói, "Hôm nay tai tôi không được thính cho lắm."
Tôi gật đầu về phía bóng lưng của Hồ Lan ở bên trong căn nhà, "Cái thứ canh bùn mà cô ta bắt anh làm ấy, chắc không ngon lành gì đâu nhỉ?"
"Xin lỗi, phu nhân," anh ta lại nói thêm một câu, "Hôm nay tai tôi với đầu óc không kết nối được với nhau."
Cho nên tôi đành tìm cớ sang thăm Hồ Lan, xem cô ta đã điên đến mức nào rồi. Tôi rút từ trong giỏ ra cây kim thêu tốt nhất của mình.
"Cây kim này là của cô phải không?" Tôi đi đến cửa nhà cô ấy hỏi, "Tôi nhặt được ở trên sàn nhà nhà mình, không biết có phải của tôi không." Nhân lúc Hồ Lan trừng mắt nhìn cây kim thêu, tôi liền thấy được cái món canh lòng trứng và bùn nhão kia rốt cuộc được dùng vào việc gì. Sàn nhà của nhà cô ấy láng bóng như đồ sứ, bụi bẩn không tài nào bay lên được nữa. Tường nhà cô ấy vốn dĩ cũng lở lả tơi tả giống như chúng tôi, nhưng sau khi được trét một lớp thứ này lên thì trở nên vừa nhẵn nhụi vừa sạch sẽ, đến cả sâu bọ cũng chẳng bò lên nổi.
Trong lúc mắt tôi đang dán chặt vào những thay đổi này, Hồ Lan ở bên cạnh lên tiếng: "Được đấy. Cây kim này là của tôi, tôi tìm mấy ngày nay rồi."
Chiều hôm đó, Hồ Lan sang giúp tôi chỉnh trang lại sàn nhà và vách tường. Tôi dùng cách này để khiến cô ấy khâu lại vết rách giữa chúng tôi: vá lại bên này, thì cũng đồng thời vá lại bên kia. Cô ấy hiểu rằng tôi cố ý bắt cô ấy làm thế, bởi vì cô ấy đã cầm lấy cây kim đó, cả hai chúng tôi trong lòng đều rõ mồn một, cây kim đó chính là của tôi.
Tôi không biết tại sao mình lại kể cho bạn nghe nhiều chuyện về Helen đến thế. Đây vốn không phải câu chuyện của cô ấy, nhưng vì cô ấy nên tôi đành phải kể trải nghiệm của mình cho bạn nghe. Trải nghiệm của tôi mà để cô ấy kể lại, thì cô ấy sẽ nói rằng vốn dĩ tôi có một cuộc hôn nhân tốt đẹp, chỉ là bản thân không chịu nỗ lực duy trì mà thôi. Tôi nói cho bạn hay, tôi đã nỗ lực rồi.
Lấy thời gian ở Dương Châu ra mà nói đi. Chúng tôi đến Dương Châu được chừng hai, ba tuần thì các ông chồng của chúng tôi về nhà. Tôi tự tay chuẩn bị một bữa tiệc mừng rất lớn cho Văn Phúc. Không chỉ vì một mình anh ấy, mà còn vì những người bạn phi công của anh ấy nữa, đều đến từ đội hai và đội ba, tổng cộng có chừng năm sáu người.
Những người này đều rất thích Văn Phúc, bởi vì anh ấy rất hào phóng, anh ấy nói: "Đến nhà tôi đi! Ăn cho đã đời vào!" Anh ấy đã mời họ, và cũng mời cả Gia Quốc. Dĩ nhiên là tôi đã mời Hồ Lan, cả Lý Tuấn và Mệ Lệ, cùng với chồng của họ nữa. Bọn họ đều đến. Thế là tôi chuẩn bị một bàn tiệc rượu cho mười bốn người ăn. Hồ Lan chủ động đề nghị giúp tôi đi chợ nấu nướng, vì có quá nhiều việc phải làm nên tôi khách sáo từ chối một chút rồi cũng nhận sự giúp đỡ của cô ấy.
Toàn bộ chi phí khoản đãi đều dùng tiền riêng của tôi, đó là số tiền mà bố tôi đã cho tôi vào ngày tôi kết hôn. Lúc đó nhà Văn Phúc không hề lấy đi số tiền này từ tay tôi. Bố tôi rất tinh ranh, ông đứng tên tôi gửi số tiền này vào một ngân hàng ở Thượng Hải, tổng cộng có bốn nghìn đồng. Sau khi kết hôn tôi từng rút ra hai trăm đồng, lúc đến Dương Châu trong người tôi đại khái vẫn còn khoảng một trăm đồng.
Văn Phúc mỗi tháng kiếm được bảy mươi đồng, đây là một khoản thu nhập không hề nhỏ, xấp xỉ gấp đôi thu nhập của một giáo viên trung học. Nhưng Văn Phúc thường vung tiền vào những thứ nhảm nhí nào là mua whisky, đánh mạt chược, cá cược xem thời tiết có đúng như anh ấy đoán hay không.
Cho nên đồ đạc cần thiết khi chúng tôi chuyển từ nơi này sang nơi khác, toàn bộ đều được mua bằng tiền riêng của tôi, kỳ thực tôi vốn không bắt buộc phải làm thế. Tôi dùng tiền riêng mua chút thức ăn ngon hơn so với tiêu chuẩn cung cấp của quân đội, thực ra cũng hoàn toàn có thể không cần thiết. Vào tối hôm diễn ra bữa tiệc, tôi đã mua thịt heo loại ngon, rau mùi tươi dùng để gói sủi cảo, lại còn có rất nhiều rượu ngọt, tất cả những thứ này trong thời gian chiến tranh đều vô cùng đắt đỏ, tổng cộng tiêu tốn hết hơn năm mươi đồng.
Tôi không thèm chấp việc tiêu số tiền này. Lúc mua những thứ này, tôi chỉ nghĩ đến những người đàn ông ấy, những phi công đó, và cả Văn Phúc nữa, nhỡ đâu vận may của họ không tốt, có lẽ sẽ không thể quay về để ăn bữa tiếp theo được nữa. Hễ nghĩ đến điều này, trong lòng lại có chút khó chịu, tay chân tôi cũng lanh lẹ hẳn lên, không kìm được mà vươn tay chạm vào một tảng thịt heo mỡ màng.
Sau đó tôi lại quyết định làm một vài món ăn có tên gọi cát tường. Tôi nhớ thím cả từng làm vào dịp năm mới — thịt hàu phơi khô gọi là đạm thái, đại diện cho có tài; tôm chiên vừa đỏ vừa cong biểu trưng cho vui vẻ và hoan hỉ; lại có một loại rau mảnh như sợi tóc màu đen gọi là phát cao, đồng âm với phát tài; còn có cả sứa biển, tôi cảm thấy tiếng nhai trong miệng đặc biệt vui tai.
Hồ Lan nhìn tôi lựa chọn những thứ này. Lúc tôi gom chúng thành một đĩa thập cẩm, nước miếng của cô ấy sắp chảy ra luôn rồi, tôi đoán chắc là cô ấy chưa từng được ăn món nào ngon thế này bao giờ.
Về đến nhà, tôi dặn cô gái nấu ăn đun thật nhiều ấm nước sôi, băm thật nhiều thịt và rau, chuẩn bị gói một nghìn cái sủi cảo, có loại hấp, có loại luộc, lại chuẩn bị rất nhiều gừng non, nước tương và giấm dùng để chấm sủi cảo. Hồ Lan giúp tôi nhào bột, cán thành từng vỏ sủi cảo một.
Tôi phải thừa nhận rằng, lần đầu tiên tôi bị ấn tượng sâu sắc bởi công phu ra tay của cô ấy. Cô ấy cán rất nhanh, cây cán bột trong tay ấn xuống rất có lực. Thời gian tôi cán được hai cái thì cô ấy cán được ba cái. Cô ấy có thể đặt nhân thịt vào chính giữa miếng vỏ, không nhiều không ít, vừa khéo chuẩn xác. Cô ấy chỉ cần bấm một cái là có thể phong kín mép sủi cảo lại.
Tôi còn phải thừa nhận rằng, tôi đánh giá cao tinh thần hợp tác của Hồ Lan vào buổi chiều hôm đó. Cả hai chúng tôi đều rất vui vẻ. Các phi công đã trở về, ai nấy đều vô cùng phấn khích, tất cả chúng tôi đều nở nụ cười đón chào. Cho nên ngày hôm đó, tôi và Hồ Lan không hề hát đối ngược lại với nhau, chúng tôi không phàn nàn người khác, cũng không khách sáo nói những lời xã giao, những lời chúng tôi nói ra đều rất tự nhiên bộc lộ từ tâm trạng vui vẻ của mình.
Tôi nói với Hồ Lan: "Tay chân cậu lanh lẹ thật đấy, với công phu này của cậu, chúng ta gói một vạn cái sủi cảo cũng không thành vấn đề." Dĩ nhiên, sau đó tôi nhận ra, sở trường của cô ấy chỉ là những việc thô kệch này thôi: nào là nhào bột, cán bột, làm nhân, gói sủi cảo; còn về khẩu vị của cô ấy ư, tôi chỉ có thể nói là cách nhìn của tôi có lẽ sẽ khác với người khác.
Mặc dù cậu sẽ nói với tôi rằng, nói thật đi, ai nấu ăn ngon hơn chứ? Cậu xem đi! Không phải tôi khoác lác đâu nhé. Thật đấy, tôi biết trong nhân thịt phải cho bao nhiêu nước tương thì độ mặn mới vừa vặn; tôi biết tuyệt đối không được cho thêm một thìa đường nào, không được cho thêm bất cứ thứ gì, nếu không ăn vào vị sẽ giống như món Quảng Đông vậy; tôi biết làm thế nào để mỗi món ăn đều có hương vị thơm ngon, mà lại còn có phong vị riêng biệt; cùng một mức lửa mà có thể đạt được độ vừa không quá cay, cũng không quá nhạt.
Nếu như những người ăn cơm ngày hôm đó mà có mặt ở đây hôm nay, họ cũng sẽ nói với bạn như vậy thôi. Ví dụ như, vào tối hôm đó tất cả các phi công, thậm chí cả chồng của Hồ Lan cũng khen ngợi tay nghề nấu nướng của tôi, họ còn nói với Văn Phúc rằng anh ấy thật tốt phúc. Họ nói, một người đàn ông muốn tìm được một người vợ vừa xinh đẹp vừa biết nấu ăn là chuyện bất khả thi, nhưng đôi mắt và cái lưỡi của họ lại nói lên ý nghĩa hoàn toàn ngược lại. Tôi nhìn họ ăn, liên tục cổ vũ họ ăn nhiều một chút, tôi nói đùa rằng, nếu số sủi cảo thừa ra vượt quá mười cái, chồng tôi thế nào cũng sẽ gây rắc rối cho tôi cho mà xem. Kết quả là, đến cuối cùng, chỉ còn thừa lại vỏn vẹn bốn cái sủi cảo! Bữa cơm này ăn đúng là ngon miệng vô cùng.
Những bữa tối thế này sau đó tôi còn mời thêm vài lần nữa. Hễ cứ mỗi lần Văn Phúc và mấy anh chàng phi công rời đi một thời gian rồi trở về nhà, việc đầu tiên mà họ nghĩ đến chính là đến nhà tôi ăn sủi cảo — hoặc hấp, hoặc luộc, hoặc chiên — họ cảm thấy thực sự quá ngon.
Trung Quốc vào thời điểm đó, người ta không mấy quan tâm bạn là người ở đâu. Ai nấy đều biết cách ăn chơi trác táng. Miễn là dạ dày của bạn chịu đựng được, thì lúc nào cũng có thể tìm được cái cớ để vui chơi hưởng lạc. Những ngày tháng đó, tôi vẫn cố gắng hết sức làm hài lòng Văn Phúc, làm một người vợ tốt, đồng thời cũng tìm kiếm niềm vui cho chính mình bằng mọi cách có thể. Tôi luôn bận rộn chuẩn bị một bữa cơm ngon miệng, những người đàn ông đó thường không báo trước mà đến, nhưng số lượng phi công thì ngày càng ít đi.
À, nhắc đến lại thấy đau thương. Gia Quốc buộc phải thu gom những di vật của các phi công đã hy sinh, cẩn thận bọc chúng lại trong một mảnh vải mềm, rồi viết một tờ giấy dài, giải thích rằng người con trai hoặc người chồng này đã tử trận giống như một người anh hùng thực thụ. Tôi nhìn thấy những gói đồ đó được đặt trên bàn may vá của Hồ Lan, đang đợi để được gửi đi. Tôi cứ mãi nghĩ ngợi, rốt cuộc thì ai sẽ là người vui mừng mở gói đồ này ra, tưởng rằng đây là một món quà, để rồi đến khi nhìn thấy những thứ bên trong, đôi mắt đẫm lệ đó không biết sẽ phải khóc lóc thảm thiết nhường nào đây?
Cho nên quy mô những bữa tiệc mời khách của chúng tôi cứ nhỏ dần qua từng lần. Điểm này tôi đã sớm tưởng tượng ra rồi, nhưng tôi lại có cảm giác rằng, một phi công chết đi, thì người khác lại tiếp nhận cái dạ dày của anh ta, bộ dạng ngấu nghiến của những đám phi công này, cứ như thể từ nay về sau sẽ không bao giờ được ăn những món ngon thế này nữa vậy.
Tôi nhớ có một buổi tối, ai nấy đều ăn hết ba mươi cái sủi cảo, nới lỏng thắt lưng, thở phào một hơi, rồi tiếp tục ăn thêm ba mươi cái nữa. Tôi chạy ngược chạy xuôi, bưng lên cho họ hết đĩa này đến đĩa khác. Khẩu vị của Hồ Lan cũng rất tốt, cô ấy biết làm thế nào để ăn được nhiều. Sau một hồi trò chuyện cười đùa, đàn ông lại nới thắt lưng thêm một lần nữa, rồi tiếp tục buông lỏng dạ dày mà ăn. Cuối cùng, một người đàn ông nói đùa rằng: "Nếu còn muốn bày tỏ sự kính trọng với đầu bếp nữa, thì chiếc quần của tôi chắc rớt xuống đất mất."
Người đàn ông nói đùa này là một người gầy cao mang họ Cam, anh ta cứ cười mãi, nhưng cười rất khẽ. Những lời anh ta nói có chút thô tục, nhưng tôi không tức giận, cũng không thấy ngượng ngùng. Anh ta rất biết cách đùa giỡn, chưa từng dựa vào việc khiến người khác mất mặt để làm trò cười cho thiên hạ. Lúc đùa cợt, anh ta tự biến mình ra vẻ ngốc nghếch, tất cả chúng tôi đều cười cợt anh ta.
Trên thực tế, anh ta khiến tôi liên tưởng đến một ngôi sao điện ảnh Mỹ. Không phải là kiểu đại anh hùng lừng lẫy như John Wayne đâu nhé, mà giống Danny Kaye hơn, một người đàn ông trầm tính được mọi người yêu mến, có thể khiến người khác bật cười mà không cần biểu cảm khoa trương.
Cam chính là người như vậy, lúc cười miệng anh ta ngoác ra rất rộng, lộ ra một hàng răng nanh. Dáng đi của anh ta lêu khêu xiêu vẹo, giống như một đứa trẻ lớn nhanh quá khổ, cho nên mỗi khi anh ta bước lên giúp tôi dọn ghế hay bưng ấm trà, đi chưa đầy ba bước là thế nào cũng vấp ngã. Anh ta chính là cái loại người như thế đấy, một cách âm thầm khiến người khác cảm thấy bản thân mình giỏi giang hơn anh ta.
Lúc không cười, hoặc lúc nói chuyện với người khác, anh ta trông có vẻ rất sợ ngượng ngùng. Tôi cứ luôn có cảm giác anh ta đang trừng mắt nhìn tôi, hình như muốn nói điều gì đó. Có một lần, anh ta suy nghĩ rất lâu, cuối cùng dùng một giọng điệu bình tĩnh, chân thành nói với tôi: "Món ăn này, đến mẹ tôi cũng không nấu ra nổi đâu."
Tôi cười nhạo anh ta: "Cậu tuyệt đối không được nói về mẹ mình như thế nhé!" Mặt anh ta lập tức đỏ bừng. "Đại muội tử," anh ta nói, "Xin hãy tha thứ cho sự lỗ mãng của tôi," rồi anh ta lại ăn thêm hai cái sủi cảo, dùng cái giọng bình tĩnh tương tự mà nói tiếp, "Quả thực là ngon hơn mẹ tôi làm."
Tôi nhớ Văn Phúc nghe thấy thế liền cười lớn nói: "Hèn chi cậu gầy như cây sào." Tôi không biết anh ta đang nói mẹ của anh ta, hay đang nói tôi nữa. Tôi thầm nghĩ, tại sao chồng tôi không thể được như anh ta chứ? Rồi trong đầu lại nảy sinh một ý nghĩ: Đáng lẽ tôi đã có thể lấy được một người đàn ông tốt hơn. Đàn ông đâu phải ai cũng giống như Văn Phúc, sao tôi lại không biết tự mình chọn lấy một người cơ chứ?
Tôi nhận ra những phi công khác đều là những anh chàng rất tuyệt, phẩm chất rất tốt, đối xử với tôi cũng rất tốt. Bọn họ chưa từng nhắc đến chuyện tôi đang mang thai, nhưng ai nấy đều biết cả. Hễ nhìn thấy tôi mang vác vật gì trên tay, họ đều chạy xông lên giúp đỡ. Có một người phi công được quyền sử dụng xe tải của không quân đã nói với tôi rằng, bất kể tôi muốn đi đâu, anh ta cũng sẽ điều xe đưa tôi đi. Người đàn ông họ Cam thích ăn sủi cảo tôi làm đó, thường hay cùng tôi chơi cầu lông sau bữa tối, trong khi Văn Phúc thì chơi bài hoặc đánh mạt chược với những người đàn ông khác ở một bên.
Cho đến tận bây giờ tôi vẫn còn nhớ những buổi tối đó. Chúng tôi nương nhờ ánh trăng, hoặc ánh sáng hắt ra từ ô cửa sổ, đánh cầu lông qua lại, cười ha hả vì đánh trúng đối phương, nếu như tôi đánh không trúng, Cam sẽ nhặt quả cầu rơi xuống đất lên, để tránh cho cái bụng vừa ăn no của tôi bị "khó tiêu". Có lẽ, Văn Phúc đã lên phố mất tiêu rồi, Cam sẽ mời tôi cùng anh ta ăn một bát mì, hoặc đến một nơi rẻ tiền nào đó ăn bát hoành thánh, rất tự nhiên thoải mái. Sau đó anh ta sẽ tiễn tôi về nhà, đối xử với tôi như một người bạn hoặc người anh trai, nếu không cẩn thận chạm vào cánh tay tôi, anh ta sẽ liên tục nói xin lỗi.
Có một lần, Hồ Lan nhìn thấy chúng tôi ngồi nói chuyện trong nhà bếp. Đợi người ta đi rồi, cô ấy liền trêu chọc tôi: "Ái chà! Phải cẩn thận đấy nhé."
"Ý cậu là gì chứ?" Tôi nói.
"Chẳng có ý gì cả," Hồ Lan nói, "Tớ chỉ bảo cậu cẩn thận thôi, chẳng có ý gì khác đâu."
"Thần kinh!" Tôi nói. Cô ấy cườim tủm tỉm.
Bây giờ nghĩ lại thấy thật kỳ lạ. Tôi đã hơn năm mươi năm không nghĩ tới Cam rồi, cho nên một khi nhớ lại, giống như đột nhiên phát hiện ra một góc khuất bí mật trong tim, niềm vui chưa từng kể với ai, sự hối hận chưa từng kể với ai, tất cả đều ùa về trong lồng ngực. Sao tôi có thể kể cho Hồ Lan nghe chứ? Tôi đã nói rồi, trong thời kỳ chiến tranh loạn lạc, chúng ta không được để sự hạnh phúc làm cho mờ mắt quên lối về. Tôi là sau khi nói câu nói đó mới biết thế nào là hạnh phúc.
Cho nên có lẽ bây giờ tôi có thể thành thật thừa nhận điều này với bạn, Cam có ý nghĩa đặc biệt đối với tôi. Thời gian chúng tôi tìm hiểu lẫn nhau không lâu, nhưng tôi biết tâm can của anh ta lương thiện hơn chồng tôi. Điều này đã làm giảm bớt cảm giác cô độc trong tôi.
Có một lần anh ta nói với tôi rằng, anh ta rất thích buổi tối cùng tôi đi dạo. Tôi còn chưa hỏi lý do, anh ta đã tự mình nói trước. Anh ta nói buổi tối anh ta rất sợ sự cô độc. Không đợi tôi đòi giải thích, anh ta lại tự mình giải thích tiếp: "Cậu biết chuyện gì xảy ra không, buổi tối cậu có thể nhìn thấy những thứ mà ban ngày không thấy được." Tôi gật đầu, nói với anh ta rằng tôi cũng có đồng cảm y như vậy.
Rồi anh ta lại kể cho tôi nghe về nỗi sợ hãi của anh ta đối với bóng đêm: "Tôi chưa từng kể với ai về chuyện hồi nhỏ của mình, đó là lần cuối cùng của năm Dần, tôi nhìn thấy một con quỷ chớp lóe sáng trong bóng tối."
Thế là tôi bắt đầu kể cho anh ta nghe, những thứ tương tự như vậy hồi nhỏ tôi cũng đã nhìn thấy rất nhiều lần. Một con quỷ hóa ra lại là ánh trăng chiếu rọi trên cửa sổ. Hoặc là nhìn thấy một con quỷ, hóa ra là thím cả nửa đêm dậy uống thuốc đau dạ dày. Hoặc là tưởng là con quỷ, hóa ra lại là cái bóng của một cái cây khô hắt lên cửa sổ nhà kính.
Cam nói: "Cái loại quỷ mà cậu nói tôi cũng từng nhìn thấy rồi, đó là do tự mình tưởng tượng ra thôi. Nhưng con quỷ này không giống, con quỷ này nói trước khi năm Dần tiếp theo đến — chính là năm tôi tròn hai tuổi — nó sẽ quay lại bắt tôi đi."
“Trong mơ lắm thứ lăng nhăng thật đấy,” tôi nói. Nhưng Cam vẫn cứ liên miên nói không ngừng, cứ như thể anh ta vẫn đang trải qua cơn ác mộng đó vậy.
“‘Đừng sợ,’ con quỷ nói với tôi như thế, ‘Lúc mày chết sẽ không có đau đớn, không bị thương tích. Nhưng nếu mày nhìn thấy tao đang gọi mày trong bóng tối, thì phải đi theo tao, không được cãi lời tao, một chữ cũng không được nói.’ Dĩ nhiên là tôi không tin nó rồi. ‘Tôi quát vào mặt nó,’ Mày chẳng qua chỉ là một ác mộng thôi. Cút đi!’”
"Rồi anh tỉnh giấc," tôi nói, muốn trấn an anh ta, nói không chừng cũng là để trấn an chính mình, "anh vẫn còn chút sợ hãi, anh không thể quên được cơn ác mộng này."
"Chuyện tồi tệ hơn vẫn còn ở phía sau cơ," Cam vừa nói, giọng vừa khàn đặc lại, "Đúng vậy, tôi tỉnh dậy rồi. Tôi đứng dậy muốn chứng minh rằng tôi đã không còn ngủ nữa. Tôi đứng ở ngưỡng cửa, nhìn thấy con quỷ đó vẫn ở đó. Nó nói, 'Mày không tin đây là số mệnh của mày ư? Tao đã chứng minh cho mày thấy đây chính là số mệnh của mày rồi.' Con quỷ đã nói ra chín tai họa sẽ xảy ra trên người tôi trước khi cuộc đời tôi kết thúc. Chín là con số viên mãn. Lúc con quỷ bỏ đi, tôi vẫn ngây người đứng ngây ngốc ở cửa."
"Này, Cam, câu chuyện này đáng sợ thật đấy!" tôi nói.
“Mười một năm qua, tôi đã dốc sức muốn quên đi cơn ác mộng này. Nhưng bây giờ tám tai họa đã xảy ra rồi, y hệt như những gì con quỷ nói. Giờ thì tôi cảm thấy tai họa thứ chín sắp đến rồi. Còn bốn tháng nữa thôi, năm Dần sắp đến rồi.” Anh ta cười một cách đầy thần kinh, “Chờ đợi một cái chết không đau đớn mới đau đớn làm sao.”
Cam kể xong câu chuyện này với tôi, toàn thân run lập cập dữ dội, cứ như bây giờ là mùa đông lạnh buốt chứ không phải mùa thu ấm áp ẩm ướt. Có thể nhìn ra được, anh ta đã tin câu chuyện đó rồi. Ngay cả tôi cũng thấy hơi sợ. Tôi sợ đến mức không dám hỏi anh ta rằng, tám tai họa đã xảy ra đó là những chuyện gì, tôi chỉ có thể cười trừ nói: "Giấc mơ hồi nhỏ của anh đúng là dọa người ta chết khiếp!"
Tôi không biết tại sao lúc đó mình lại nói thế, thứ mà tôi nghĩ trong lòng kỳ thực không phải thế này, mà hoàn toàn ngược lại. Lúc đó tôi thực sự muốn ôm chầm lấy tội nghiệp Cam vào lòng, vừa khóc vừa nói với anh ta rằng, đứa con của tôi ơi, cậu bé xinh đẹp của tôi ơi! Cậu thực sự chắc chắn về tám tai họa đó sao? Chúng trông như thế nào? Tai họa thứ chín là gì? Mau nói cho tôi biết đi!
Nhưng bây giờ khi hồi tưởng lại tình cảm của mình, tôi biết tại sao lúc đó mình lại không nói với Cam như vậy. Tôi sợ, không phải sợ con quỷ kia, mà là xuất phát từ nguyên nhân khác. Tôi là một người phụ nữ đã có chồng, thế nhưng tôi chưa từng cảm nhận được tình yêu của một người đàn ông, cũng chẳng cảm thấy mình từng yêu một người đàn ông nào cả. Đêm hôm đó, suýt chút nữa tôi đã cảm nhận được rồi. Tôi nhận thức được sự nguy hiểm đó, thể hiện rõ việc cậu yêu một người như thế nào. Một người bộc lộ sự sợ hãi, người kia từ từ bước lên an ninh an ủi anh ta, xoa dịu nỗi đau đớn đó. Rồi những thứ bộc lộ ra ngày càng nhiều, mọi tình cảm ẩn giấu — đau lòng, hổ thẹn, cô độc, tất cả những nỗi đau đớn trong quá khứ, đều trào tuôn ra hết thảy, cho đến khi trong lòng cậu bị ngập tràn bởi niềm vui được giải thoát khỏi tất cả mọi thứ, cho đến khi cậu không kịp ngăn cản niềm vui có được nhờ việc mở rộng cõi lòng mình.
Nhưng tôi đã kìm chế bản thân lại, tôi không mở rộng cõi lòng mình. Tôi chỉ cười nhạo Cam, coi giấc mơ quỷ quái của anh ta là trò vui để an ủi chính mình mà thôi. Có lẽ nguyên nhân khiến tôi không để tâm nhiều hơn đến giấc mơ của anh ta, là vì cả hai chúng tôi đều nhận ra một điều gì đó điềm gở đang đến gần, chỉ là chúng tôi không đường hoàng công khai bàn về nó giống như Cam mà thôi.
Hễ có phi công nào đó nói đùa rằng: "Đây là lần cuối cùng tôi đánh bài thua sạch tiền lương với cậu rồi đấy," thì những người khác sẽ hét lên: "Oa, đừng nói chữ 'cuối cùng', kém may mắn lắm! Bây giờ cậu phải chơi tiếp để hóa giải cái sự kém may mắn này đi."
Những người phi công này đều biết rõ, máy bay của họ cất cánh từ mặt đất với tốc độ chưa đủ nhanh. Họ cũng biết thời gian họ được huấn luyện là không đủ, không thể chơi được các chiêu trò xảo quyệt nào để né tránh các máy bay chiến đấu của Nhật Bản với tốc độ cập nhật trang bị nhanh hơn. Họ thường vây thành một vòng tròn lớn đứng trước khi xuất phát, hô to khẩu hiệu, nhổ nước bọt vào một tấm bia làm bằng hòn đá nhỏ. Đây là cách họ mỉm cười để trở thành anh hùng, đây là cách họ dũng cảm, đây là cách họ sợ hãi. Làm sao họ có thể trở thành anh hùng thực thụ trong hoàn cảnh chẳng có sự lựa chọn nào khác chứ? Làm sao họ có thể không trở thành anh hùng thực thụ trong hoàn cảnh thừa biết là không có đường lui chứ?
Hai tháng sau, một nửa số phi công từng ăn cơm nhà tôi ngày hôm đó đã tử trận. Chúng tôi nghe nói, bọn họ đều chết một cách anh dũng, tất cả mọi người đều tử trận sau khi máy bay chiến đấu bị trúng đạn. Thế nhưng những chiếc máy bay đó đều từ trên trời rơi xuống — thảm thương làm sao! Thậm chí đến thi thể cũng chẳng tìm thấy. Bạn không cần phải tin vào tôn giáo mới cảm thấy đau buồn.
Tôi biết có một phi công điều khiển máy bay đâm sầm vào cổng thành Hà Nam, vừa vặn lúc cổng thành mở toang, máy bay liền xuyên qua cổng thành, đâm vào bên trong rồi phát nổ. Máy bay của chồng Mệ Lệ thì đâm vào đỉnh núi. Còn viên phi công hay lái xe đưa đón tôi thì sao? Máy bay của anh ta bốc cháy trước khi kịp hạ cánh.
Chỉ có Văn Phúc là bình an vô sự, đến một chút da cũng không bị xước. Các bạn có biết nguyên nhân là gì không? Anh ta là một kẻ nhát gan! Cứ mỗi lần chiến đấu bắt đầu là Văn Phúc lại lái máy bay lượn vòng tròn, bay tạt ra một bên. "Ồ," anh ta giải thích với Gia Quốc, "Tôi đang truy đuổi một chiếc máy bay Nhật, nên bay sang đầu bên kia mất rồi. Cậu không nhìn thấy đấy chứ. Tiếc quá, kết quả là vẫn không đuổi kịp nó." Hồ Lan kể cho tôi nghe rằng, Gia Quốc đang cân nhắc xem có nên đưa chồng tôi ra tòa án quân sự hay không. Các bạn nghĩ cô ta có bỏ lỡ cơ hội để kể cho tôi nghe chuyện này không?
Trong khi đó, tôi nhận được tin máy bay của Cam đã bị bắn hạ ở ngoài thành Nam Kinh. Lúc người ta khiêng anh ta vào bệnh viện, anh ta vẫn chưa chết. Chúng tôi vội vã chạy đi thăm anh ta, Văn Phúc, Gia Quốc, Hồ Lan, cùng với tất cả những phi công vẫn còn sống đều đi cả.
Ồ, tôi nhìn thấy rồi! Hai mắt Cam trừng trừng nhìn trần nhà, vừa khóc vừa cười: "Thế nào, con quỷ kia, mày đang ở đâu?" anh ta hét lên, "Tôi không phải không muốn chết!"
"Anh ta phát điên rồi," Văn Phúc nói, "Thần trí của anh ta đã không còn thanh tỉnh nữa rồi. Đối với anh ta mà nói như thế này lại hay hơn, sẽ không cảm thấy đau đớn nữa."
Tôi vẫn nhớ sự đau đớn của mình lúc đó. Tôi không nói nên lời, cũng chẳng thể đặt tay lên trán Cam được. Nhưng tôi thật sự muốn khóc lớn một trận, hét lớn một tiếng, anh ta không hề phát điên! Con quỷ đó đã hứa với anh ta rồi: "Lúc mày chết sẽ không có đau đớn, buổi tối tao gọi mày thì mày cứ đến."
Nhưng con quỷ đó đang nói dối, bởi vì trước khi chết Cam rất đau đớn, đau đến mức đại tiểu tràng cũng lòi cả ra ngoài. Cứ thế anh ta giãy giụa trong đau đớn suốt hai ngày hai đêm, cuối cùng cũng rời khỏi nhân thế, đi tìm con quỷ kia rồi.
Tôi đau buồn đến cực điểm, nhưng lại chẳng thể bộc lộ ra chút nào. Trái tim tôi đã bị tổn thương, giống như hồi mất mẹ năm nào. Chỉ là tôi không phải đau khổ vì tình yêu mà mình từng có, tôi hối hận vì mình chưa từng chớp lấy nó.
Cho nên, chính là sau khi Cam chết, tôi mới xác nhận tình yêu của anh ta, hồn ma của anh ta đã trở thành tình nhân của tôi. Hễ mỗi khi Văn Phúc quát mạt tôi, tôi lại nhớ đến khung cảnh Cam đến nhà tôi ăn cơm lần cuối cùng. Toàn bộ buổi tối anh ta đều quan sát tôi, quan sát thái độ của Văn Phúc đối với tôi. Hễ chồng tôi vừa bước ra khỏi phòng là Cam lại nhìn tôi, rồi điềm tĩnh nói: "Cậu chỉ có thể nhìn thấy bản thân mình trong gương, còn tôi lại có thể nhìn cậu bằng cách mà cậu không thể nhìn thấy chính mình, tất cả những khía cạnh thuần khiết nhất, vừa không tốt cũng chẳng xấu."
Tôi đã hồi tưởng lại khung cảnh này không biết bao nhiêu lần. Hễ mỗi khi chồng tôi trút giận xong xuôi trên người tôi, lúc anh ta chìm vào giấc ngủ, tôi lại lén lút đứng dậy, bước đến trước gương. Tôi xoay gương mặt mình từ trước ra sau, dốc sức tưởng tượng ánh mắt của Cam đang nhìn tôi. Tôi sẽ vừa khóc vừa tự hỏi bản thân: "Anh ấy nhìn thấy gì rồi? Anh ấy nhìn thấy gì rồi?"
Có những lúc như thế, khi mọi thứ trở nên tồi tệ hơn, khi tôi không biết rốt cuộc mình đã làm những gì, tại sao lại phải chịu đựng một cuộc sống thảm hại thế này, lúc đó tôi sẽ nhớ lại những buổi đi dạo vào ban đêm của chúng tôi, nhớ lại câu chuyện mà Cam đã kể cho tôi nghe. Mặc dù tôi chưa từng biết tám tai họa kia là gì, nhưng tôi đã biết tai họa thứ chín. Tôi chính là tai họa thứ chín này đây.