Sau khi kết hôn với Văn Phúc, tôi không còn giữ bức ảnh nào thời trẻ nữa, tôi đã vứt hết những tấm ảnh đó đi. Nhưng cha cậu lại giữ cuốn album này. Ông đã chụp cho tôi rất nhiều, rất nhiều ảnh. Cậu xem nó nặng biết nhường nào này!
Mở đầu album là ảnh của một số phi công người Mỹ mà ông quen. Tiếp theo là vài người phụ nữ, không phải bạn gái. Tôi nghĩ đó chẳng qua chỉ là những cô gái mà cha cậu quen trước khi gặp tôi. Tôi không biết tại sao ông vẫn nhét những bức ảnh này vào album, nhưng tôi chưa bao giờ hỏi. Có lẽ ông đã đặt cho những cô gái ấy cái tên kiểu Mỹ, và thế là họ tặng ảnh lại cho ông để đáp lễ. Giống như tấm này: "Sự chân thành chân thiết của em, Pansy." Pansy là cái tên gì cơ chứ? Cô ta thậm chí còn chẳng biết đánh vần tên của mình. Tiếng Anh của tôi cũng chẳng giỏi giang gì, nhưng tôi biết trong một câu, hoặc là dùng từ "chân thành", hoặc là "chân thiết", không thể dùng đồng thời cả hai từ. Dù thế nào đi nữa, cậu cũng có thể thấy đấy, cô ta chẳng đẹp đẽ gì cho cam.
Lật sang trang này, ảnh của tôi bắt đầu từ đây. Có đôi khi tôi nghĩ, toàn bộ cuộc đời tôi chính là bắt đầu từ đây.
Nhìn bức ảnh này, tấm này, và cả tấm này nữa xem. Cậu thấy đấy, tôi đã từng trẻ trung biết bao. Cậu không biết rằng mẹ mình cũng có lúc trẻ trung ư? Đây là tấm mà cha cậu hay ngắm nhìn nhất, ông nói trông tôi vừa trẻ lại vừa xinh đẹp. Thậm chí ngay cả khi tôi bắt đầu xuất hiện tóc bạc, cha cậu vẫn bảo trông tôi vẫn y hệt như ngày trước. Trong những giấc mơ, trông tôi lúc nào cũng giống hệt trong những bức ảnh này, vừa trẻ trung lại vừa xinh đẹp. Mọi chuyện cứ thế cho đến tận cách đây không lâu.
Nhưng vào ngày sinh nhật năm ngoái, tôi mơ thấy cha cậu chưa thực sự qua đời. Ông chỉ sống ở một góc khuất nào đó, chẳng qua là quên mất không báo cho tôi biết mà thôi. Ban đầu tôi rất giận, sao ông có thể để tôi phải lo lắng vô ích chứ? Nhưng rồi tôi quên mất cả giận hờn, tôi mừng đến phát cuồng. Tôi chuẩn bị đi thăm ông. Sau đó tôi nhìn vào gương, ái chà, chuyện gì thế này? Sao cậu lại già đi thế này hả? Nửa kia của tôi quay đầu lại nhìn tôi và nói, "Đây là lỗi của tại em, là em đã quên mất." Thế là bỗng chốc tôi cảm thấy mình thật già nua. Bỗng chốc tôi nhận ra hóa ra mọi người đều nhìn tôi như thế này, tôi đã già hơn tôi tưởng, đã bảy mươi lăm tuổi rồi.
Dù thế nào đi chăng nữa, vào năm 1946, tôi vẫn còn trẻ, và cũng rất xinh đẹp.
Cậu nhìn tấm này xem, tôi đang mỉm cười, tôi đang chớp mắt. Bức ảnh này chụp không được đẹp cho lắm, nhưng nó mang ý nghĩa đặc biệt. Khoảng một tháng sau khi tôi trốn khỏi nhà Văn Phúc, cha cậu đã chụp bức ảnh này. Hôm đó, chúng tôi vừa đi dạo trong công viên vừa tranh cãi. Đó là bởi vì mẹ của Tiểu Du muốn đưa tôi và Đạm Nhược rời khỏi Thượng Hải. Bà có người quen ở Thiên Tân, những người tốt bụng ấy sẽ giấu tôi đi, cho đến khi tôi làm xong thủ tục ly hôn.
Cha cậu nói, "Đừng đi, đừng đi."
Còn tôi lại bảo, "Sao lại không đi chứ? Bọn mình biết đi đâu đây?"
"Hai mẹ con em đến ở cùng anh." Ông nói.
Câu nói này chính là điều tôi hằng mong ước. Sống chung căn nhà với Hoa Sinh cùng những người phụ nữ khác chẳng lấy gì làm vui vẻ cho cam. Cậu tưởng họ là người Cộng sản thì sẽ không cãi nhau chắc? Không có chuyện đó đâu. Nhưng tôi chẳng nói với Jimmy.
Ông muốn tôi đến ở cùng, tôi bảo, "Chúng ta làm sao có thể làm cái chuyện đó cơ chứ?" Tôi để mặc ông đôi co với mình suốt hai tiếng đồng hồ. Nếu có ai đó đề nghị gánh lấy gánh nặng trên vai cậu, cậu bắt buộc phải làm cho rõ ràng rằng anh ta là thật lòng, chứ không phải vì khách sáo hay thương hại. Khách sáo và thương hại vốn dĩ chẳng thể kéo dài lâu.
Sau khi tôi hiểu ra rằng cha cậu thực sự nghiêm túc, ông đã chụp bức ảnh này.
Chà, tôi chẳng biết tại sao cha cậu lại nhét bức ảnh này vào album nữa. Tôi đã bảo ông bao nhiêu lần rồi, kêu ông cất đi, bức ảnh này chụp có ra sao đâu. Sao lại chụp lúc tôi mặc đồ ngủ, tóc tai bù xù thế này cơ chứ? Thế mà cha cậu lại bảo đây là tác phẩm đắc ý nhất của ông. "Winnie thức dậy cùng ánh mặt trời." Ông cứ hay nói câu đó mãi. Mỗi buổi sáng hễ tôi tỉnh giấc là ông đã dậy rồi, cứ nhìn tôi và nói câu ấy. Ông còn hát một bài cho tôi nghe nữa. "Em chính là ánh dương của đời anh." Sáng nào cũng vậy, phải hát đến mấy bận.
Có lẽ tôi đem những chuyện này kể cho cậu nghe thì không hợp cho lắm. Nhưng bây giờ tôi muốn kể cho cậu nghe một chút chuyện về cha cậu. Nói thế nào nhỉ? Ông ấy thực sự yêu tôi. Cậu có biết tại sao không? Sau khi tôi đến ở cùng ông, từ lúc mới bắt đầu, ông chưa bao giờ ép buộc tôi cả. Ông không đòi hỏi bất cứ điều gì, ông rất dịu dàng. Ông biết tôi có chút sợ hãi chuyện chăn gối.
Thế nên mấy đêm đầu tiên, ông chỉ hôn trán tôi, vuốt ve mái tóc tôi, trò chuyện với tôi, hết lần này đến lần khác nói cho tôi biết ông yêu tôi nhường nào, cho đến khi tôi cảm thấy bản thân như đang bồng bềnh hạnh phúc trong cõi mơ. Một tuần sau, tôi nói với ông rằng tôi đã sẵn sàng, tôi hoàn toàn tự nguyện hiến dâng bản thân cho ông, để ông cũng cảm thấy hạnh phúc. Dĩ nhiên, tôi không nói ra miệng như thế, nhưng trong lòng tôi nghĩ vậy. Tôi nhắm nghiền mắt lại, chờ đợi cảm xúc thẹn thùng trỗi dậy. Nhưng ông không vồ vập lao vào người tôi ngay lập tức. Ngược lại, ông vẫn như mọi khi, hôn lên tay tôi, khuôn mặt tôi, vầng trán tôi. Ông cứ hôn mãi lên trán tôi, vuốt ve mãi tấm lưng tôi, cho đến khi tôi quên sạch mọi sợ hãi, cho đến khi tôi lại một lần nữa bồng bềnh trôi trong giấc mộng. Đột nhiên, tôi nhận ra ông đang làm gì, chỉ là nó không giống trước đây, mà là một cảm giác hoàn toàn khác biệt. Tôi mở bừng mắt. Tôi khóc vì hạnh phúc, ngước nhìn khuôn mặt ông. Ông cũng nhìn khuôn mặt tôi, và ông cũng khóc vì hạnh phúc y như thế. Xong xuôi, ông vẫn ôm chặt lấy tôi vào lòng, sợ rằng tôi sẽ rời đi.
Thế nên đó chính là lý do vì sao cha cậu lại thích bức ảnh này đến vậy. Buổi sáng, tôi vẫn ở đó, tôi chính là ánh mặt trời của ông.
Bức ảnh trên trang này là được chụp sau khi tôi, Đạm Nhược và cha cậu sống chung được ba tháng. Đây là mặt trước của ngôi nhà, còn đây là cái cửa. Người phụ nữ đứng cạnh tôi là bà chủ nhà, bà đã cho chúng tôi thuê hai căn phòng trên lầu. Cha cậu gọi bà là lão thái bà, có nghĩa là "bà cụ" ấy mà. Ở Trung Quốc, nếu cậu gọi ai đó là lão thái bà, thì điều đó cực kỳ khách sáo và tôn trọng. Ở Mỹ, mọi người luôn miệng nói, "Này, bà già! Cậu đi đâu thế kia!" Bọn họ chẳng phải vì tôn trọng đâu, tôi nhìn là biết, nét mặt bọn họ trông vô cùng dữ tợn.
Cậu nhìn bức ảnh này xem, cả đời tôi chưa bao giờ vui vẻ đến thế. Nhìn đôi mắt tôi kìa, trông như cười mãi không thôi. Cha cậu cũng vậy, suốt ngày nét mặt rạng rỡ nụ cười. Ngày nào chúng tôi cũng sống rất đỗi vui tươi. Mỗi ngày ông tan làm về, thế nào cũng nhấc bổng tôi lên thật cao, hệt như trong phim vậy. Đạm Nhược liền chạy ùa tới, bảo rằng, "Con cũng muốn được nhấc lên, con cũng muốn được nhấc." Cha cậu liền bế thằng bé lên, rồi bảo, "Chà! Nặng quá cơ. Sao con lại nặng thế này hả?" Ông bảo Đạm Nhược hít một hơi thật sâu để tự bơm phồng mình lên, hệt như quả bóng bay vậy. Thế rồi cha cậu liền nhấc bổng thằng bé lên, nhấc lên thật cao, thật cao.
Khoảng thời gian ấy, tôi cũng chẳng còn lo lắng về Văn Phúc nữa. Hoa Sinh đã nói với thím Cả và thím Mới rằng tôi đã sống chung với một người đàn ông khác. Chắc chắn họ sẽ kể lại với chú, và chú lại kể cho Văn Phúc nghe. Hồi đó Văn Phúc đã đưa một người phụ nữ khác về nhà sống chung cùng mình, người đàn bà ấy lúc bấy giờ đã sắp sinh con rồi. Thế nên tôi chắc mẩm Văn Phúc sẽ sớm ly hôn với tôi thôi. Ngay cả bố mẹ anh ta cũng ép anh ta phải làm vậy. Còn về phần của cải của cha tôi, số còn lại đã chẳng đủ để tiêu xả phung phí nữa. Văn Phúc hưởng ứng lời hiệu triệu của chính phủ, đem tất cả vàng và chứng khoán trong nhà đổi lấy tiền giấy mới. Tiền giấy mới cứ mỗi tuần lại có vẻ mất giá đi một nửa so với tuần trước đó.
Chúng ta thật may mắn làm sao. Cha cậu dùng đô la Mỹ. Nhưng cho dù không có tiền, chúng tôi vẫn sống rất vui vẻ. Bởi vì chúng tôi vốn dĩ vui vẻ như thế mà.
Bức ảnh này được chụp cùng một ngày. Tôi đã in thêm một tấm, phóng to ra, gửi cho Hồ Lan. Cô ấy và Gia Quốc vẫn đang sống ở Cáp Nhĩ Tân. Tôi viết thư cho cô ấy: "Đoán xem chúng ta gặp ai nào? Đoán xem chúng ta đang ở chung với ai đi? Có một người nói tiếng Anh, gọi em là Winnie đấy. Đoán đi nhé, lá thư sau sẽ kể cho cậu nghe, xem cậu đoán có đúng không nào."
Cậu thấy đấy, trong bức ảnh này, Đạm Nhược đang chơi đùa rất vui vẻ với con chó của nhà chủ nhà đấy. Con chó đó trông có giống một con cừu không cơ chứ? Bộ lông bù xù, đôi tai thì nhỏ xíu. Lớn lên, nó đâm ra hư đốn, đến dép của tôi mà nó cũng dám cắn. Ồ, tôi tức điên lên được! Bà chủ nhà bèn mang đôi dép của chính mình ra đổi cho tôi. Nhưng ngặt một nỗi bà ấy bị bệnh nước ăn chân, thế nên tôi chẳng muốn mang chút nào, dù là vì khách sáo đi chăng nữa thì tôi cũng không muốn.
Dĩ nhiên, tôi vẫn thấy bà ấy khá là được đấy chứ. Tôi nhớ có một hôm, trong nhà chỉ có hai người chúng tôi, bà ấy đã kể cho tôi nghe về thân thế của mình. Lúc đó tôi mới biết bà ấy lấy một người Mỹ gốc Hoa. Chồng bà ấy đã ruồng bỏ bà, và cũng ruồng bỏ luôn con chó đó. Ông ta quay về Mỹ, rồi cưới một người khác nữa. Ông ta cũng lười chẳng thèm ly hôn với người vợ cả này, nhưng vẫn gửi tiền cho bà ấy. Thế nên bà ấy cũng chẳng thèm bận tâm.
"Đây là số mệnh." Bà ấy nói vậy, và tôi cảm thấy bà ấy đã sớm tê liệt rồi, đành phải chấp nhận cái cuộc sống theo cái cách vô cùng xui xẻo này. Nhưng rồi bà ấy lại bảo với tôi, "Cậu phải cẩn thận đấy. Đừng để rơi vào hoàn cảnh như tôi." Thế nên cậu hiểu rồi đấy.
Bức ảnh tiếp theo này hình như được chụp vào mùa xuân. Cậu nhìn những cái cây ở phía sau kìa, đều đang nở hoa hết rồi. Tôi cắt tóc ngắn, trông rất mốt. Ồ, tôi nhớ bức ảnh này lắm. Trông tôi rất đỗi vui tươi, chẳng qua là vì cha cậu đã thốt lên một câu, "Cười lên nào."
Thực ra, vào thời điểm chụp bức ảnh này, tôi vô cùng lo lắng. Tôi đã dùng hai cây vàng để thuê một vị luật sư giỏi, là một luật sư có tiếng trên đường Nam Kinh, nổi danh là thông minh và tháo vát. Ông ấy đã đăng một mẩu quảng cáo trên báo, nói rằng tôi đã ly hôn, bởi vì Văn Phúc từng dùng súng chĩa vào đầu tôi ở Côn Minh, ép tôi phải viết ra câu "chồng tôi muốn ly hôn với tôi". Ngày mẩu quảng cáo được đăng tải, có hai gã bặm trợn đến văn phòng luật sư, đập nát bét mọi thứ bên trong, và xé nát cả tờ đơn ly hôn của tôi. Vị luật sư vô cùng hoảng sợ, cũng rất tức giận. Ông ấy hỏi tôi, "Chồng cô có phải là người trong băng đảng xã hội đen không?" Kể từ dạo đó, ông ấy chẳng dám giúp tôi nữa.
Tôi bắt đầu nghĩ, nhỡ đâu chồng tôi thực sự gia nhập xã hội đen thì sao. Dì Đỗ cũng nghĩ vậy, tôi chẳng hiểu tại sao nữa. Bây giờ mà đi hỏi bà ấy thì đã muộn mất rồi.
Bức ảnh này rất thú vị. Nhìn tôi đang thắt tạp dề kìa. Tôi đang ở trong tổ ấm mới của chúng tôi, là một căn hộ hai phòng trên đường Triều Châu. Cha cậu và tôi đã đăng ký quan hệ vợ chồng rồi. Phía trên có ghi thế này, "Ông và bà Jimmy Louis". Nhưng tôi vẫn dùng con dấu mang tên thật của mình, "Giang Văn Lệ", đây mới là tên hợp pháp của tôi.
Cha cậu đã chụp bức ảnh này cho tôi trước khi ông đi làm vào buổi sáng. Sau đó tôi dẫn Đạm Nhược đi xem phim. Gần như ngày nào chúng tôi cũng đi, bởi vì tôi không muốn cứ ở lẩn thẩn trong nhà suốt cả ngày, sợ Văn Phúc tìm thấy chúng tôi.
Thực ra, trong bức ảnh này, tôi chẳng nấu nướng gì sất, chỉ bày đặt làm ra vẻ thế thôi. Cha cậu rất thích chụp những bức ảnh tự nhiên, không thích kiểu đứng đắn nghiêm trang. "Bảo bối à," cha cậu bảo tôi thế đấy — ông lúc nào cũng thích gọi tôi bằng những cách gọi thân mật kiểu Mỹ, "Bảo bối à, cười lên nào, nhưng đừng nhìn vào ống kính." Thế nên cậu thấy đấy, bức ảnh này trông rất tự nhiên.
Ở đây lại có một bức ảnh chụp chung giữa tôi và Đạm Nhược, rồi một tấm nữa, lại một tấm nữa. Cậu xem có bao nhiêu tấm thế này? Cậu thấy thằng bé trông vui sướng biết bao chưa? Khuôn mặt nó hơi bị mờ, bởi vì lúc cha cậu bấm máy, nó đã ngọ quậy một chút. Cậu không thể bắt một đứa trẻ sáu tuổi ngồi yên một chỗ được đâu, tay nó đang cầm một hòn đá định ném xuống ao kìa.
Bức ảnh này chúng tôi chụp ở trong khu vườn của một ngôi chùa. Tấm này chúng tôi chụp ở một công viên đầy ắp những con thú nhỏ giống như nhân vật hoạt hình vậy. Còn tấm này chúng tôi chụp khi đang tựa lưng vào gốc cây bên hồ, cậu không nhìn thấy hồ nước đâu, nhưng tôi nhớ hồ nước nằm ở ngay đó.
Tôi còn nhớ sau khi chụp xong những bức ảnh này, chúng tôi đã đưa Đạm Nhược lên phía bắc — Cáp Nhĩ Tân, để thằng bé ở cùng Gia Quốc, Hồ Lan và dì Đỗ. Đó là vì bà chủ nhà đã bảo với chúng tôi rằng có hai người đàn ông từng đến đây, tìm tôi và Đạm Nhược. Tôi muốn đi cùng thằng bé, Jimmy sẽ đi theo sau. Nhưng tôi quyết định ở lại thêm mấy tuần nữa, bởi vì tôi lại tìm được một vị luật sư khác, ông ta đã nhận nốt cây vàng cuối cùng của tôi. Ông ấy bảo thủ tục ly hôn của tôi sắp xong xuôi rồi, nhưng khi làm thủ tục ly hôn thì tôi phải ở lại Thượng Hải. Thế là tôi ở lại. Tôi bảo Đạm Nhược rằng tôi sẽ đến ngay thôi. Đương nhiên là thằng bé tin rồi. Và tôi cũng tin rằng mình đã làm đúng, tôi đã cứu lấy nó.
Đêm hôm đó, nhân lúc Đạm Nhược đang ngủ say, chúng tôi cùng bà chủ nhà bế thằng bé ra ga tàu. Bà ấy hứa sẽ đưa Đạm Nhược lên phía bắc, bà có một người anh họ ở trển. Nhưng vừa lên tàu thì Đạm Nhược tỉnh giấc. Nó hét toáng lên, "Mẹ cháu đâu rồi? Cháu đổi ý rồi! Bây giờ cháu không muốn đi nữa!" Thằng bé òa khóc nức nở, khóc đến là thương tâm.
Tôi lao tới bảo, "Sao con lại thế hả? Lại đi làm khó mẹ trước đông đảo người ta thế này." Nhưng nó vẫn khóc lóc hoài không thôi, trái tim bé nhỏ của nó như muốn tan vỡ, và tim tôi cũng vỡ nát. Tôi trách mắng nó, "Đừng khóc nữa, đừng khóc nữa. Hễ rảnh rỗi là mẹ sẽ qua ngay với con."
Dĩ nhiên, tôi nói với nó rất tử tế, nhưng tôi vẫn vô cùng hối hận. Tôi ôm lấy nó, đáng lẽ tôi phải khen ngợi việc nó khóc lóc không muốn rời xa tôi mới phải, lẽ ra tôi không nên để nó đi.
Thế nhưng cậu nhìn xem, bức ảnh này, rồi tấm này, và tấm này nữa, thằng bé đều rất vui vẻ. Cậu có thể nhận ra điều đó, dẫu cho bức ảnh có hơi mờ đi chăng nữa. Hầu hết khoảng thời gian ấy, tôi đều mang lại niềm vui cho nó.
Ở đây có một bức ảnh chụp chung giữa tôi và dì Đỗ, được chụp vài tuần sau khi dì ấy đến Thượng Hải thăm tôi. Vừa nhìn thấy bức ảnh này là trong lòng tôi lại vô cùng đau xót. Bởi vì tôi nhớ hôm dì đến, dì đã kiên nhẫn đứng đợi ở hành lang rất lâu, cho đến tận lúc chúng tôi về nhà.
Tôi trông thấy một bà cụ từ từ đứng dậy. "Tiểu nhân..." Bà ấy nói. Tôi vừa kinh ngạc vừa mừng rỡ khôn xiết. Chính là dì Đỗ — từ Cáp Nhĩ Tân tới! Tôi lao tới đón tiếp dì, trách dì sao chẳng thèm viết thư báo trước một tiếng, để chúng tôi còn ra ga đón. Rồi tôi nhìn khuôn mặt dì, đôi môi mím chặt, trong khóe mắt ngấn lệ. Cậu chỉ cần nhìn khuôn mặt ấy là sẽ hiểu, sẽ hiểu ngay lập tức.
Tôi muốn đẩy dì ra, miệng hét lớn, "Về đi! Về đi!" Jimmy vươn tay chặn tôi lại, không cho tôi xua đuổi dì ấy. Khi dì kể cho tôi nghe lý do tại sao lại đến đây, tôi gầm lên, "Sao dì lại có thể nói thế hả? Sao lại đem chuyện này ra làm trò đùa chứ? Sao lại có thể nói với một người mẹ rằng con trai của bà ấy đã chết cơ chứ? Nó chưa chết. Tôi đã cứu nó! Tôi đã đưa nó đến Cáp Nhĩ Tân rồi cơ mà!"
Nhưng dì không trách tôi. Dì đã lặn lội quãng đường xa xôi nhường ấy, thừa biết rằng tôi sẽ oán hận dì. Dì kể cho tôi nghe rằng người Nhật Bản đã nuôi dưỡng hàng chục ngàn con chuột mang mầm bệnh. Sau chiến tranh, họ không tiêu diệt những con chuột đó mà thả cho chúng chạy rông. Hơn một năm trôi qua, đại họa ập xuống — hàng chục ngàn người mắc bệnh, chẳng có cơ hội trốn chạy, rồi chết vì căn bệnh truyền nhiễm cấp tính do chuột và bọ chét mang lại. Đứa bé Đạm Nhược đáng thương, chỉ trong vòng một ngày đã mất mạng.
Chà, chuyện tồi tệ hơn hãy còn ở phía sau, Gia Quốc cũng đã chết.
Tôi muốn chạy đến Cáp Nhĩ Tân để được ôm lấy đứa con trai tội nghiệp của mình thêm một lần nữa, xem rốt cuộc bọn họ có nhầm lẫn gì hay không. Suy cho cùng, nó chưa bao giờ khóc nhè cả. Nó rất khó tỉnh giấc. Bọn họ nào đâu biết Đạm Nhược là một đứa trẻ như thế, nó tin tưởng tôi biết nhường nào.
Nhưng dì Đỗ bảo, họ chẳng thèm suy nghĩ xem chuyện này xảy ra thế nào, đã chôn cất Đạm Nhược và Gia Quốc ngay vào ngày họ qua đời. Dì bảo họ buộc phải thiêu trụi tất cả mọi thứ trong nhà, quần áo của Đạm Nhược, đồ chơi của nó, hết thảy mọi thứ sạch trơn, vì sợ bọ chét vẫn còn ẩn nấp bên trong, cho nên cậu thấy đấy, đến cả một vật kỷ niệm làm chỗ dựa cho hy vọng và hồi ức cũng chẳng giữ lại được, nó cứ thế vĩnh viễn rời đi.
Mãi cho đến ngày hôm sau, tôi mới cất lời hỏi dì Đỗ về Hồ Lan, "Cậu ấy đâu rồi? Sao cậu ấy không đến cùng dì?"
Dì Đỗ bảo Hồ Lan đang ở Cáp Nhĩ Tân, để chăm sóc phần mộ. Ngày nào cô ấy cũng đến dâng đồ cúng, nói với Gia Quốc và Đạm Nhược rằng cô ấy mong kiếp sau hai đứa sẽ lớn lên thật mập mạp. "Con bé ấy nhất định phải làm thế," dì Đỗ bảo, "Nó nói, xong việc là nó sẽ đến Thượng Hải gặp tao ở đây. Nó chẳng có lý do gì để ở lại Cáp Nhĩ Tân nữa cả. Ít ra thì bây giờ tinh thần nó đã tỉnh táo rồi. Nhưng vào cái hồi chúng vừa mới chết — thật là khủng khiếp, suốt hai ngày trời nó chẳng khóc nổi, người cứ ngây dại như phát rồ, cứ lải nhải không ngừng, 'Sao hai đứa nó lại chết được cơ chứ? Chiến tranh rõ ràng đã kết thúc rồi cơ mà.' Suốt hai ngày liền, nó cứ lặp đi lặp lại câu nói đó. Sau đó nó bận rộn dọn dẹp phòng ốc, dùng dầu thông lau chùi tường và sàn nhà. Làm xong xuôi việc ấy, nó mới ngồi xuống viết thư cho cậu, cố gắng dùng giọng điệu ôn hòa nhất để báo cho cậu biết Đạm Nhược đã chết."
"Nhưng đầu óc nó đã đờ đẫn cả rồi, viết được câu 'Đứa con bảo bối của chị' thì không biết phải viết tiếp thế nào nữa, thế là nó đi tìm Gia Quốc. Nhưng tìm hoãy không thấy anh ta đâu, nó liền cất tiếng gọi. Tao thấy nó đứng giữa phòng lớn giọng gọi anh ta, tức giận đến mức nước mắt giàn giụa. 'Gia Quốc! Gia Quốc!' nó gào lên bất chấp, 'Anh đừng có chết vào lúc này chứ! Không có anh, em phải sống sao đây? Em biết phải viết thế nào là "đứa con bảo bối của chị" hả?'"
Bây giờ thì cậu đã biết vì sao trong bức ảnh này tôi lại gầy trơ xương rồi đấy. Cậu nhìn chiếc áo len tôi mặc kìa, xộc xệch tuột hẳn xuống khỏi vai. Cậu không nhìn thấy đấy thôi, chiếc áo Gile này có màu đỏ sậm, trước ngực và trên túi còn được thêu hoa bằng chỉ vàng thật. Cha cậu bắt tôi phải mặc nó để chụp ảnh. Đây là món quà ông mua cho tôi khi tôi tròn hai chín tuổi, thế nên đó là vào mùa xuân năm 1947. Trước đó tôi chưa từng nhận được món quà sinh nhật nào bao giờ. Lẽ ra tôi phải vui mừng mới phải, thế nhưng tôi vẫn đau lòng vì Đạm Nhược, tôi vẫn cứ dằn vặt chính mình. Thế nên cha cậu cũng chẳng bắt tôi phải cười. Tôi không cười, bức ảnh này vốn dĩ là tự nhiên như thế.
Bây giờ thì cậu nhìn đi, ở đây không còn bức ảnh nào của tôi nữa rồi. Bởi vì kể từ dạo đó, có kẻ nhìn thấy tôi bước vào tiệm cắt tóc, lúc tôi bước ra, liền bị hai viên cảnh sát bắt giam vào ngục tối.
Chẳng ai nói cho tôi biết lý do vì sao lại bắt tôi cả. Bọn họ áp giải tôi vào nhà lao nữ với cánh cửa gỗ dày cộp và những bức tường cao ngất. Vừa được tống vào bên trong là tôi ngả bệnh ngay lập tức. Cái mùi ở trong đó mới khó chịu làm sao, hệt như việc cậu nhét mũi vào bồn cầu vậy! Một nữ ngục tốt dẫn tôi đi dọc theo một hành lang dài tối tăm mịt mùng, đi qua một dãy bàn ghế dài bằng gỗ. Tận cùng của lối đi toàn là những buồng giam, phòng này nối tiếp phòng kia, mỗi phòng nhốt năm người phụ nữ, những con người mà khi đi ngoài phố cậu thậm chí còn chẳng dám liếc nhìn lấy một cái, trên khuôn mặt của ai nấy đều hằn in câu chuyện đầy bi thảm. Bọn họ tống tôi vào một nơi chốn thế này, sống chung với bốn người đàn bà trong một buồng giam nồng nặc mùi hôi hám.
Tôi cứ ngỡ rằng những người phụ nữ này thừa biết tôi bị bắt nhầm. Bọn họ đều dùng ánh mắt tò mò đầy thương hại để đánh giá tôi, hoàn toàn chẳng có lấy một biểu hiện đồng tình nào. Bốn cặp mắt ngay lập tức dán chặt vào bộ xường xám của tôi, kiểu trang phục mà thông thường chỉ có các phu nhân mới mặc vào mùa hè. Bọn họ còn dán mắt vào mái tóc uốn xoăn óng ả mà tôi vừa mới làm ở tiệm làm đẹp ra. Hầu hết những người phụ nữ sống ở chốn này đều mặc quần áo dơ dáy bẩn thỉu, khuôn mặt thô kệch, tóc tai bết bát dầu mỡ.
Được một lát, một người phụ nữ cất giọng khàn đày thô lỗ nói, "Này, cô em, ngồi xuống đi, ngồi xuống đây, đến chốn này làm khách mấy ngày thế hả?" Tất cả mọi người đều phì cười, nhưng không hề mang ý đồ ác ý. Tôi nghĩ chắc họ tưởng đùa một chút sẽ khiến tôi cảm thấy dễ chịu hơn chăng. Thế rồi một người phụ nữ khác chồm dậy từ chiếc ghế đẩu gỗ mà cô ta đang ngồi, bảo rằng, "Ngồi chỗ này đi." Lúc cô ta kéo quần lên, mọi người lại được một trận cười phá lên. Đến lúc này tôi mới tá hóa nhận ra, hóa ra thứ mà cô ta vừa ngồi không phải ghế đẩu gì sất, mà là cái bồn cầu ở góc phòng. Cái bồn cầu này phát huy không ít công dụng, hoàn toàn chẳng có lấy một tấm che chắn nào, cậu chẳng thể dội nước được, cũng chẳng thể đậy nắp lại, bởi vì làm gì có cái thứ đó. Mọi người cứ thế ngồi xổm ở đó "giải quyết", hệt như một nồi canh nhầy nhụa khó coi.
Góc bên kia của căn phòng được trải một chiếc chiếu cói trên sàn, kích thước vừa khít cho ba người nằm chen chúc nhau. Chúng tôi đành phải luân phiên ngủ, ba người ngủ trên chiếu, hai người còn lại thì ngồi bệt xuống nền xi măng.
Suốt cả đêm hôm đó cứ thế đứng chôn chân, suốt cả đêm tôi cứ thấp thỏm lo âu, chẳng phải lo cho bản thân, mà là lo cho Jimmy. Tôi hình dung cảnh anh đang tất tả đi tìm mình khắp nơi, tìm khắp công viên, tìm khắp rạp chiếu phim. Anh ấy là một người tốt, vô cùng nhân hậu, lại rất biết cảm thông cho người khác, chỉ có điều anh không đủ kiên cường. Anh chưa từng trải qua dâu bể khổ ải nào, thế nên tôi vô cùng lo lắng. Tôi chỉ mong sao dì Đỗ có thể giúp anh tìm thấy tôi.
Đến sáng ra, đôi chân tôi thực sự không chịu đựng nổi nữa, cứ run bần bật. Một nữ ngục tốt đến lôi cổ tôi đi. Ả ta gọi tên tôi: "Giang Văn Lệ!" Tôi vội vã cất cao giọng đáp lời, "Có! Có!" Cứ ngỡ rằng bọn họ sắp thả tôi ra rồi chứ. Nào ngờ trái lại hoàn toàn, ngục tốt tròng vào tay tôi một cặp còng số tám, cứ như thể tôi là một tội phạm nguy hiểm ghê gớm lắm vậy. Rồi bọn họ tống tôi lên một chiếc xe tải, ngồi cùng những người phụ nữ cũng bị còng tay khác, khuôn mặt ai nấy đều thô kệch chẳng khác nào bọn trộm cắp. Biết đâu họ đưa chúng tôi về vùng quê để đem đi bắn bỏ thì sao, chúng tôi nào có hay biết gì. Chúng tôi chẳng khác nào một bầy gia súc bị trói giật cánh khuỷu, tống ra chợ bán, mỗi khi xe ôm cua một góc là mọi người lại va đập vào nhau bươn bả.
Rồi chiếc xe tải dừng lại, hóa ra đây là tòa nhà của tòa án cấp tỉnh. Vừa bước chân vào cổng tòa án, tôi đã nhìn thấy anh: Văn Phúc, đang cười cợt hệt như một kẻ thắng trận, hả hê nhìn tôi phơi bày bộ dạng xấu hổ trước chốn đông người. Tóc tai tôi bù xù, quần áo nhàu nhĩ, trên da dẻ vẫn còn vương vất cái mùi hôi hám từ đêm hôm qua.
Rồi tôi nghe thấy tiếng ai đó xì xào bàn tán, "Cô ta kìa!" Sau đó tôi nhìn thấy dì Đỗ, Hoa Sinh, và cả Jimmy nữa, trên khuôn mặt anh vừa vui mừng lại vừa đau đớn. Mãi sau này tôi mới biết sự việc đúng như những gì tôi hằng mong ước, dì Đỗ đã đến chỗ ở của cha tôi, yêu cầu phải cho biết tung tích của tôi. Thế là dì biết được tất cả những chuyện này đều do một tay Văn Phúc gây ra.
Quan tòa thông báo tội danh của tôi, tôi bị buộc tội trộm con trai của chồng, lại còn khiến nó chết, trộm tài sản có giá trị nhà chồng, ruồng bỏ người chồng Trung Quốc, rồi tư thông với một tên lính Mỹ quen biết trong khói lửa chiến tranh.
Tôi giận đến run lẩy bẩy, suốt cả buổi mà chẳng thốt nên lời. "Tất cả những điều này đều là dối trá," tôi điềm tĩnh nói với quan tòa, "Chồng tôi đã sớm hưu tôi từ lâu rồi, đó là vào thời kỳ kháng chiến, khi ấy anh ta dùng súng chĩa vào đầu tôi, ép tôi phải ký tên vào đơn ly hôn." Tôi nói tôi chẳng hề trộm cắp bất cứ thứ gì từ trong nhà cha tôi cả, tôi chỉ cầm theo những thứ thuộc về chính mình mà thôi. Tôi nói, sao tôi lại có thể bị buộc tội là ruồng bỏ chồng để tư thông với người đàn ông khác cơ chứ, trong khi người chồng ấy đã hưu tôi từ lâu, và hiện đang sống chung với một người phụ nữ khác? Tôi nói, người đàn ông kia bây giờ chính là chồng tôi, chúng tôi đã chính thức đăng ký quan hệ vợ chồng rồi.
Tôi thấy Jimmy đang gật đầu, có người đang chụp ảnh anh. Rồi tôi nghe thấy tiếng bàn tán lại râm ran vang lên trong phòng. Tôi thấy có cả những người khác ở đó — giống như khán giả trong rạp chiếu phim, mọi người vì rảnh rỗi không có việc gì làm nên đến xem náo nhiệt. Họ chỉ trỏ vào tôi và Jimmy, rồi lại xì xào bàn tán không ngớt. Mãi sau này dì Đỗ mới kể cho tôi nghe, bọn họ đang bảo rằng, "Trông cô ấy xinh đẹp biết bao, hệt như ngôi sao điện ảnh vậy." "Nghe cách cô ấy nói chuyện kìa, thừa biết cô ấy là người tốt." "Người đàn ông mà cô ta theo đuổi tư thông rốt cuộc chẳng phải người ngoại quốc gì sất, ai nhìn cũng biết là người Trung Quốc."
Nhưng lúc này Văn Phúc lại mỉm cười nói với quan tòa rằng, "Hoàn toàn chẳng có vụ ly hôn nào sất, vợ tôi bị lẫn lộn trí óc rồi. Có lẽ chúng tôi đã cãi nhau từ rất lâu trước đây, tôi từng nói rằng nếu cô ta còn dám không thủ quy củ thì tôi sẽ hưu cô ta."
Anh ta coi tôi như một con nhóc ngốc nghếch, cứ như thể đến cả chuyện có thực sự ly hôn hay không mà tôi cũng chẳng thèm nhớ nổi nữa vậy!
"Nếu như chúng tôi thực sự ly hôn," Văn Phúc nói, "Giấy ly hôn đâu rồi? Chứng nhân đâu rồi?"
Ngay lúc ấy, dì Đỗ đứng phắt dậy, "Ở đây! Tôi chính là nhân chứng, còn có cháu gái của tôi nữa, nó hiện đang ở Đông Bắc, nó cũng là nhân chứng." Dì Đỗ quả thực là một người phụ nữ tốt bụng biết bao! Lại có thể nghĩ ngay ra được điểm này. Đây tuyệt đối không phải nói dối, chút nào cũng không. Dì từng tận tai nghe thấy những trận cãi vã của chúng tôi, cũng từng tận mắt nhìn thấy tờ giấy đó. Mọi người trong phòng nghe dì Đỗ nói vậy, lập tức trở nên phấn khích, họ vui mừng bàn tán xôn xao.
Văn Phúc trừng mắt nhìn dì Đỗ một cái thật sắc, rồi quay sang quan tòa, "Người phụ nữ này nói không phải sự thật. Bà ta làm sao có thể đóng vai trò nhân chứng mà ký tên vào giấy ly hôn được chứ? Tôi biết người phụ nữ này, bà ta là một kẻ mù chữ, không biết chữ nghĩa cũng chẳng biết viết lách." Vẻ mặt khó chịu của dì Đỗ đã tố cáo tất cả, quan tòa nhìn là biết đây là sự thật.
"Tờ giấy ly hôn đó cô còn giữ bên người chứ?" Quan tòa hỏi tôi.
"Năm ngoái tôi đã giao nó cho luật sư rồi," tôi đáp, "Nhưng sau khi chúng tôi đăng cáo phó ly hôn trên báo chí, gã đàn ông này, Văn Phúc, đã đập phá nát bét văn phòng luật sư, xé nát toàn bộ tài liệu của ông ấy, và xé luôn cả giấy ly hôn của tôi."
"Cô ta đang nói dối!" Văn Phúc lồng lộn gầm lên. Mọi người lập tức lại xì xào bàn tán. Tôi một lần nữa khẳng định chắc nịch rằng Văn Phúc đã ép tôi phải ký tên vào đơn ly hôn, dì Đỗ thì bảo bà không đọc hiểu được hưu thư, nhưng bà biết rõ nội dung bên trong, "Tôi đã điểm chỉ ngón tay lên trên đó đấy!"
Nhưng lúc này quan tòa bắt đầu ra lệnh cho mọi người giữ trật tự. "Những vụ án tương tự thế này," ông ta nói, "Dù mọi người có đồng tình hay không, tôi buộc phải căn cứ vào chứng cứ để đưa ra phán quyết. Không một ai lấy ra được giấy ly hôn, thế nên cũng đồng nghĩa với việc không có chuyện ly hôn. Đã không ly hôn, thì người chồng hoàn toàn có quyền buộc tội người vợ mang đi tài sản và con trai của anh ta, phía người vợ cũng không phủ nhận việc mình đã mang đi cả hai thứ đó, vì vậy, tôi tuyên án Giang Văn Lệ hai năm tù giam."
Quan tòa đặt bút viết xuống phán quyết của mình trên văn bản. Mọi người hò hét ầm ĩ. Văn Phúc mỉm cười, dì Đỗ òa khóc, còn Jimmy và tôi nhìn thẳng vào mắt nhau, câm lặng không nói nên lời. Tôi hoàn toàn bị đánh cho choáng váng, đại não rối bời một mớ hỗn độn. Tôi hoàn toàn không ngờ tới việc vì những lời gian dối của Văn Phúc mà mình lại phải quay trở lại nhà lao một lần nữa. Cứ ngỡ anh ta chỉ muốn sỉ nhục tôi một vạn bận, tống tôi vào ngục ở tù một đêm cho hả giận. Tôi cứ ngỡ mình đang nằm mơ: ngục tốt tròng còng tay vào tôi, có người đang chụp ảnh tôi, quan tòa đóng dấu đỏ chót lên văn bản.
Đột nhiên, Văn Phúc bước đến trước mặt quan tòa lớn tiếng nói, "Có lẽ bây giờ vợ tôi đã chịu nhận bài học rồi, chỉ cần cô ấy nói một câu xin lỗi, tôi sẽ coi như bỏ qua mọi chuyện cũ, cô ấy có thể theo tôi về nhà." Anh ta làm ra vẻ rộng lượng hào phóng, mỉm cười nhìn tôi.
Tất cả mọi ánh mắt đều đổ dồn về phía tôi, xem tôi sẽ thốt ra những lời gì. Tôi nghĩ chắc bọn họ đều đang chờ đợi tôi quỳ sụp xuống, van xin sự tha thứ. Tôi nghĩ ngay cả dì Đỗ và Jimmy cũng đang hy vọng tôi làm thế. Nhưng trong lòng tôi ngập tràn thù hận, nào đâu còn tâm trí đâu mà màng đến hy vọng của họ nữa? Tôi chẳng nhìn thấy gì sất, ngoại trừ nụ cười đểu cáng của Văn Phúc, đang chờ đợi câu trả lời từ tôi. Tôi có thể hình dung ra anh ta sẽ cười nhạo tôi thế nào, anh ta sẽ ép buộc lên giường với tôi ra sao, sẽ hành hạ tôi mỗi ngày cho đến khi ý chí của tôi hoàn toàn sụp đổ mới thôi.
"Tôi thà ngủ trên nền xi măng trong nhà lao," tôi nghe thấy chính mình cất cao giọng thốt lên, "Còn hơn là quay trở lại cái căn nhà của gã đàn ông đó!" Căn phòng lập tức bùng nổ một trận xôn xao kinh ngạc và tiếng cười cợt. Cậu thấy đấy, kết cục là người chịu nhục nhã lại chính là bản thân Văn Phúc. Lúc bọn họ áp giải tôi đi, tôi đã mỉm cười.
Ba ngày sau, dì Đỗ đến thăm tôi. Chúng tôi ngồi trong phòng tiếp khách nhỏ bé, một nữ ngục tốt ngồi ở góc phòng, giám sát từng câu từng chữ chúng tôi trò chuyện.
Dì Đỗ đặt một chiếc túi vải lên bàn, tôi nhìn thấy bên trong có hai chiếc quần đùi, một mảnh vải bọc lên trên quần áo của tôi để tránh bị dấy bẩn, một chiếc lược, một bàn chải đánh răng, một đôi đũa, và cả một bức tượng Phật Quan Âm nhỏ xíu.
"Trải tấm áo này lên giường ấy," dì Đỗ giải thích, "Như vậy giường của cháu sẽ sạch sẽ hơn một chút. Hãy treo tượng Phật Quan Âm lên, để trong lòng cháu có được một cõi tịnh thổ."
Rồi dì vươn tay áo sơ mi ra, từ trong đó lấy ra một tờ báo được gấp làm bốn khúc. "Cậu nhìn xem bọn chúng làm ra những trò mèo gì này," dì thì thầm, "Tất cả các tờ báo lớn đều đăng tải. Jimmy Louis bảo rằng bọn họ viết quá ư là tệ hại."
Tôi mở tờ báo ra, đọc ngấu nghiến. Jimmy nói chẳng sai chút nào, thật kinh khủng hệt như những thứ do bọn lưu manh hạ đẳng viết ra vậy. Khuôn mặt tôi nóng bừng lên vì tức giận.
"Lãng mạn kiểu Mỹ kết thúc trong cái chết và bi kịch." Tôi đọc to. Tôi nhìn thấy bức ảnh của chính mình, trông vô cùng kiên cường, hệt như một đảng viên cách mạng vậy. "'Tôi thà đi tù!' Người phụ nữ sa vào lưới tình hét lên."
Bên cạnh là bức ảnh của Văn Phúc, ánh mắt anh ta lệch sang một bên, hệt như đang nhìn vào bức ảnh của tôi, ánh mắt vừa phẫn nộ lại vừa đắc ý. Phía dưới là dòng chú thích, "'Sự ích kỷ của cô ta đã giết chết con trai tôi', vị anh hùng của Quốc Dân Đảng tuyên bố."
Tận cùng phía dưới là một bức ảnh nhỏ của Jimmy Louis, anh cúi gằm đầu, trông như đang thẹn thùng xấu hổ vậy. "Điệp viên người Mỹ này nói, 'Tôi vẫn muốn đòi lại cô ấy.'"
Tôi đọc sạch sành sanh tất cả những lời dối trá bịp bợm do Văn Phúc nhào nặn ra, nào là tôi từ bỏ cuộc sống được người đời kính trọng, phản bội lại cha mình, khiến con trai ruột của chính mình phải bỏ mạng — tất cả những điều này đều vì tôi phát cuồng lên muốn ngủ với người Mỹ. Văn Phúc thừa biết báo chí muốn nghe những gì.
Dì Đỗ liếc nhìn dáng vẻ buồn ngủ của nữ ngục tốt. "Tiểu nhân," dì khẽ khàng cất lời, "Tao đúng là một người đàn bà ngốc nghếch. Lẽ ra tao phải sớm ký tên vào tờ giấy đó từ lâu rồi. Thật xin lỗi cháu." Cả hai chúng tôi cùng thở dài thườn thượt, thấu hiểu lẫn nhau.
"Jimmy Louis đâu rồi?" Cuối cùng tôi cất tiếng hỏi, "Khi nào anh ấy tới?" Dì Đỗ cúi gằm đầu. "Ấy dà, tiểu nhân ơi," dì đáp, "Sao lúc nào tao cũng mang tin dữ đến cho cháu thế này?"
Bức ảnh này chụp con tàu mà cha cậu đã đi khi trở về Mỹ. Cậu nhìn dòng chữ viết ở phía dưới xem? "Sơn miêu hải thượng" (Sea Wildcat). Cậu thấy bức vẽ mấy ô cửa sổ tròn vo ở bên dưới không? Đó chính là khoang dành cho nhân viên mà anh từng ở.
Cậu xem, có bao nhiêu người đã ký tên lên đây cho ông ấy nào? "Những lời chúc tốt đẹp nhất. Lý Văn Thành." "Những lời chúc tốt đẹp nhất. Mary Emmagva." "Những lời chúc tốt đẹp nhất. Resha Hansen." "Lời chào chân thành nhất. Johnny How." "Bằng tình yêu của Chúa. Maxima Aspila."
Vị này viết hay nhất này: "Jimmy thân mến, lần đầu tiên gặp anh, em cứ tưởng anh là một gã công tử bột phong lưu phóng túng. Sau này qua lại nhiều lần với anh, em mới cảm thấy nghĩ vậy thật có lỗi với anh, bởi vì anh chính là cậu nhóc tuyệt vời nhất trên con tàu này. Em rất yêu anh. Winnie nhỏ bé của anh thật may mắn khi có được người chồng như anh. Chúc anh vạn sự bình an. Người bạn thực sự của anh, Mary Moy."
Cha cậu nói với tất cả mọi người trên tàu, cho dù đó có là người xa lạ đi chăng nữa, rằng ông là chồng tôi, còn tôi là vợ ông. Ông ghi chữ "Đã kết hôn" vào hộ chiếu rồi trở về nhà. Đây là chuyện dì Đỗ kể cho tôi nghe đấy. Dì còn kể rằng cha cậu sẽ không bao giờ ở lại Thượng Hải nữa đâu.
Sau khi tôi bị nhốt vào nhà lao, Văn Phúc chạy đến Lãnh sự quán Mỹ để gây rắc rối cho Jimmy: "Các người là người Mỹ mà lại làm ra những chuyện thế này ư? Phá hoại gia đình tôi!" Tiếp đó anh ta lại chạy đến tòa soạn báo để nói những lời y hệt. Hồi đó có rất nhiều lời đồn đại rằng điệp viên Mỹ trước khi về nước đã cưỡng bức các cô gái Trung Quốc, dụ dỗ phụ nữ Trung Quốc.
Thế là người ở lãnh sự quán liền bảo Jimmy đừng đến thăm tôi nữa, đợi mọi chuyện lắng xuống rồi tính sau. Nào ngờ sự việc lại càng lúc càng trở nên tồi tệ hơn. Những tin đồn vỉa hè trên mặt báo lan truyền suốt mấy tuần liền. Cứ cách vài ngày lại lòi ra một câu chuyện mới mẻ nào đó, Văn Phúc đã nói gì, tôi đã nói gì, sau đó anh ta lại nói gì, rồi sau đó tôi lại nói gì nữa. Cả những bức ảnh nữa — bức ảnh tôi ngồi cùng hai mươi người phụ nữ bên chiếc bàn dài trong nhà lao; bức ảnh Văn Phúc và người phụ nữ của anh ta dắt theo một chú chó Bắc Kinh nhỏ xíu, hớ hở hênh hoang đi dạo; bức ảnh Jimmy chụp thời chiến, anh đứng cạnh các phi công; và cả bức ảnh Đạm Nhược hồi nhỏ.
Có lúc báo chí khắc họa tôi thành một người phụ nữ vừa quyến rũ lại vừa tâm địa độc ác; có lúc báo chí lại miêu tả tôi là một người phụ nữ ngây thơ phất phơ, bảo rằng tôi vào tù là bị oan uổng. Dì Đỗ kể cho tôi nghe rằng tôi đã trở thành một nhân vật nổi tiếng trong lòng các cô gái trẻ ở Thượng Hải. Có hôm dì nghe được hai cô gái đang bàn tán về tôi trên xe buýt, họ bảo rằng, trông xinh đẹp thế cơ mà, đúng là hồng nhan bạc mệnh quá đi.
Nhưng người ở lãnh sự quán nào có màng tới chuyện tôi xinh đẹp hay bạc mệnh chứ. Trải qua một khoảng thời gian, công việc của cha cậu cũng mất luôn. Người ta ở đó bảo ông hãy về nhà đi, đừng có rước thêm rắc rối nữa. Ông không thể đến thăm tôi, nhưng ở lại thì chẳng đành lòng. Cậu đoán xem ông làm gì nào? Hết cách, ông đành phải quay về quê nhà San Francisco thôi.
Dĩ nhiên, ông viết cho tôi rất nhiều thư, gửi đến chỗ dì Đỗ, lại còn gửi cả đô la Mỹ sang để dì có thể trụ lại Thượng Hải chăm sóc tôi. Dì Đỗ dù có tiền hay không thì lúc nào cũng chăm sóc tôi hết mực. Nhưng việc ông làm thế vẫn khiến chúng tôi vô cùng mừng rỡ, bởi vì tiền giấy Trung Quốc quá ư là bấp bênh không ổn định.
Thế nên, tháng nào dì Đỗ cũng đến thăm tôi, lần nào cũng mang theo ba bốn bức thư của Jimmy. Những lời anh nói lúc nào cũng chỉ có bấy nhiêu: Dù thế nào đi nữa, trong vòng hai năm nhất định anh sẽ sang thăm tôi. Anh yêu tôi biết nhường nào, chẳng thứ gì có thể ngăn cản được tình yêu của anh. Rằng mỗi ngày, từng phút từng giây anh đều cầu nguyện cho tôi sớm ngày trở về đoàn tụ với anh. Tôi có cảm giác anh cầu nguyện nhiều đến mức sắp biến thành một tín đồ đạo giáo tới nơi rồi. Tôi nghĩ đó chính là nguyên nhân vì sao sau này anh lại gia nhập nhà thờ. Nhưng tôi đoán chắc anh chẳng dám kể với ai việc vợ mình vào tù, lại còn bị người chồng khác tống vào đó nữa. Nói ra mấy chuyện đó nghe chẳng hay ho gì cho cam.
Mọi người trong nhà lao đối xử với tôi rất tốt. Tôi có cảm giác ngục tốt và những nữ tù nhân khác đều tin tưởng tôi, tôi giải thích cho họ nghe lý do vì sao mình lại đặt chân đến chốn này, vì sao tôi không nên ở lại đây. Tôi cảm thấy tất cả bọn họ đều tôn trọng tôi, bởi vì tôi cũng tôn trọng họ. Tôi là một người có học thức, và bây giờ tôi cũng chẳng khác nào họ cả. Một cô gái bảo rằng, "Chị mà có tính cách như thế này thì đời nào lại phải vào đây." Một cô gái khác thì cứ hay giúp tôi giặt giũ quần áo. Tôi nào có bắt cô ấy giặt đâu, là do cô ấy tự nguyện đề xuất đấy chứ.
Tôi cũng giúp đỡ họ làm việc. Tôi nhờ dì Đỗ mang tới một tấm ván gỗ, như vậy chúng tôi có thể che đậy đi cái mùi hôi thối nồng nặc từ bồn cầu. Tôi tìm ra phương pháp dọn dẹp phòng ốc, thu dọn gọn gàng tất cả đống đồ đạc hỗn độn trên giường. Có hai cô gái nhờ tôi dạy họ đọc sách viết chữ, thế là tôi bảo dì Đỗ mang dăm tờ báo cũ và mẩu phấn trắng tới, như vậy chúng tôi có thể tập nét vẽ. Sau khi học xong bài, chúng tôi liền xé rách những tờ báo đó ra, tận dụng làm giấy vệ sinh.
Tôi còn dạy họ cách hành xử và ăn nói cho phải phép, hệt như hồi ở Côn Minh, tôi từng dạy cô vũ nữ Mẫn cô nương vậy. Tôi đã kể cho cậu nghe về cô ấy chưa nhỉ? Chà, nhắc đến lại thấy đau đớn khôn cùng. Có hôm khi đang xé báo tôi vô tình nhìn thấy bức ảnh của cô ấy, trên báo viết rằng, "Tiểu thư giọng vàng qua đời, hưởng dương ba mươi ba tuổi." Tôi kinh ngạc ngắm nhìn bức ảnh của cô ấy. Tôi bàng hoàng phát hiện ra cô ấy lấy nghệ danh là giọng vàng, y hệt như cái tên mà tôi từng gợi ý cho cô ấy vậy. Tôi bàng hoàng khi biết được tuổi thật của cô ấy. Giờ đây tôi đã tìm lại được cô ấy rồi, ngặt một nỗi cô ấy đã qua đời.
Cô ấy đã trở thành một ca sĩ tại một hộp đêm nổi tiếng ở Thượng Hải. Không hẳn là tiếng tăm lẫy lừng gì cho cam, có lẽ chỉ chút ít tên tuổi mà thôi. Tôi nghĩ, chắc bởi vì cô ấy chết quá thảm thương, nên họ mới đăng ảnh cô ấy lên báo. Chuyện này xảy ra vào mùa đông, vào một buổi tối trời vô cùng lạnh lẽo.
Cô ấy đang thong thả bước dọc theo bến tàu ven sông, diện một chiếc váy khiêu vũ không tay xinh đẹp, chẳng khoác áo khoác. Những người qua đường trên phố đều dán chặt mắt vào cô ấy, có lẽ là đám công nhân bến tàu và ngư dân chăng. Thế rồi cô ấy cất tiếng hát. Bọn họ cảm thấy cô ấy thật kỳ quặc, nhưng đến đoạn cuối bài hát, vì phép lịch sự nên tất cả đều vỗ tay rào rào. Cô ấy cúi đầu chào, vẫy vẫy tay, rồi lùi lại phía sau, hệt như đang tạ màn chào khán giả trong hộp đêm vậy. Cô ấy mỉm cười nói, xin cảm ơn, xin cảm ơn. Sau đó cô ấy liền nhảy qua bờ chắn, lao thẳng xuống dòng nước sông buốt giá.
Báo chí viết rằng, trái tim cô ấy đã vỡ nát, đây là lời kể của một người quen biết cô ấy, nhưng trên báo lại không nêu rõ nguyên nhân. Tôi đọc tờ báo, rồi lại nghĩ đến bản thân mình. Tôi từng ngỡ rằng cô ấy cũng giống như mình, chỉ là kiên cường hơn tôi mà thôi. Nếu quả thực là thế, vậy thì kết cục của tôi sẽ ra sao đây? Câu hỏi này tôi đã ngẫm nghĩ suốt mấy ngày trời.
Thực ra, tôi suy nghĩ rất nhiều chuyện, tôi có thừa thời gian để nghĩ ngợi. Tôi cùng những người phụ nữ khác ngồi trên ghế làm việc mỗi ngày. Chúng tôi làm việc suốt tám tiếng đồng hồ một ngày, không được phép xin nghỉ phép. Tôi làm những chiếc hộp diêm nhỏ xíu, cắt, gấp, dán, lặp đi lặp lại mãi cũng chỉ có ngần ấy thao tác cũ rích. Trước khi vào tù, tôi chưa bao giờ nghĩ tới chuyện phải có ai đó làm ra những chiếc hộp nhỏ này để đựng diêm vào trỏng, cũng chưa bao giờ ngờ rằng những món đồ nhỏ bé tầm thường này lại được đánh đổi bằng nỗi thống khổ của biết bao con người. Công việc này thực sự quá đỗi tẻ nhạt nhàm chán!
Thế là tôi lại suy tính xem liệu có thể dùng cách thức nào khác để làm công việc này hay không, trước khi bôi keo dán thì hãy gấp sẵn lớp trên cùng trước, hoặc là cứ gấp chồng hết cả lũ chúng lại, để cho đại não của tôi không có lấy một phút ngơi nghỉ. Hễ đại não vừa rảnh rỗi là đủ thứ tạp niệm tồi tệ sẽ nhân cơ hội kéo đến xâm chiếm.
Tôi nhớ có một lần nhận được bức thư của Jimmy. Tôi đặt công việc trong tay xuống, dừng lại vài phút, như thế tôi có thể đọc to bức thư cho những người phụ nữ đang ngồi làm việc chung một băng ghế nghe. Mỗi khi tôi nhận được thư gửi bằng đường hàng không, bọn họ đều vô cùng phấn khích, bởi vì đến cả thư thông thường họ còn chẳng nhận được cơ mà. Dĩ nhiên, đó là bởi vì họ không biết chữ.
"'Phu nhân nhỏ thân yêu.'" Tôi đọc tiếp. Tất cả các cô gái đều thở dài thườn thượt. Phu nhân nhỏ! Sau đó, tôi lại đọc những nội dung quen thuộc cho họ nghe.
Anh ấy yêu tôi biết bao nhiêu. Tất cả mọi người đều khúc khích cười vang.
Anh ấy cầu nguyện cho tôi suốt cả ngày lẫn đêm thế nào. Bọn họ lại thở dài.
Anh ấy vùi đầu đọc sách đến mức đầu óc muốn nổ tung ra sao. Bọn họ cười lớn.
Lớp khiêu vũ đồng quê ở hội thanh niên cơ đốc thú vị làm sao. Tôi khựng lại, lớp khiêu vũ!
Các cô gái lặng thinh không nói một lời, quay đầu tiếp tục công việc của mình. Tôi nhìn những đầu ngón tay đã trở nên thô kệch của chính mình. Tôi hình dung cảnh Jimmy đang nắm chặt bàn tay thon thả của một cô gái xinh đẹp nào đó. Sao anh ấy vừa có thể yêu tôi, lại vừa khiêu vũ với những cô gái khác cơ chứ? Sao anh ấy vừa có thể nhắm nghiền mắt cầu nguyện cho tôi, lại vừa vỗ tay giậm chân đôm đốp được nhỉ? Rồi tôi lại nghĩ, anh bảo anh viết chữ "Đã kết hôn" trên hộ chiếu, nhỡ đâu là có ý nói anh đã kết hôn với người khác, chứ không phải với tôi thì sao? Bất thình lình, hình ảnh Jimmy nhảy múa trong tâm trí tôi, càng nhảy càng nhanh — một, hai, ba, nhảy qua hành lang nhà thờ, nhảy thẳng vào vòng tay của một người phu nhân mới!
Những ý nghĩ tương tự cứ thế luồn lách bò vào trong đầu óc tôi, tôi bị chúng siết chặt lấy không buôn, chẳng biết phải làm sao để xua đuổi chúng đi. Tôi đành chịu chết bất lực, chỉ có thể chờ đợi xem sao, chờ đợi kết cục. Có đôi khi tôi nghĩ, có lẽ tôi chỉ đang uổng công chờ đợi trong vô vọng mà thôi. Nhưng rồi tôi lại gạt phắt ý nghĩ đó đi, hồi tưởng lại những khoảng thời gian tốt đẹp mà tôi và Jimmy từng có với nhau, khi anh nắm chặt lấy tay tôi không chịu buông.
Ngoài dì Đỗ ra, còn có rất nhiều người đến thăm tôi. Thím Cả và thím Mới không tài nào sắp xếp được thời gian để thường xuyên đến thăm tôi. Hoa Sinh chỉ đến một lần duy nhất, sau đó cô ta và mẹ của Tiểu Du lập tức dọn khỏi căn nhà đó rồi biệt tích. Cha tôi tất nhiên không đến rồi, có lẽ ông còn chẳng biết tôi đang bị giam ở xó nào nữa là. Tôi nghe nói bây giờ ông vẫn đang chìm đắm trong những giấc mơ, đầu óc đã bay bổng đến chốn nào rồi. Ông nằm bẹp trên giường, dẫu là mở mắt hay nhắm tịt lại thì hình như cũng chẳng còn quan trọng nữa.
Nhưng rồi có một hôm, tam nương và ngũ nương cùng nhau đến thăm tôi, điều này khiến tôi vô cùng kinh ngạc. Nhưng ngay lập tức tôi phát hiện ra họ mặc toàn thân đồ tang trắng, và thế là tôi hiểu rõ mục đích chuyến viếng thăm của những người vợ của cha tôi là gì rồi.
"Mất rồi sao?" Tôi cất lời hỏi.
Tam nương gật đầu, ngũ nương quay mặt đi chỗ khác. Rồi họ òa khóc nức nở. Tôi cũng khóc theo, trong đầu văng vẳng nhớ lại ngày cha cho tôi cây vàng.
"Lúc lâm chung thần trí cụ rất minh mẫn," ngũ nương nói, "Cụ kiên cường cho đến tận lúc cuối đời."
Tôi gật đầu. Những điều này chẳng qua chỉ là những lời khách sáo thông thường. Tôi cất lời cảm ơn họ vì đã đến báo tin cho mình.
Nhưng tam nương lại bảo, "Thật đấy, trước lúc lâm chung cụ lạ lắm cơ. Thần trí tỉnh táo vô cùng."
"Đúng là một kỳ tích." Ngũ nương tiếp lời.
"Biết đâu bao năm qua cụ vẫn luôn lừa gạt chúng ta," tam nương bảo, "Giả vờ không biết nói chuyện đấy thôi. Cha cháu thâm trầm thật đấy chứ."
"Tao thấy đây đúng là một kỳ tích." Ngũ nương lặp lại.
"Sự tình là thế này," tam nương kể, "Năm ngày trước, tao cũng như mọi khi, bước vào phòng cụ, định đút cho cụ ít cháo loãng. Kết quả là cụ chẳng ăn được bao nhiêu. Ngày nào tao cũng phải cạy miệng cụ ra, nhồi nhét ít thứ vào. Thật tình, cụ còn khó hầu hạ hơn cả trẻ con, nhất quyết không chịu ăn, lại còn hay tè dầm dề ra giường. Sáng hôm ấy tao tức chịu hết nổi, liền gầm lên, 'Quan Âm nương nương ơi, xin hãy để cụ há miệng ra đi!' Đột nhiên, đôi mắt cụ sáng bừng lên, trừng trừng nhìn tao. Tao thầm nghĩ, ừm, chẳng lẽ cụ nghe thấy tao nói gì ư? Tao liền bảo cụ, 'Ăn một chút đi cụ, ăn đi, ăn đi.' Cụ nhìn tao, rồi cất lời, dùngp cho tao ăn chút gì ra hồn xem nào.' Chỉ độc một câu nói ấy, thốt ra tự nhiên như nhiên! Bởi vì ngót nghét gần bảy năm trời, cụ chẳng hề thốt ra lấy một lời — thế mà bây giờ, 'Mau mang cho tao ăn chút gì ra hồn xem nào.' Tao vội vàng nhấc đôi chân già nua chạy cuống cuồng xuống lầu."
Ngũ nương gật gù, "Bà ấy kể chuyện này cho tao nghe, tao còn chẳng thèm tin cơ. Tao bảo, 'Chắc mày cũng đang nằm mơ giống cụ đấy chứ.' Tao nói thế đấy, nghìn phần chuẩn xác chẳng sai đi đâu được."
"Tao liền đi nói với mụ đầu bếp," tam nương kể tiếp, "Vợ Văn nghe tin cũng muốn lên xem thử thế nào. Thế là tất cả mọi người đều kéo nhau lên lầu, mang theo bánh bao, bánh giò, một tô mì lớn, toàn là những món cụ thích ăn. Tao vừa bước vào phòng cụ — ừm! — cụ đã ngủ say mất rồi."
"Tao lại mắng mụ ta một trận," ngũ nương tiếp lời, "'Mày đang nằm mơ giữa ban ngày đấy à.' Đúng lúc ấy tao phát hiện ra cửa sổ mở toang hoác, gió lốc từ bên ngoài lùa ầm ầm vào phòng. 'Mở cửa sổ làm cái gì hả?' Tao vừa cất lời, vừa bước tới bậu cửa sổ. Lúc này cụ tỉnh giấc và cất tiếng nói, 'Cứ để nguyên thế cho tao!'"
"Cái miệng của tất cả bọn tao lúc đó đều há hốc ra y như cái cửa sổ vậy," tam nương nói, "Rồi tao liền đưa cho cụ một cái bánh bao, cụ ăn sạch. Mụ đầu bếp đưa cho cụ một cái bánh nướng lớn, cụ cũng ăn luôn. Thế là vợ Văn vội vàng chạy xuống lầu gọi chồng và con trai cô ta lên xem. Thế là họ kéo lên trên này."
"Tụi tao đều tận mắt nhìn thấy cả đấy," ngũ nương bảo, "Cha cháu đảo mắt nhìn quanh một vòng, thấy mọi người đều đứng sững ở đó, liền cau mày lại. Cụ bảo, 'Đã xảy ra chuyện gì ở đây thế hả? Sao lại trưng cái bộ dạng nghèo hèn bần tiện thế này? Tranh của tao đâu, thảm của tao đâu rồi?'"
"Cụ y hệt như ngày trước chẳng khác tí nào," tam nương nói, "Vô cùng kiêu ngạo, lắm mưu nhiều kế."
Ngũ nương gật đầu, "Tao bảo cụ rằng, 'Tất cả những thứ đó bây giờ bay sạch rồi cụ ơi. Đâu ra lắm tiền thế để mà sắm sửa mấy thứ này nữa.' Cụ bảo, 'Sao lại không có tiền cơ chứ?' Tao bảo, 'Bây giờ thời buổi kinh tế tiêu điều, đâu đâu cũng thế cả thôi, chẳng riêng gì chúng ta. Tiền giấy mất giá lắm, cái giẻ rách trên giường đôi khi còn có giá trị hơn tiền giấy ấy chứ.'"
Cụ bảo, "'Tao đang nói chuyện tiền nong hồi nào đâu. Vàng! Vàng cơ mà! Cái lũ heo các người này!'"
Tam nương vỗ đét tay một cái, "Rồi cháu đoán xem sao nào? Văn Phúc liền cất giọng ngay lập tức 'Vàng gì chứ, làm quái gì có vàng nào ở đây?' Cha cháu liếc nhìn Văn Phúc, hệt như đang nhìn một thằng con rể đầu đất vậy. 'Ngay ở đây chứ đâu!' Cụ bảo, 'Đương nhiên là ở trong cái nhà này rồi. Toàn là vàng thỏi, to bằng ngón tay mày, nặng bằng cả người mày đấy.'"
"'Ối giời ơi! Trong nhà này làm gì có thỏi vàng nào.' Văn Phúc cất lời."
"Thế là cha cháu toét miệng cười, 'Đó là bởi vì tụi mày không biết tao giấu ở xó nào rồi. Từ nhiều năm về trước, tao đã giấu tiệt nó đi rồi.' Rồi cha cháu vỗ vỗ vào đầu. 'Để tao ngẫm lại xem nào — rốt cuộc là giấu đằng sau bức tường nào nhỉ? Hay là ở bên dưới lớp ván sàn nào đây?'"
"Ấy da!" Ngũ Mẫu nói, "Chúng ta lập tức hiểu ngay cha cháu định làm gì. Hành động thế này chúng ta đã thấy rất nhiều lần trước đây, thâm hiểm lắm đấy. Ông ấy đang từng chút một câu nhử hắn, còn Văn Phúc thì giống như một con mèo cắn câu cứ lẽo đẽo đi theo sau, hít hà vồ vập! Khi Văn Phúc hỏi 'Ở đâu? Ở đâu?', cha cháu liền xua tay bảo hắn đi ra. Ông ấy nói, 'Bây giờ ta mệt rồi. Mấy tiếng nữa quay lại, ta nói cho.' Nói xong cha cháu liền nhắm mắt lại, chìm vào giấc mơ tiếp."
"Văn Phúc còn có thể làm sao được?" Ngũ Mẫu nói, "Hắn bảo, 'Chà! Lão già này phát điên rồi!' Nhưng chúng ta thấy Văn Phúc và cha cháu đi xuống lầu. Chúng ta nghe thấy họ đang gõ tường, gõ sàn nhà, đã bắt đầu tìm kiếm rồi."
"Ba tiếng trôi qua," Tam Mẫu dùng giọng run rẩy nói, "Chúng ta lại lên lầu, nhưng cha cháu đã đi mất rồi. Thật đáng thương làm sao! Ta lay ông ấy, nói, 'Sao cơ? Ông tỉnh dậy một lát, mà đi nhanh thế, ông không nghĩ đến người vợ già này chút sao?'"
"Tất cả chúng ta đều khóc, khóc đến là đau lòng." Ngũ Mẫu nói, "Mà cái tên Văn Phúc này thực sự quá đáng giận, đáng giận đến mức khiến người ta không thể tin nổi! Cha cháu còn nằm đó, da thịt chưa nguội, mà Văn Phúc đã bắt đầu đục khoét bức tường bên cạnh giường ông ấy rồi, quá đáng giận!"
"Năm ngày trôi qua," Tam Mẫu nói, "Tất cả tường và sàn nhà trong phòng cha cháu đều bị đục khoét nát bét, Văn Phúc còn định đục sang các phòng khác nữa cơ."
"Còn về phần chúng ta," Ngũ Mẫu nói, "Thì chẳng thèm quan tâm các phòng khác thế nào, cho dù hắn có làm lật tung lên, chúng ta cũng chẳng quản nổi. Ngày mai chúng ta đi rồi, đến ở nhà em trai ta ở Yên Đài. Nó mời chúng ta đi, bọn ta đã đồng ý rồi." Trên mặt bà lộ ra vẻ vô cùng mãn nguyện.
Tam Mẫu và Ngũ Mẫu nói xong liền nhìn tôi, xem tôi nói gì đây. Lòng tôi giống như bị làm đổ hũ gia vị, trăm vị ngổn ngang: nỗi đau thương vì người cha đã khuất, sự tức giận đối với Văn Phúc, nỗi buồn vì Tam Mẫu và Ngũ Mẫu sắp rời đi — tất cả chúng tôi đều thân cô thế cô, không còn hy vọng gì nữa.
"Haizz!" Tôi nói, "Thật là cay đắng nuốt không trôi. Các dì tuổi đã lớn thế này, đến cuối cùng chẳng được gì cả. Thật là thảm hại! Nhìn tất cả tiền tài của chúng ta rơi vào tay một tên khốn nạn như thế, thật là đáng sợ!"
Tam Mẫu nhíu mày, "Trong căn nhà này không có vàng đâu. Chẳng lẽ nãy giờ chúng ta nói cháu không nghe rõ à? Chúng ta hiểu cha cháu chứ, sao ông ấy lại đem vàng để lại cho một kẻ mà ông ấy chán ghét chứ? Lần tỉnh dậy cuối cùng, ông ấy mở một trò đùa nhỏ với chúng ta, để lại cho Văn Phúc một lời nguyền."
"Cứ cho là như vậy, chẳng lẽ căn nhà cứ thế bị hủy hoại uổng công sao?" Tôi hét lên.
"Uổng công á?" Tam Mẫu nói, "Cháu tưởng chúng ta sống cùng Văn Phúc mà không chịu khổ sở chắc? Cháu tưởng chỉ có một mình cháu bị Văn Phúc nắm thóp đấy phỏng? Hiện giờ cha cháu đang dắt mũi Văn Phúc quay mòng mòng đấy, hiện giờ Văn Phúc đang đi tìm giấc mơ của cha cháu đấy, hiện giờ căn nhà này đang sụp xuống đè lên đầu hắn đấy, đâu có chuyện uổng công nào!"
Nhìn này, đây là bức điện tín ta gửi cho cha cháu, ta hỏi ông ấy xem ta có thể sang Mỹ làm vợ ông ấy không. Cháu xem, ông ấy đã giữ lại bức điện tín này, khi nhận được nó ông ấy vui mừng khôn xiết. Nhưng điện hồi âm của ông ấy không ở đây.
Ta kể cho cháu nghe đầu đuôi sự việc thế nào nhé. Chuyện này ta vẫn luôn không dám nói với cháu, ta cứ luẩn quẩn muốn quên nó đi.